Thuần Việt

Chùa Châu Thới

Hàm Anh

Cách đây mấy năm, VN bỗng rộ lên những chữ “ngoại lai”, “thuần Việt”. Đó là lúc người ta bỗng dưng phát giác tượng các con vật bày trước công sở, tư sở, đình đền miếu mạo, khách sạn, cho đến hàng quán, tư gia… té ra đều là ngoại lai. Những con sư tử xuất thân từ châu Âu, TQ bằng đá trắng toát ra vẻ dũng mãnh và dữ tợn tràn lan khắp nơi khiến nhà nước buộc phải ra lệnh trục xuất.

Một công văn của Bộ Văn hóa – Thông tin & Du lịch có đại ý: “Khuyến cáo các tổ chức, cá nhân không trưng bày, không sử dụng, cung tiến biểu tượng, sản phẩm, linh vật và các vật phẩm lạ không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Vận động những nơi đang sử dụng tháo dỡ biểu tượng, sản phẩm, linh vật và các vật phẩm lạ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ra khỏi các nơi công cộng… đặc biệt là các khu di tích lịch sử văn hóa tại địa phương”.

Lệnh tuy ban ra nhưng trong thực tế cũng không được thi hành nghiêm ngặt lắm bởi một pho tượng đá đã chế tác hoàn chỉnh không dưng biết cho ai, khuân đâu để vất. Tự tay cầm búa đập nát một món điêu khắc hoàn chỉnh cũng… tiếc. Mẫu tượng lớn thì thợ còn có thể đục đẽo thành bức tượng kiểu khác nhỏ hơn nhưng với kích thước nhỏ quá thì chắc xay thành vụn.

Thật ra các làn sóng văn hóa trong nhiều thế kỷ đều có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau rất nhiều từ các quốc gia lân cận nên có những lãnh vực, không thể giữ được sự thuần túy. Dù sao nhờ làn sóng “ngoại lai”, “thuần Việt” này dấy lên mà người ta mới nhìn lại, ý thức một chút về thuần Việt.

Một số cuộc triển lãm đã được tổ chức để ai nấy biết rõ hơn về các hình mẫu linh vật thuần Việt. Sư tử, nghê, rồng bằng sành, đá, gỗ, đất nung… từ các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn được trưng bày cho thấy hình mẫu về các loại này cũng rất phong phú. Ví như nghê có sư tử nghê, kỳ lân nghê, long nghê, khuyển nghê được phân biệt tùy hình dạng bên ngoài phảng phất giống sư tử, kỳ lân, rồng hay chó ngao. Thợ điêu khắc từ đây nên trông vào các mẫu thuần Việt mà chế tác.

Ngoài ra còn nhiều linh thú thuần Việt: chim Lạc, vật tổ của cư dân Đông Sơn thời dựng nước, long mã, giao long là cá sấu hay thuồng luồng tùy vùng. Hay những thú mà phần lớn mọi người ngơ ngác mới nghe lần đầu như thao thiết là con vật ham ăn, chỉ có đầu và hai chân trước chỉ sự no đủ. Si vẫn có đuôi cong, đập sóng tạo mưa xuống, trang trí trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn. Nhai tí đầu sói, thân rồng trang trí ở chuôi kiếm tượng trưng cho sức mạnh và lòng can đảm… Ngoài ra còn tiêu đồ, bổ lao… mà kể ra lại nhiều bàn cãi khác nhau về nguồn gốc.

Trong số “ngoại lai” bị than phiền, không có rồng vì linh vật này hiển nhiên chỉ ngự nơi chốn linh thiêng. Chẳng lẽ quán ăn, biệt thự… đặt cặp rồng nhìn không thích hợp do chiều dài thân rồng choán chỗ. Vả lại rồng chưa vi hành bình dân đến thế nên mọi người cũng có phần e ngại. Nếu đã là mộ, dù là mộ ông đồ tể, bà hàng xén… khi sẵn tiền, vẫn có thể tùy ý xây lăng, đắp rồng uy nghi theo đúng mẫu vương triều ngày trước, nhưng với người còn sống, cặp rồng trước cổng là không thể trừ quan chức cấp cao để nhìn vào tỏ ngay uy quyền lừng lẫy.

