Ruộng muối Long Hải

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Chiều khoảng 3 giờ, chúng tôi thăm khu du lịch Long Hải. Có thể nói, cả nước ngày nay đổ xô vào làm du lịch, khai thác tối đa về bãi biển. Từ Trà Cổ, Ðồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, vào Nha Trang, Cửa Ðại và dài dài các tỉnh nằm bên bờ Thái Bình Dương, nơi nào cũng đang “thi công qui hoạch”, xây dựng những khu nghỉ mát, du lịch, không phải một vài nhà hàng đôi ba khách sạn mà Làng Du Lịch: Mũi Né, Cửa Ðại…, tương tự như ăn nhậu cả làng: làng Nuớng, làng Lẩu…có các công ty nước ngoài vào đầu tư.

Long Hải đang thời kỳ phát triển, bãi tắm có doi cát ra xa, nước cạn. Nhiều nhà nghỉ hai tầng chạy dài giữa lối đi trồng cây cao, trước mặt biển, quán hàng, ăn uống giải khát, có vườn dương và một xóm chài kề phía dưới. Ngay lối vào khu du lịch có Dinh Cô cũng là di tích đáng xem. Dinh Cô nằm trên đồi, cao hơn mặt biển, từ trên Dinh nhìn ra biển, lại nhớ mấy câu trong Kiều:

 Buồn trông cửa bể chiều hôm

 Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Ðôi cánh buồm vài cánh chim, một vùng biển rộng, một mặt trời chiều, cảnh khiến thêm nhớ nhà. Ðúng là “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Từ khu du lịch Long Hải chạy dài, bờ biển đã được chia lô bán, tuy chưa có nhà hàng khách sạn nhưng đã xây tường rào và cổng ngõ đàng hoàng. Người bạn bảo “Ðất đây bây giờ là vàng, Việt Kiều rủ nhau về mua để đó”. Từ Long Hải có con đường mới qua Vũng Tàu, chỉ 10km, đi vòng phải 30km. Con đường “chiến lược” sẽ biến Long Hải thành khu nghỉ mát tầm cỡ, không thua gì Cửa Lò, Sầm Sơn. Khách Tây sẽ đổ về, đời sống có cơ bung ra, nhưng đi về đâu thì khó mà biết được.

Buổi chiều, bến cá làng chài vắng vẻ im lìm. Chụp ảnh xong, quay lại nhà trọ, trời đã tối, nhà hàng đã đông, tôi lại lo lo, cảnh ăn uống mà kéo dài thâu đêm thì nghỉ ngơi làm sao. Chúng tôi cũng lại một bàn, lại lẩu lươn, bò xào, rượu vào lời ra, tôi có dịp ghi thêm bao nhiêu là chuyện nhân tình thế thái. Nhưng, phải khéo léo kết thúc sớm tiệc tùng để sáng mai còn đi chụp muối. Long Hải chưa phải nơi ăn chơi của anh hùng tứ chiến, dân địa phương có rượu chè cũng trong chừng mực, nên không huyên náo như ở Sài Gòn. Mới 10 giờ đêm, quán hàng vơi khách, phố xá êm ả.

Năm giờ sáng trời vẫn còn tối om. Hai chúng tôi mượn xe máy chủ nhà chạy ngược về hướng Thị Xã Bà Rịa, nơi có ruộng muối. Không xa, chừng 5 cây số. Dân cào muối toàn đàn ông, gánh muối toàn đàn bà, họ đi bộ dài dài theo quốc lộ. Trong đêm tối, thỉnh có ánh đèn xe quét qua, họ giống như những phu mỏ mà nhà văn Lan Khai tả trong tác phẩm Lầm Than. Những quán cà phê hai bên đường đã rộn rịp. Chúng tôi ghé vào quán ở ngã ba, dân cào muối mấy chục người, trông họ cần cù nghèo khổ lắm. Họ uống cà phê xem phim Tàu từ chiếc TV có loa ngoài mở oang oang. Phim truyện dài cả trăm bộ mà ở hải ngoại cũng được nhiều người ưa chuộng. Ly cà phê đen 1000 đồng (7cent), gọi là có mùi cà phê, song với dân lao động ngày công 15000 đồng, vậy cũng đã phong lưu rồi.

Hết ly cà phê, trời lờ mờ sáng, chúng tôi theo đoàn người ra ruộng muối, bây giờ đã có nhiều đàn bà với gióng gánh đến nhập bọn. Gióng cụt ngủn chừng 50cm, mủng nhỏ như cái ky thợ hồ, gánh muối trong Nam khác với ngoài Trung. Tôi hỏi thăm một bác có vẻ như “Ðội trưởng”:

– Ruộng muối của tư nhân hay hợp tác ?

– Ruộng nhà nước, mùa tới giải tỏa mở rộng thành phố.

– Bà con làm vầy có khá không?

– Sắp chết chứ khá gì, nhà nước cho giá 3200 đồng ký lô, mà có mua đâu. Dân thì chỉ mua 2000 đồng thôi.

