Quãng đời trên dốc đổ

Saigon tháng 7, 1987

…Cuối cùng tôi cũng lê được cái xe đạp cà tàng với những thứ lỉnh kỉnh buộc ràng treo móc trên nó lên đến đỉnh dốc cầu chữ Y cao nghệu.

Dừng lại đây trong tư thế nghỉ… trên yên xe; chân co đặt trên bàn đạp, chân duỗi chống xuống lề đường tôi khoan khoái gởi theo gió sông lồng lộng chút mồ hôi đang bắt đầu ráo bớt trên lưng chiếc áo nhà binh sờn vai thân thiết.

Trong túi còn lại điếu thuốc cuối cùng, tôi đốt nó lên tự thưởng cho mình. Từ Phú Xuân Hội với chiếc xe đạp tả tơi về đến đây kịp trước khi trời tối quả là một kỷ lục, thực tế hơn, một điều may mắn cho tôi.

Mặt sông gờn gợn chút ánh sáng trăng trối của một ngày đã tàn; màu đen đục sanh sánh gớm ghiếc của nước sông được hòa lẫn vào bóng tối; khúc sông nhờ vậy trông cũng mát mắt với những người đang mỏi mệt và không khó tính lắm.

Giờ này thành phố đang ngọ nguậy lên đèn.

Những người đi làm vừa về đến nhà đang bận… thở để lấy lại sức chờ đợi nạp thêm chút năng lượng qua bữa cơm chiều khiêm tốn để sáng hôm sau lại ra khỏi nhà lao vào cuộc săn tìm cơm áo. Những người muốn giải trí buổi tối còn đang ở nhà vì cũng còn khá lâu mới đến giờ của những cuộc vui “tụ điểm… văn hóa” đang được tổ chức nơi này nơi khác trong thành phố cho nên đường sá cũng không đến nỗi nhiều xe cộ lắm.

Hạnh phúc bao giờ cũng ngắn ngủi; điếu thuốc của tôi đỏ rực vì gió sông và những hơi “rít” tham lam của gã chủ nhân phàm tục đã nhanh chóng ngắn đến mức không thể cầm trên tay được nữa!

Giữa lúc… hương lửa đang nồng nàn như thế, cuộc chia ly thật là tức tưởi! Từ những ngón tay tiếc nuối của tôi, tàn thuốc bay bổng lên cao, vẽ lên cái nền nhá nhem của bóng tối một nét phác đo đỏ mơ hồ. Cái chấm đỏ hồng ấy như ngập ngừng trên không rồi từ từ đổi hướng, sau cùng sáng rực lên quả quyết lao thẳng xuống mặt sông mất hút như một tinh cầu nhỏ âm thầm bay vào vô tận.

Tinh cầu! Tinh cầu!

Có một thuở, đâu xa xôi gì, tôi đã từng là một tinh cầu bay trong tiếng hát quân hành hùng tráng, “…ta là tinh cầu bay trong thiên thanh… ”

* * *

Ngày đó, ngày đó…

Chúng tôi hơn hai trăm “tinh cầu” trẻ măng đầy nhiệt huyết, ưỡn căng lồng ngực thanh xuân gởi lên không trung lộng gió quân trường, tiếng hát và ước mơ sống hào hùng của mình… “Giờ từng đoàn người vượt qua biên giới quyết chiến đấu, đã chiếm chiến công ngang trời…”

Chúng tôi, những cánh chim lẻ… tẻ vừa rời xa mẹ, từ khắp các miền của đất nước bay về hợp thành một đàn đông đảo ríu rít tập tành đời quân ngũ vừa vui chơi cắn mổ lẫn nhau; vừa cùng đổ mồ hôi hấp thụ nắng mưa, gió cát các quân trường Quang Trung, Thủ Ðức và Nha Trang để có thân thể cường tráng hơn, tinh thần cương nghị hơn và đôi cánh soải rộng hơn mà nhận lấy cho mình những trọng trách cao cả, thiêng liêng đầy hãnh diện: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”.

Chúng tôi, đàn chim trưởng thành, đã một thời cùng thao thức băn khoăn trước những nan đề của tổ quốc; cùng cặm cụi kề vai nhau gánh vác những nhọc nhằn của một quân chủng kỹ thuật hiện đại.

Ðàn chim ấy từng sát cánh bên nhau dọc ngang bay bổng trên không trung; vẫy vùng nhào lộn giữa đường ranh sinh tử, chia nhau đến cả lửa đạn của đối phương, và kể cả nhiều lần cùng nhau ngậm ngùi, đau đớn ghim vào tim mình từng mảnh băng tang bè bạn!

