Quanh Thành Nhà Hồ

Bài và ảnh: Trần Công Nhung

 

Trong khuôn viên thành Nhà Hồ là cánh đồng ruộng vừa cấy xong chừng hơn tháng, lúa đang phát màu xanh. Con đường đất băng ngang giữa đồng chạy ra cửa Ðông và cửa Tây. Cửa Ðông, cổng uốn nóc vòm, ngoài thành làng mạc thưa thớt, nhà cửa lụp xụp, chắp vá nửa ngói nửa tranh. Ðối diện cửa Ðông, có Ðình Ðông Môn, ngôi đình xưa năm gian khá lớn, nhưng bỏ hoang, nhiều cây trụ chống đỡ tạm bợ, một cơn gió to có thể xô ngã bất cứ lúc nào. Dân làng bảo: “Ðang xin ngân khoản để tôn tạo”. Tôi thầm nghĩ: “Chắc đợi dịp nào đó có UNESCO đi qua, họ thương tình giúp cho chăng”. Có nhiều Hội Ðồng Xã, Công An Xã, bộ máy hành chánh không bao nhiêu nhưng xây tòa ngang tòa dọc, lầu hai ba tầng, trong lúc biểu tượng của sơn hà xã tắc thì hoang phế không ai màng, nhà thương trường học rách nát, cứ chờ bàn tay ngoại quốc (Nhật cho một loạt các trường cấp hai).

Cạnh góc đình mấy bà già xúm nhau một đám như họp chợ, nhưng hàng họ chẳng có gì, đôi ba nải chuối, mấy bó rau, tôi thực sự không hiểu làm sao để sống qua ngày. Nơi đây chỉ đứng trên cầu cửa Ðông nhìn dòng sông nhân tạo phủ rợp bóng tre xanh là đẹp. Không hiểu sao, với tôi, bờ sông, bờ hồ, bờ ao mà hễ có bóng tre là bao giờ cũng đẹp, màu xanh vàng của lá tre vừa ấm vừa dịu dàng, không lạnh khô như màu lá chuối.

Ngoài cửa Tây là làng Tây Giai, nhà cửa hầu hết còn lại từ thời xưa, vách tường thấp tịt, san sát nhau, đường làng sỏi đỏ nhỏ hẹp, trông rất “phố cổ”. Tôi đi vòng vo trong xóm tìm ngôi nhà xưa, người chỉ ngược kẻ chỉ xuôi, mãi mới tìm ra. Trong khi đi loanh quanh lại chụp được nhiều ảnh “có tính nghệ thuật cao”, hên thì nơi nào cũng hay. Nản nhất là mất thì giờ mà chẳng làm được việc gì.

Căn nhà của anh chị Phạm Ngọc Tùng, lợp ngói vảy cá mỏng, 3 gian, cột kèo rui trến đều bằng gỗ quí, chạm trổ tinh vi. Nhà có hàng ba hai lớp, hai hàng cột trên tán đá xanh. Những cánh cửa bàn khoa chạy chỉ hoa văn, mộng ráp sít sao. Sân gạch Bát Tràng rộng rãi.. Trước nhà có treo bằng tưởng lệ (Award of Merit) của UNESCO Thái Bình Dương, thưởng chủ nhà là anh Phạm Ngọc Tùng. Ðây là một trong 6 ngôi nhà trong cả nước, được UNESCO chọn làm “di sản thế giới”. Tôi đang quan sát thì có người đàn bà từ nhà dưới bước ra.

– Chào chị, chị là chị Tùng, chủ căn nhà này?

– Vâng. Thưa có chuyện gì không ạ?

Người đàn bà tỏ ra lo lắng tôi vủi vẻ nói ngay:

– Không có gì đâu, chúng tôi muốn xin phép thăm ngôi nhà.

– Vâng, mời bác.

Trong nhà bàn ghế bình thường, đồ đạc đơn sơ. Nhìn lên các đầu cột, nét chạm Rồng Mây rất sắc sảo. Thấy có hai màu gỗ tôi hỏi chủ nhà:

– Hình như căn nhà có một phần làm lại?