“Bác Ðội Trưởng” trút hết bực tức cho tôi rồi đi lo công việc. Muối chỉ gánh đến 10 giờ, dồn đống lớn, có xe đến chở đi. Muối từ ruộng lẫn nhiều chất dơ, phải nấu lại mới thành muối ăn. Muối cá thì cứ thế mà dùng. Ruộng muối nay có “biến cải”, nước biển đưa vào mương lớn, những máy bơm chạy bằng quạt gió bôm từ mương vào ruộng rồi có những lỗ mội tháo nước từ đám này qua đám khác. Nước vào đủ, trám lỗ mội lại. Nói cho đúng, muối Bà Rịa không bằng muối Hòn Khói (Khánh Hòa), đấy là nói về hình ảnh chứ không phải độ mặn nhạt. Muối Hòn Khói cho hình ảnh bao la hơn, rộn ràng hơn, tấp nập hơn, và ngay cả nhịp điệu thao tác cũng hay hơn.

Chụp các sinh hoạt muối xong chúng tôi chạy thẳng ra bến cá. Bến cá Long Hải là cả làng chài chứ không như bến cá Cù Lao (Khánh Hòa), hay bến cá Mỹ Tho (Tiền Giang), không có cầu tàu , không có nhà kho, nhà chứa. Tàu cá về neo ngoài xa, thuyền nhỏ chở cá vào bờ. Hàng trăm con buôn, với đủ các phương tiện chuyên chở, xe ba gác, xe “cải tiến”, xe xích lô, xe tải, gióng gánh, giỏ bội… Ai nấy trong khí thế nô nức, xông xáo, mặc cả, chia cá, gánh cá, khiêng cá, bốc cá lên xe… cảnh như ngày hội, trên một bãi biển dài cả trăm mét. Lại có một số người không nhỏ buôn bán ăn theo: Xôi chè bánh cháo, nước giải khát đủ loại, dân lao động không phiền hà gì chỗ sạch dơ, miễn tiện cho công việc là được. Trong khi cá chuyển lên bãi để cân cho con buôn thì từng đoàn người vác nước đá cây xuống tàu chuẩn bị cho một ngày mới.

Tôi chưa thấy nơi nào có cảnh cá về tấp nập như vầy, hình ảnh sinh động và muôn trùng đường nét, chụp mê, chụp không biết mệt. Tưởng chuyến đi chơi khơi khơi hóa ra được việc. Ðúng như dự tính, nửa buổi chúng tôi về lại quán trọ trong khí thế của một đoàn quân chiến thắng. Trên đường về, ghé quán Phở Bắc điểm tâm. Không hiểu sao tôi cứ có cảm tình với hai chữ “Phở Bắc”, Phở mà ghép vào với bất cứ chữ nào tôi nghe cũng lạc điệu, nó chỉ loãng ý nghĩa, mất hay. Quán phở không lớn nhưng có cái không khí Bắc Kỳ, tiếng dao băm thịt giòn mà êm, lúc nghe một tiếng “bép’ là thấy ngay bát phở có lát thịt tái thơm ngon trên mặt.

Phần chính của công việc vậy là xong, thì giờ còn lại dành cho “cây kiểng”. Gặp chủ nhà tôi phải nói ngay:

– Trưa nay anh cho ăn rau luộc cá chiên, đừng lẩu nữa. Bây giờ chúng ta ra vườn.

Chủ nhà lại muốn thong thả, rỉ rả trà nước.Tôi phải cương quyết:

– Sau cơm trưa tôi về Sài Gòn, vì mai phải đi Tây Nguyên.

– Gì mà vội thế, chơi bữa nữa, không thì chiều rồi về.

Tôi phải dứt khoát chứ mấy ông nhậu là hay cù cưa mất hết ngày giờ. Tôi kéo chủ nhà ra vườn, anh mang theo kéo cắt cây mới mua. Tôi nói:

– Trong vườn anh có hai loại cây kiểng: Loại kiểng trang trí, có dáng thế nhất định như mấy cây Me, đã có từng tầng lá, cứ thế anh cắt tỉa giữ cho tán đừng lớn quá là được. Loại kiểng thứ hai mang tính nghệ thuật, như mấy chậu Sung, chậu Tùng theo thế Thác Ðổ (cascade). Kiểng này khó hơn, cần biết rõ cách tạo thế mới cắt đúng.

Tôi giảng cho anh thế nào là Thác Ðổ và cắt mẫu một cây. Sau đó anh tự cắt, qua thế Siêu Phong của mấy chậu Juniper, cắt sao tạo được dáng mạnh mà cây không ngã. Chỉ hơn tiếng đồng hồ, anh đã giải tỏa được mọi thắc mắc và tỏ ra bạo dạn trong cung cách chơi. Sau bữa cơm trưa, tôi cáo từ. Anh nài nỉ mấy cũng không ở. Anh vội vã chạy ra bến xe dặn tài xế ngang qua nhà đón chúng tôi.

Kết thúc chuyến đi “thành công tốt đẹp”. Nhiều nơi tưởng không có gì lại có nhiều thứ. Mỗi lần đi mỗi lần có thêm cái mới, cái lạ. Ðời là một chuyến đi dài. Tôi lại nhớ một câu của “triết gia” nào đó:

“Thương cho những ai sinh ra trong nhà thờ và chết tại nhà thờ”.

 

 Trần Công Nhung

 

 

Tin sách

Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50%).

Từ 18/10 phát hành 2 tác phẩm mới: Vào Ðời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả:

Email: trannhungcong46@gmail.com

Tel. (657)296-8727

 

 

Tin tức khác...