Thế rồi sau cơn bão tố nghiệt ngã của lịch sử dân tộc, đàn chim ấy đã tan tác bôn ba khắp bốn phương trời. Bây giờ trên mặt… cầu chữ Y này chỉ còn có tôi, một cánh chim lẻ loi cô độc.

Cánh chim lạc đàn lẻ loi chấp chới trong tà dương thoi thóp là một hình ảnh thê lương! Còn thê lương hơn nữa khi cánh chim đó thậm chí không thể chấp chới trong tà dương thoi thóp! Tôi chỉ là con “chim cánh cụt” (nick name của không quân làm việc dưới đất, nhất là các ngành kỹ thuật) cô đơn… lạch bạch tìm về kỷ niệm.

Tôi nghe mơ hồ từ sâu thẳm trong lòng mình tiếng gọi thê thiết, tuy vô thanh mà như lạc giọng rồi sau cùng vỡ oà nức nở! “Tụi mày đâu hết rồi? Tao nè! Dũng Rùa nè! Kiwi 2 gọi Kiwi, tao đang đứng trên dốc cầu chữ Y nè!”

Sao không đứa nào trả lời?

Sao thế? Sao thế?… Sao… thế…!!!

* * *

Một chiếc xe vận tải chở thật nặng lặc lè chạy qua, chiếc cầu rùng mình một thôi dài lôi tôi trở về thực tại. Tạm biệt phút hồi tưởng bạn bè tứ tán, tôi phải tiếp tục hành trình về “tổ ấm” sau mấy tuần sống lang bạt.

Ðã hơn hai mươi ngày qua tôi lăn lóc ở Phú Xuân Hội, Nhà Bè với một công việc mưu sinh lạ hoắc: Xây lò nấu muối!

Công việc này làm dài… thòn thêm danh mục những việc làm “kỳ ngộ” tôi đã trải qua từ ngày được thả về từ một nơi giam hãm con người có tên gọi là “trại cải tạo”.

Những việc làm… kỳ ngộ thật ra chỉ là những việc chân tay đơn giản thường là ngắn hạn hay rất ngắn hạn tôi đã gặp, đã làm trong vài ngày, vài tuần cốt để mưu sinh thu lượm được chút nào hay chút nấy cho gia đình.

“Kỳ ngộ” chỉ là cách cưỡng ép, buộc cặp hai chữ kỳ quặc và ngộ nghĩnh lại với nhau chứ thật ra chả có gì là… lãng mạn! Cuộc đổi đời o ép tôi đủ cách, tôi đành như con dế bé mọn sống chui nhủi; chả o ép được ai thì tôi o ép chữ nghĩa chút đỉnh cho đỡ buồn vậy thôi!

Những lò nấu muối tôi xây là của vài tư nhân có hợp đồng với ngành thương nghiệp của địa phương để chế biến muối “hột” thô bẩn ra muối “bọt” thường dùng. Họ thuê một ông thợ chánh bao thầu việc xây dựng, và qua sự giới thiệu của một bạn học cũ có bà con xa lắc tí tè sao đó với ông ta tôi được nhận cho làm việc.

“Công trường” xây lò là một bãi đất trống gần con rạch lớn tiện việc chuyên chở nguyên liệu cũng như sản phẩm. Thân lò bằng gạch thẻ, bên trong lò dùng vữa bằng đất sét bột, bên ngoài dùng hồ xi măng. Lò được đốt bằng trấu thay cho các thứ nhiên liệu khác, kể cả than và củi đều đang khan hiếm vì những lý do ai cũng hiểu chỉ trừ nhà cầm quyền.

Vì đốt bằng trấu và lại muốn… ưu việt tận dụng nhiệt nên lò có kết cấu kềnh càng khá phức tạp ngoài ống thoát khói, và buồng đốt, lò còn có ống nạp trấu, ống thu hồi nhiệt, hộc tháo tro v.v… khiến lò có kích thước hơi quá… “hoành tráng” so với công dụng đơn giản và công suất dù đã khiêm tốn nhưng vẫn đáng… ngờ của nó!

Chú Tư, ông thợ chánh, tôi gọi theo cách của người bạn giới thiệu tôi, là người ngoài Cần Giờ, hơn tôi chừng mười tuổi, tánh tình xởi lởi đến mức… bộp chộp; làm tới đâu “đầu tư suy nghĩ và sáng tạo” tới đó! Ông rất “quán triệt” tinh thần “tiến công” vào… kỹ thuật. Biết hay không biết cũng làm; đúng sai… hậu xét và “sai đâu sửa đó”!