– Không ạ, nguyên như vậy, chỉ mái trước có thay ngói.

– Sao thấy gỗ mới?

– Ðấy là thợ họ nạo chùi thành như mới.

– Nguyên do nào mà nhà chị được tu sửa?

– Dạ, tự nhiên có mấy ông Nhật đi nghiên cứu gì đó họ vào thăm, điều tra lai lịch căn nhà, rồi đề nghị cho họ sửa sang lại. Cột nay có tán (đế) đá, dưới chân cột đổ xi măng.

– Thợ mình kêu hay của họ?

– Dạ, mọi thứ do họ tất. Họ đưa thợ từ Bắc Ninh vào, ngói gạch họ đặt làm y như của hồi trước. Họ dỡ toàn bộ ngôi nhà, sửa xong ráp lại.

– Căn nhà có từ hồi nào?

– Dạ, từ thời Sơ, Cố để lại cũng trên 200 năm.

– Chị biết tốn kém tu sửa bao nhiêu không?

– Dạ, nghe nói cả tỉ bạc.

– Khi họ giao nhà lại cho chị, họ có bắt làm giấy tờ gì không?

– Dạ, không, họ bảo ở quét dọn sạch sẽ thỉnh thoảng họ đến thăm.

Mấy người lối xóm nghe tiếng kéo đến dòm ngó, lại xin chụp ảnh cho mấy đứa nhỏ, tôi bấm nhanh cho họ mấy tấm rồi giục anh xe lên đường.

– Bây giờ mình về đền Trần Khát Chân.(1)

Nhìn đồng hồ mới 10 giờ, tôi yên tâm “đúng kế hoạch”. Không xa, ra khỏi thôn Tây Giai đã thấy một ngôi đền nhỏ bên đường. Một người đàn ông trông có vẻ cán bộ hưu, giữ Ðền, tôi xin vào thăm, hỏi mấy câu chụp ít ảnh rồi đi. Ông Từ cứ mời “ngồi xơi nước”, nghe sốt cả ruột. Nhưng, hỏi kỹ, đây nguyên là Ðình Tam Tổng, thờ Thần Hoàng, đình đã có từ mấy trăm năm, mới được tôn tạo và thờ cả Trần Khát Chân. Ðền Trần Khát Chân ở phía dưới một quãng. Ðền dựng trên nền cao có vẻ cổ kính chững chạc hơn. Thấy chúng tôi, có mấy ông ra chào và hỏi giấy tờ. Họ bảo phải có giấy giới thiệu của Văn Hóa mới cho chụp ảnh. Tôi nói lấy lòng vì không biết “pháp lệnh” về việc tham quan. Một ông đưa tôi vào xem bàn thờ ngay trên ngôi mộ trong Ðền, mũ trận, áo trận của Trần Khát Chân còn giữ lại đến ngày nay. Rất tiếc không sao chụp được ảnh. Họ chỉ cho chụp một hai ảnh bên ngoài và cho biết 2 cây Muỗm bên hông Ðền, đã 600 năm tuổi.

Về tướng Trần Khát Chân, dân địa phương có truyền miệng, rằng lúc bị Hồ Quí Ly chém, ông nhặt đầu ráp lên rồi phi ngựa chạy, lúc gặp một bà già ông hỏi: “Ta bị chặt đứt đầu, sống hay chết”? Bà già trả lời “Chết”. Và xác ông nằm ngay chỗ Ðền bây giờ.

Rời đền Trần Khát Chân, về đền Chúa Trịnh Sâm. Rút kinh nghiệm vừa rồi, tôi đi thẳng vào chụp ngay mấy tấm, vừa xếp máy là có ba ông bước ra, vẻ mặt không mấy thiện cảm, hạch hỏi đủ thứ. Tôi giả vờ hỏi qua sự tích Ðền, và được biết ngày trước đây là kho lương thực, nơi dừng chân của quân lính. Có lẽ đúng vậy, vì lối kiến trúc không giống các Ðền khác, chỉ một nếp nhà dài. Tôi nói “nịnh” mấy câu rồi bấm anh xe chuồn gấp, vì nhìn ánh mắt xoi bói và có vẻ hung hăng của mấy ông cán bộ thì không nên dừng lâu. Ðể các ông lục vấn lại rách việc. Thay vì chạy về thị xã, anh xe ôm gạ tôi đi động Tiên Sơn. Anh quả quyết:

– Ðộng này mới tìm ra năm rồi, đưa lên TV đẹp hơn cả Phong Nha. Mà động này ly kỳ lắm.