Đặt linh vật trước cổng, từ xưa, người Việt vẫn có tục ấy. Con khuyển được nuôi để canh nhà, đuổi người lạ thì chó đá cũng được đặt ngay ngắn trước cửa để xua vong xấu vãng lai, giữ bình an cho chủ. Sau này, nhiều biệt thự vẫn thích đặt một cặp chó gốm trên hai trụ cổng.

Tuy nhiên những con chó đá giữ nhà đẽo gọt thô sơ nhiều khi chỉ như vài nét phác họa, thời nay nhìn, có vẻ cũ kỹ, lạc hậu quá, không phù hợp với những ngôi nhà mới xây theo kiểu Tây, kiểu Tàu hoặc lộn xộn lung tung chắp nối đủ kiểu với chóp củ hành của Nga, vòm cong của Pháp và gần đây là mái Thái Lan với cánh cửa hổ phù… Nhà cửa cũng ngày càng cao chót vót, nền 30 mét vuông xây ba, bốn tầng. Chó đá thuần Việt hiền lành quá, giữ nhà sao nổi mà phải thay thế bằng những con vật trông dữ tợn hơn, điêu khắc tỉ mỉ, đẹp mắt hơn. Vì thế chó ngoại mới nhanh chóng hất cẳng chó ta chiếm chỗ.

TQ vốn chỉ đặt sư tử canh mộ nhưng VN, chắc là do vẻ ngoài oai vệ của con vật này nên đặt bất cứ nơi đâu người ta thích. Thợ điêu khắc kiếm ăn rất khá do phong trào tậu sư tử đá về đặt trước cửa nhà, đi đâu cũng gặp sư tử, thường là một cặp. Nơi thờ cúng thường đặt cặp sư tử đực đặt một chân lên hòn châu với nghĩa hý cầu và sư tử cái đặt một chân lên sư tử con xuất phát từ câu lân mẫu xuất lân nhi. Thậm chí sư tử đá chẳng ngại ngần gì mà không nhảy vào đứng chễm chệ trước nhà Gươl của người Cơ-tu!

Sư tử đá xâm chiếm tới nỗi khi nhà nước ra lệnh dẹp bỏ, thợ điêu khắc đâm ra chới với, chẳng biết tìm mẫu ở đâu để không những đơn giản chỉ là sản xuất kiếm ăn mà còn đúng thị hiếu của thị trường người ta mới mua chứ. Ngay như một ông chủ cửa hàng điêu khác đá dù đã làm nghề cả chục năm mà hỏi tới cũng chẳng cách nào phân biệt nổi đâu là sư tử ngoại, đâu là sư tử nội. Làng đá từ trước tới giờ chỉ chuyên sản xuất lân và sư tử, sống khỏe cả chủ và thợ, sau này lao đao là vậy.

Dù sao nhiều nơi sau khi chuyển ngoại lai đi, đã ráng quay về “ao ta” bằng cách rước nghê thuần Việt theo đúng mẫu lấy từ đền vua Lê Thánh Tông hay đại nội Huế… Và nhiều nơi khác, thuần Việt và ngoại lai sống chung đề huề.

Tuy hình mẫu linh vật được trưng bày khá nhiều làm mẫu nhưng lại không được chuộng lắm. Tượng con vật có tính trang trí có thể chen chân vào chốn thờ tự nhưng hình tượng linh thú thật sự thì người ta có phần e ngại không dám rước về nhà. Đó là loại chỉ dành riêng cho thần linh, phạm thượng ngang hàng hẳn là không nên. Không kể nghê đủ loại nhìn vẫn thấy có phần xa lạ và chắc chắn khi chưng nơi đông đúc, hiếm ai biết đó là con gì trong khi sư tử rành rành là sư tử!

Tưởng chừng lép vế vì mất vị trí, thế nhưng các chú chó ta lại nghiễm nhiên lại có giá ở thị trường… đồ cổ. Lại phải đúng dân chơi sành điệu lắm mới tậu được một chú chó ta xưa thật xưa về bày kiêu hãnh trong biệt phủ.