Giữa ông với ông thợ phụ, đồng hương kiêm bạn nhậu từ Cần Giờ mà ông đem theo đi làm, có một giao ước bất thành văn: ông thợ phụ lẳng lặng “ôm show” tất cả các vụ… “sửa đó” để giải quyết những gì “sai đâu” do ông thợ chánh để lại trên “công trường” lúc nào cũng ngổn ngang hơn cả một bãi… chiến trường.

Tôi làm… thợ vịn kiêm “tà lọt” sai vặt cho cả hai ông thợ khi xây cái lò đầu tiên: Ðầm đất làm nền, dựng cột kèo lợp mái, trộn hồ, bưng gạch và kể cả việc mỗi ngày hai lần cuốc bộ cỡ 200 mét tới quán cơm kiêm quán nhậu kế bến đò ngã ba sông để mua cà phê thuốc lá cho họ.

Quán này là nơi hai ông “sếp” của tôi ăn buổi trưa và nhậu nhẹt sau mỗi buổi chiều ngưng việc; cũng là nơi tôi lua vội dĩa cơm trưa và mua hai gói mì cho buổi tối ngủ lại một mình “bảo vệ” công trường.

“Gặp thời thế, thế thời phải thế!” Tôi chả lấy chuyện bị sai vặt cà phê thuốc lá như vậy làm phiền, nhưng cái điều làm tôi khó chịu là vì mỗi khi đi “công tác” tới quán, tôi phải đem theo một hai câu nhắn huê tình ngớ ngẩn của chú Tư gởi bà chủ quán mà chú luôn luôn nhấn mạnh một cách đầy hứng khởi là phải lập lại với bả nguyên văn không được thiếu chữ nào cũng như phải ghi nhận không được thiếu sót chút gì nội dung “hồi báo”.

Bà chủ quán bờ sông cỡ gần 40, chả biết đã mấy con nhưng trông rất mòn con mắt cũng như… nhiều thứ khác! Hẳn bà biết mình được… “thiên nhiên ưu đãi” và biết sử dụng “tài nguyên thiên nhiên” của mình một cách khôn khéo nên có vẻ vững chãi trong thời buổi đã lắm chông chênh mà lại ở tận một nơi heo hút thế này.

Qua cách trả lời của bà cho những “thông điệp” do tôi đành phải đem đến, tôi biết là bà khó chịu nhưng cũng chịu… khó đẩy đưa cho khỏi mất lòng ông khách được biết là nhà thầu “đối tác” gì đó của Phòng Thương Nghiệp Huyện.

Phần tôi trên lối về công trường phải nhọc lòng… uống bớt mỗi ly cà phê đá vài hớp cho… khỏi đổ, đồng thời để… lấy cảm hứng mà “ê đít” lại các câu trả lời của bà chủ quán cho bớt chói tai để “sếp” của tôi được “yên tâm công tác”.

Khi bắt đầu xây qua cái lò thứ hai trở đi tôi thình lình được lên chức thay cho ông thợ phụ nghỉ việc vì đạp phải cây đinh 7 phân sét xẹt nằm… phục kích trong ngổn ngang gò đống của… công trường!

Chú Tư mướn một thanh niên lù khù trong xóm thay chân tôi làm… tà lọt kiêm liên lạc viên… ái tình để tôi kế tục nhiệm vụ của người “giữa đường gãy gánh”.

Bị mất người phụ tá, chú Tư bỗng thay đổi tác phong, bớt “mạnh dạn sáng tạo” và đi đứng cẩn thận hơn. Ông lại còn thay đôi giày vải màu gạch kiểu Bata, do Ba… Tàu Chợ Lớn làm, bằng một đôi botte de saut cũ để đề phòng đạp đinh; tôi không còn cơ hội nào “đặc cách tại mặt trận” lên chức… thợ chánh trong suốt hai tuần còn lại để xây thêm ba lò nấu muối nữa!

Khi công trường hoàn tất, tôi chỉ được lãnh tiền công hai trong ba tuần lễ làm việc vì chú Tư không có đủ tiền để trả cho tôi! Là thợ chánh, kiêm “chủ thầu xây dựng” ông tùy hứng lấy tiền ứng trước nhiều quá để… vung tay quá trán nhậu nhẹt với các quan viên “quản lý kỹ thuật” của ngành thương nghiệp huyện cũng như với ông thợ phụ trước lúc đạp đinh.