– Anh bảo ly kỳ là sao?

– Năm ngoái có nhóm học sinh rủ nhau đi chơi lúc về thì mất một đứa. Gia đình hỏi ra, biết các em đi chơi núi nên cho người nhà đi tìm. Tìm mấy ngày mới biết em này lạc vào trong động. Thông Tin Văn Hóa hay chuyện đến điều nghiên và khám phá ra động mới xưa nay chưa ai biết.

– Như vậy không phải động Từ Thức? Thanh Hóa, động Từ Thức mới nổi tiếng, mà động Từ Thức thì ở huyện Nga Sơn.

– Dạ động này còn đẹp hơn.

– Có xa không?

– Dạ, 10 cây.

– Ðược thôi ta đi.

Nửa đường tôi biết anh xe xạo, vì 15 cây số rồi mà hỏi động người ta còn bảo mấy cây nữa. Ðường càng lúc càng xấu, có chỗ xe đang ủi lấy mặt bằng. Quanh co cuối cùng thấy có tấm bảng “Thắng Tích Tiên Sơn”. Vất vả lắm mới tìm ra được cửa hang. Ðộng xây miệng ra cánh đồng trắng nước, một vài người chống thuyền kéo cá. Nhìn bên ngoài cảnh hoang phế chẳng có gì là thắng cảnh, tôi bước gần đến cửa động định chụp vài tấm ảnh, thì nghe tiếng quát tháo của một người đang chống chiếc ghe câu ngoài xa. Anh ta nạt nộ ra vẻ oai lắm:

– Các ông chụp hình làm gì có giấy phép không?

Sẵn đang bực mình anh xe, tôi cũng to tiếng lại:

– Anh là ai mà to tiếng?

– Tôi là người trông coi ở đây.

– Vậy anh phải có bàn ngồi ở đây tôi mới biết mà trình, chứ anh là tên câu cá ai biết?

Tôi thúc vào hông anh xe, bảo chạy gấp trước khi tên kia vào bờ.

Về thị trấn Vĩnh Lộc, may mắn gặp lại chiếc xe lúc sáng, đây là chuyến chót đi Thanh hóa. Tiền xe ôm 50 nghìn, 36 km chạy đi động Tiên Sơn chẳng tích sự gì, lại bực mình và mệt thêm.

Ði nhiều nơi, tôi chưa gặp địa phương nào như ở đây, Ðền Miễu, Hang Ðộng đều phải có giấy giới thiệu của Thông Tin Văn Hóa mới được “tham quan”. Không để bảng cấm nhưng chụp hình thì “pháp lệnh” không cho. Muốn hiểu cũng không sao hiểu, tiền thì muốn thu, muốn khách du lịch đến cho nhiều, đồng thời vẫn giữ thói sách nhiễu. Chụp ảnh một dòng sông, một ngọn núi thì bổ béo gì mà phải vất vả như thế. Nếu không vì tình cảm quê hương thì chẳng ai dại gì đi du lịch cái xứ sở ô nhiễm, lạc hậu, lại còn rầy rà thủ tục cho mệt thân. Một người mới quen, nghe tôi than phiền, anh nói tỉnh bơ: “Ông nên biết, một nghị quyết, sáng đúng chiều sai, mai lại đúng. Nên, khôn chết, dại chết, biết sống”. Nhưng thôi:

“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”

Trần Công Nhung

____________________________

(1)Trong sử liệu, và ngay địa phương viết Trần Khát Chân, đa số lâu nay viết Trần Khắc Chân.

 

Tin tức khác...