Bày kiêu hãnh vì là đồ cổ chứ những chó ta này hiền quá như chú cún, chắc là chỉ đứng xa xa sủa, xua một chút kẻ gian vặt ở tư gia. Để canh gác chỗ linh thiêng thì vừa thuần Việt vừa phong thái uy nghiêm thì từ ngoài cổng đã có thể long và kỳ lân canh gác, rùa, hạc và phượng chầu trước bàn thờ.

“Thuần Việt” từ lúc nào dường trở nên lạc lõng ở những tòa nhà mới tinh với bê tông, cửa kính… sơn phết hào nhoáng, chỗ dành cho “ngoại lai” thời thượng. Đi tìm cổ truyền sót lại giữa thành phố quả là không dễ. Phải về những nếp kiến trúc cổ kính may ra mới thấy, may ra còn sót lại dăm vị. Dĩ nhiên cũng chẳng nhà ai còn giữ thuần Việt ngoại trừ chốn thờ tự.

Chốn đình miễu không thấy chó đá mà cần những con vật uy vũ hơn để trấn giữ, bảo vệ các bậc thần linh như rồng hay sư tử.

Thế nhưng hình tượng sư tử cũng như một số linh thú lại qua nhiều cách điệu mang tính huyền thoại chứ không phải những con sư tử đúng y hệt ngoài đời như các tượng “ngoại lai” gần đây dễ nhìn dễ hiểu. Có lẽ vì thế sư tử ngoại lai mới nghiễm nhiên xuất hiện nhan nhản nơi tư gia, tiệm kim hoàn… Thợ điêu khắc chỉ chuyên tạo tác các mẫu vật này và lâu ngày, tràn vào đình miễu, trở nên quen mắt tới mức bỏ quên “thuần Việt” từ lúc nào mà chẳng mấy ai để ý.

VN không có sư tử, riêng miền Nam rất quen thuộc với hình ảnh con cọp. Nơi miền đất mới khai phá đầy sơn lam chướng khí, cọp, sấu đầy dẫy chung quanh gây nhiều sợ hãi: Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Vì thế không lạ khi các đền miễu ở miền Nam luôn có tượng hay ảnh của “ông ba mươi”. Riêng sấu, không thấy. Cũng cần nói thêm cá sấu của miền Nam không phải sấu miền Bắc có đầu sư tử đuôi sóc được cho là thoát thai từ loài chồn, cáo, sóc.

Con hổ dữ tợn khi trở thành linh thú thuần Việt cũng có nhiều thay đổi,

Đền miễu VN nói riêng, miền Nam nói chung thường nhỏ xinh, thâm trầm, hiền hòa. Vì thế các con vật canh gác nơi thờ tự, trước hết, hình dáng bên ngoài cần tương xứng với kích thước của kiến trúc. Chùa miễu nhỏ bé mà con vật trang trí canh gác quá to, thậm chí to hơn cả tượng thờ trong điện là điều bất kính. Vì thế voi, cọp, rồng gì cũng nên thu nhỏ thân hình lại bày tỏ sự khiêm nhường, cung kính.

Thêm nữa, khi đã về chầu trước đình miễu, những linh thú này không còn tính hoang dại nữa, nếu không tỏ rõ sự oai nghiêm nhằm hộ tự thì bao giờ cũng thấy vẻ thuần phục, hiền lành.

Từ miền Nam ra Trung hay Bắc quá xa xôi, khó vời được các tay thợ giỏi vào Nam tạc tượng, để kịp thời có tượng cho các nếp cổ tự đơn sơ thì các tay điêu khắc địa phương kịp thời đáp ứng, cây nhà lá vườn, các pho tượng vì thế mà cũng mang vẻ giản dị, gần gũi với người dân cũng như quang cảnh địa phương, không hề mang chút chút xa lạ. Đó cũng là lý do thuần Việt không cạnh tranh nổi với ngoại lai khi nhiều năm tháng trôi qua, bên cạnh thuần Việt thuần túy cần duy trì bảo vệ thì không có phần thuần Việt cải cách, thay đối cho phù hợp với khiếu thẩm mỹ con người đương nhiên thay đổi theo thời gian.

Nắm lấy cơ hội, “ngoại lai” đã làm tốt công việc kinh doanh ấy.

 

Hàm Anh

 

 

Huế

 

 

 

Tin tức khác...