Ông biểu diễn chi đẹp và hào phóng cốt mong chiếm được trái tim và các thứ trái mơn mởn khác của bà chủ quán… trồng ở vườn sau nhà bà. Chuyện tình cảm lãng mạn ở lứa tuổi nào cũng có, tôi đâu muốn bình phẩm làm chi, chỉ phiền nỗi khi không mà tôi biến thành nạn nhân của vụ “thâm thủng ngân sách” gây ra bởi một người hơn 50 tuổi đang… yêu.

Ðể đền bù khoản tiền công phải trả, ông cấn một đống đồ nghề “thập cẩm” cho tôi và tuyên bố bỏ nghề không cần về… Cần Giờ nữa mà sẽ ở lại “hợp tác” với bà chủ quán nới rộng cơ ngơi của bà de ra mé sông để vừa mở rộng kinh doanh vừa làm nơi thưởng thức phong cảnh cho “hai đứa”(!)

Ðó là lần đầu tiên trong đời tôi được biết một người ở tận Cần Giờ mà lãng mạn… tận mạng tới mức hoang tưởng khiến dân Saigon phải chào thua!

Tôi không biết bao giờ sẽ có dịp dùng đến những đồ nghề đó, nhưng biết chắc chú Tư sẽ cần tới chúng trong một thời gian ngắn khi bà chủ quán, nói cho ông biết bà không thể “hợp tác” với một người vừa bỏ cây bay xuống là nhậu, thủ thỉ vào tai bà những câu bà từng nghe trong các tuồng cải lương của đoàn hát Phước Cương trong chồng dĩa hát của hãng dĩa Hoành Sơn ông ngoại bà mua hồi mới cưới bà ngoại!

Tôi từ chối nhận phần “gia tài nghề nghiệp”… vô điều kiện, nhưng ông cự nự gì đó cho là tôi… trù ẻo cuộc tình đang chớm nở của ông! Bởi thế trưa nay giã từ “công trường” xây lò nấu muối để về nhà, tôi chúc phúc cho cuộc tình… hoang tưởng của ông bằng cách chở về theo trên xe đạp của mình những búa lớn, búa nhỏ, bay, đục to bé đủ loại, xà beng, thùng xô, xẻng, cuốc treo móc buộc ràng ở tất cả những nơi có thể.

Về tới cầu chữ Y, chúng tôi – tôi, đống đồ nghề và chiếc xe đạp – đã vượt hơn 30 cây số đường dài.

* * *

Từ đây về đến nhà chỉ còn ngót mười cây số nữa.

Lên đường nào!

Hãy bắt đầu bằng cú đổ dốc khỏe re cái đã; hào khí quân trường vừa hồi tưởng hãy còn bàng bạc đâu đây, “Giờ từng đoàn người vượt qua biên giới quyết chiến đấu…”; tôi lẩm nhẩm hát cho chiếc xe đạp thâm niên công vụ nghe hành khúc quân chủng thân thiết của mình.

Chiếc xe già xem ra có vẻ rất biết thưởng thức, nó lăn bánh một cách hăng hái. Cao hứng theo chiếc xe đang lao xuống dốc nhanh dần, tôi hào hứng hát to hơn.

Ðến câu “đi không ai tìm xác rơi”, một liên tưởng gì đó diễn ra thật nhanh trong suy nghĩ của tôi làm tôi nhớ ra là cái thắng duy nhất trên xe đã bị đứt lúc mới khởi sự đạp về! Hào khí ngất trời của tôi vì lý do… kỹ thuật phải tạm ngưng trong giây lát để tôi tìm cách làm chiếc xe chạy chậm lại.

Chân phải tôi bị vướng cái thùng xô bằng sắt đựng đồ nghề treo từ “ghi đông” dòng xuống nên tôi phải dùng chân trái ép mạnh đế dép lên bánh trước xe để hãm cho chiếc “chiến đấu cơ” của mình “bay” chậm lại.

RPM bánh trước có giảm xuống chút ít nhưng Temperature… L. dép bên chân trái tăng nhanh vì đôi dép mỏng tanh (đã mòn đến mức có thể… cạo râu ) bị bánh xe quay nhanh cọ sát.

Chiếc xe vẫn lao nhanh, tôi lách… cái vèo ngay trước mũi một người lái xe gắn máy có quanh người hắn nguyên một cái… vỏ xe vận tải nặng nề to tướng để vượt… cái ào qua mặt một người mẹ trẻ chở đứa con chừng 4 tuổi trên chiếc xe đạp mini đang thận trọng đổ dốc.

Tôi lãnh nguyên một tràng những lời không êm ái của gã lái xe gắn máy bự con có cái vòng “hula hoop” to tổ bố! Vì dầu là xe đạp nhưng xe tôi vẫn… oanh liệt không để cho gã lái chiếc gắn máy đó qua mặt trên một quãng khá dài, tôi và hắn chạy song song nên những điều thốt ra từ cái mồm ông ổng của gã chui… thẳng vào tai tôi không sót chữ nào!

Bình sinh tôi vẫn có “duyên” biến thù thành bạn; tôi có nhiều hy vọng biến kẻ đang chạy song song chĩa “loa” chửi rủa ngay tai mình thành bạn bằng một câu giải thích “nỗi niềm” rồi xin nắm vào cổ tay hắn để hắn cho xe chạy chậm dần rồi ngừng lại thì tôi… hạ cánh an toàn ngay.

Nhưng khổ nỗi! Cái vỏ xe hơi to tướng, cái “hula hoop” cồng kềnh quanh bụng hắn chắc chắn không cho phép “hai chúng tôi” xáp lại gần nhau; có lẽ trời còn muốn thử thách tôi hơn nữa! Tôi đành để tan biến vào dòng đời con người có thể thành bạn tôi cùng câu sỉ vả thứ nhì hắn mới nghĩ ra và tận tình ngoái cổ lại… lưu luyến gửi đến tôi!

Trong lúc bị phân tâm vì lạng (…quạng) như phi cơ lắc cánh out vô tuyến thì chiếc dép chân trái tôi bung quai bị bánh xe giằng khỏi chân ném mạnh về phía trước; bàn chân tôi bị mài mạnh rát bỏng phải rời khỏi bánh xe đang quay tít. Bánh trước được… “nhả thắng” chiếc xe lao nhanh hơn nữa trên nửa còn lại của con dốc.

Ðến nước này tôi phải chuẩn bị có khi cần phải làm một cú… đáp khẩn cấp không chừng; tôi quan sát thật nhanh bờ lề trước mặt; tất cả các “pilot… xe đạp không phanh” dù vì bất cứ lý do gì cũng biết được biện pháp xử trí… kinh điển trong trường hợp này là chà lết chân dép bên phải lên lề đường.

Thật không may! Lề đường đang… tấp nập những người đi bộ, người dắt xe đạp và nhất là một tốp bốn năm phụ nữ cách khoảng nhau vài thước, mỗi người trên vai nhún nhảy một gánh chè cháo gì đó để lên đỉnh cầu bán cho người qua lại dừng chân nghỉ mệt. Các bà gồng gánh trông đầy vẻ hăng hái sẵn sàng cho một buổi hàng đầy hứa hẹn. Tôi mà rê vào lề đường với tốc độ này thì sẽ quét… “xâu táo” bốn năm gánh cơ nghiệp kia ngay!

Cứ nghĩ tới cái cảnh chè cháo, đậu đỏ đậu xanh, lòng heo lòng bò, bánh lọt nước cốt dừa trộn lộn xà ngầu với nhau lênh láng trên lề đường, chung quanh là bát đĩa nồi niêu chén muỗng vỡ bể tứ tung mà sởn ốc. Hình ảnh mới rùng rợn và bi đát xiết bao!

Cuộc sống tần tảo đong gạo ăn từng ngày của mấy gia đình buôn gánh bán bưng này sẽ xáo trộn và khó khăn đến đâu khi họ thình lình bị cụt vốn vì tai nạn do tôi gây ra mà không đủ sức bồi thường lập tức.

Không đâu! Các bà gánh hàng rong thân mến!

Không! Tôi không muốn làm ai phải thiệt hại; tôi thà chọn cho mình cái… chết.

Các bà cứ yên chí, tôi thề không làm rộn cuộc sống tảo tần lương thiện của các bà. Chúc các bà làm ăn phát tài và… ở lại mạnh giỏi! Tôi “đi” đây!

Chiếc xe vùn vụt lao xuống dốc, lướt qua bốn gánh hàng rong như xé gió. Tôi ai oán nhìn thật nhanh bốn khuôn mặt vô tình đắp những cái “mô” không thể vượt qua trên sinh lộ của mình. Mỉa mai thay! Tôi còn nghe “trong đám xuân xanh ấy” một câu mắng với theo được gió thật thà trao đến tận… tai tôi:

– Chắc bộ ông bà dịch vật hay sao mà chạy dữ thần vậy!

Chết vì tai nạn xe cộ dẫu không vinh quang gì nhưng cũng đỡ hơn là đối đầu cùng bốn năm vị nữ lưu “hận thù đằng đằng” với đòn gánh trên tay; tôi sẽ ngã gục đau đớn ê chề mà trước khi lìa đời có thể còn phải nghe vài người đi đường… nông cạn (ở đời thiếu gì người như thế!) hấp tấp kết luận rồi bộp chộp xỉ vả: “Chết là đáng kiếp! Ăn giựt không coi ngày, chạy không kịp chớ gì!”.

Chết là do số mệnh, là chuyện bình thường; vợ con đau buồn một thời gian rồi cũng nguôi ngoai; thế nhưng, mang tiếng là vì ăn giựt ăn chạy bị đánh đến chết thì tủi hổ tông môn, mất mặt KBC và nhục nhã cho gia đình biết bao!

Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa! Mà có khi chẳng phải là “đồn” mà là báo đăng! “Phóng viên” bây giờ ai chả làm được! Viết theo lời đồn chẳng phải là lấy tin tức từ… nhân dân sao? (làm báo thiếu gì người như thế)! Ðến nhà thương, nhà xác đưa thẻ nhà báo ra hỏi tên họ, địa chỉ người chết rồi về nhà rung đùi ngồi viết.

Ðể cho bản tin dài thêm mau đầy trang báo lại có vẻ như là đã được “thâm nhập thực tế và điều tra tỉ mỉ” thì bịa thêm những hành vi bất lương, bất chính của người chết. Người chết rồi thì còn biết người ta viết gì về mình, có biết cũng chẳng thể lên tiếng đòi hỏi đính chính; còn vợ con gã “dân ngu” đã chết thì cũng chỉ là… loài “khu đen” còn dám kiện cáo khiếu nại gì.

Không! Không thể để sự việc xảy ra như thế được!

* * *

Không! Không thể như thế được!

Các con măng sữa ngây thơ của bố.

Nếu hôm nay trên cầu chữ Y này, bố có… mệnh hệ nào thì các con yên chí là bố đã “hy sinh” một cách trong sạch vì tai nạn xe cộ; không bao giờ có chuyện bố ăn quịt hay ăn chạy, ăn giựt bị đánh hội đồng đến chết!

Các con và mấy bà hàng quà trong xóm mình đều biết con người… khẳng khái của bố. Khi “kẹt” lắm thì bố chỉ ăn… chịu hay mua chịu là cùng! (Ăn chịu là ăn trước trả sau, là sự thỏa thuận trên căn bản tin tưởng lẫn nhau, không ai ép buộc ai, là hợp đồng kinh tế vi mô, quy mô nhỏ lẻ trong đó bên A là người ăn chịu / ăn thiếu, mua chịu/ mua thiếu, bên B là người bán chịu / bán thiếu).

Mỗi bà bán hàng quà trong xóm đều ghi tên bố một cách“thân thương” trong sổ ghi nợ của họ. Các con phải hãnh diện vì điều đó; chỉ những người đầy uy tín mới được ghi nợ thoải mái như vậy và các con cũng phải hãnh diện mỗi khi thay mặt bên A là bố để đi mua chịu cà phê thuốc lá lẻ với bên B khi bố có khách khứa, bạn bè đến thăm. Làm những việc đó là các con đã tham gia trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế kể trên không có gì là kỳ, là mắc cỡ cả.

Sau khi bố… hy sinh, các con lấy tiền lương hai tuần xây lò muối trong túi quần của bố trả hết nợ cho các bà hàng quà trong xóm. Ðống đồ nghề của bố mà những người đi đường tốt bụng (vẫn còn những người như thế các con ạ!) thu lượm và… ngậm ngùi trao lại cho mẹ và các con thì hãy đem ra chợ trời bán đi; giá trị của nó tương đương với tiền công một tuần làm việc của bố (nói cho các con biết để không bị người ta mua rẻ!).

Tiền bán đồ nghề các con thuê người ta lén đặt nơi bố ngã xuống một tấm bia nhỏ ghi hàng chữ: “Nơi đây, đã sòng phẳng trút nợ đời, một người đầy uy tín!” tấm bia đó về sau ta sẽ “xây dựng lại đàng hoàng hơn to đẹp hơn”.

* **

Tới đây chiếc xe đã đạt đến tộc độ chỉ có Trời hoặc Diêm Vương mới làm ngừng lại được; nó rung lên dữ dội, rung high frequency, tôi biết nó sắp rã rời ra và sụp xuống. Tôi quyết định phải đáp… bụng (tất nhiên là bụng tôi) trước khi đâm sầm vào xe cộ của một người vô can nào đó.

Một lần nữa số mệnh lại khẳng định cho tôi biết mình chỉ là một kẻ lừng khừng, do dự chậm lụt, rất xứng đáng với biệt danh Rùa mà một thằng bạn đồng khóa có mắt tinh đời đã sớm đặt cho.

Trước khi tôi nhảy ra khỏi xe để “đáp bụng” thì cả xe lẫn người tôi như một viên đạn đại bác khổng lồ lao… trực xạ vào một khối to tướng đen ngòm thình lình xuất hiện chắn ngang đường.

Tôi định hô to khẩu hiệu -Vợ và các con muôn năm- theo “khuôn thước thời đại” trước khi “hy sinh” nhưng không kịp nữa! Tội nghiệp vợ tôi và lũ con thơ dại không được biết rằng trong phút giây lâm tử tôi đã cấp tốc tom góp hết… tâm hồn hướng về họ!

Trong tích tắc thời gian khủng khiếp đó, tôi nghe tiếng sắt thép va đập vào nhau chát chúa, tiếng la hét của nhiều người và mắt tôi tối sầm lại.

* * *

Không giống như trong các tiểu thuyết lãng mạn hay các truyện tình cảm tôi từng được đọc; tôi tỉnh lại không phải trên chiếc giường êm ái của nhà thương có tường vôi sáng và những cô y tá xinh đẹp dịu dàng nhiều… hứa hẹn.

Tôi không được cất giọng run run yếu ớt hỏi cô y tá xinh đẹp nhất (mà sau này sẽ yêu tôi như trong tiểu thuyết dù tôi đã có vợ và một đàn con nhỏ) xem tại sao tôi lại ở đây và đã ở đây bao nhiêu ngày rồi.

Tôi không được thấy nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt thanh tú của cô cùng với giọng nói chan chứa sự ân cần và lòng ưu ái quan tâm đặc biệt của cô đối với tôi.

Thay vào đó tôi lại phải nghe tiếng vừa quát tháo vừa tru tréo giận dữ từ một giọng phụ nữ đầy nội lực! Giọng nói chỉ có thể phát ra bởi một Bà La Sát:

– Trời mẹ ơi! Nam mô, cứu khổ cứu nạn! Chút xíu nữa là chết mẹ tui rồi!

Trong không gian mờ tối, tôi mơ hồ thấy mình đang dán sát người vào một khối mềm mềm đen thui lui to tướng hai tay tôi giang ra ôm không xuể. Tôi cục cựa không thấy đau đớn gì trong châu thân và rồi cả người trợt ra khỏi cái khối đen mềm to tướng ấy và rơi xuống đất trên đôi chân lành lặn.

Lập tức tôi thấy vài người ngừng xe, nhiều người khác chạy uà tới. Từ trong đám người lô xô lao xao hiện ra trước mắt tôi một nữ “hộ pháp” quát tháo tưng bừng bằng cái giọng oang oang tương xứng với vóc dáng… đội trời đạp đất của bà:

– Trời mẹ ơi! Bữa nay mà tui “đi” ze chai là ngay đây có thêm cô hồn nữa rồi!

Tôi ngơ ngác nhìn quanh để cố chắp nối những điều còn nhớ với quang cảnh đột hiện trước mắt trong lúc vị nữ hộ pháp nhìn tôi chằm chằm, lại còn xỉ cả một ngón tay vào vai tôi; lần này tôi hiểu là bà đang nói với tôi, vì bà không kêu “trời mẹ ơi” nữa.

– Chạy xe đặng giết người sao cha? Bộ zợ cha bỏ cha đi zượt biên zí bồ rồi cha chán đời đi tự zận hả cha? Muốn zậy cha làm ơn nhảy xuống sông cho Hà Bá rước cha đi dùm cái! Cha làm ơn để yên cho người khác mần ăn zí.!!

Tôi định thần một chút và hiểu ngay ra cớ sự!

Lúc bị văng như trời giáng vào khối đen lù lù đột nhiên xuất hiện, mắt tôi tối sầm lại, tôi tưởng là mình bị chết ngất đi như trong tiểu thuyết, nhưng thật ra tôi quá may mắn không việc gì cả; chỉ có cái xe đạp là tanh banh ra thôi!

Chướng ngại vật to tướng mà tôi lao vào là một chiếc xe ba bánh gắn máy chở mấy “bành” khổng lồ nhồi chặt những bao nylon bẩn, dép “mủ”(nhựa) cũ thu mua lại từ nhưng người lượm rác. Xe này phóng ra từ đường dạ cầu bên tay phải để hòa vào dòng xe ngược dốc. Cái khối đen mềm to tướng như đòn bánh tét khổng lồ tay ôm không xuể mà tôi bị dán sát vào là một trong những bành bao nylon phế thải đó.

Bà La Sát nói không ngoa chút nào, nếu xe này chở các bao mảnh chai, tôi chết là cái chắc!

Chiếc xe chở 5 bành bao nylon cao nghệu và kềnh càng như một xe vận tải, người đàn ông lái xe dáng vẻ bậm trợn vẫn ngồi trên yên để ghìm thắng chiếc xe cồng kềnh hàng nặng lại đang phải ngừng giữa mặt đường nghiêng dốc.

Những người rời khỏi Saigon sớm so với cuộc đổi đời sẽ khó hình dung ra những cách chuyên chở siêu đẳng mà những người ở lại đã “phát minh”, gã lái xe honda với cái vỏ xe hơi tròng qua bụng hồi nãy là một thí dụ nhỏ, cái xe ba gác này là một thí dụ lớn hơn. Túng thì phải tính, người ta tận dụng các phương tiện chuyên chở thô sơ thay thế cho những cơ giới thích hợp đã bị gom tập trung về một mối để phơi mưa nắng ngưng sử dụng bởi những lý do… Trời cũng không hiểu nổi!

Tôi được bình yên dưới một phép lạ trước mắt những người đi đường đã ngừng lại xúm quanh tò mò, bàn tán, hỏi han. Chỉ tội nghiệp cho chiếc xe đạp! Nó trở thành một mô hình kỳ quặc giữa đống đồ nghề bát nháo bị văng tung tóe ngổn ngang.

Cái sườn xe bây giờ vặn vẹo một cách… vô phương cứu chữa, nó chỉ còn có mỗi bánh xe sau cong queo như số 8 là dính vào. Bánh xe trước “thoát ly” khỏi khung xe cùng với bộ “phuộc”. Ghi đông gãy lìa một bên, bên còn lại vươn cao lên khỏi mặt đường như nuối nhìn lần cuối những dặm dài vừa vượt qua để giã từ cuộc đời xuôi ngược; như muốn làm dấu cho… đời sau biết nơi liệt oanh ngã xuống của một chiến mã can trường thâm niên công vụ.

Nét cảm khái và ngậm ngùi trên khuôn mặt chắc là còn… tái mét của tôi làm Bà La Sát tưởng tôi bị nội thương trầm trọng. Bà đổi giọng từ “tông la” sang “tông rê” thăm dò trong lúc cúi xuống lượm một hai món trong đống đồ nghề văng tứ tán của tôi đưa gom vào lề đường.

– Thiệt là cha có phước lớn hết cỡ đó. Bay như thiên lôi giáng mà mình mẩy hổng có làm sao hết trơn.

Bà La Sát bỗng biến thành “lương y như từ mẫu” biểu diễn một đường… giám định y khoa cấp tốc và miễn phí cho tôi. Thấy tôi im lặng có vẻ thừa nhận kết quả… giám định bà hài lòng đổi giọng nhẹ nhàng hơn,

– Nè, bộ xe của cha đứt thắng hả?

Tới câu này bà La Sát mới để địa chỉ người nhận là tôi, nghĩa là tôi có bổn phận trả lời.

– Dạ, xe tôi đứt thắng ngừng lại không được. Tôi… tôi xin lỗi!

Lập tức tôi nghe bên mạng sườn một cái huých nhẹ, mùi thơm son phấn phả quanh tôi và một giọng phụ nữ sắc nhọn nói nhỏ như tiếng muỗi vo ve chui vào tai tôi.

– Nói sao ngu quá vậy! Bắt nó thường cái xe máy, trả tiền đi chữa thuốc.

Tôi chưa kịp quay sang xem ai đã có hảo ý với tôi như vậy thì nghe từ phía đám đông môt giọng nam khàn khàn cất lên.

– Có ai chết không?

Một thanh niên ngồi trên xe Honda Cub nghển cổ qua khỏi đám đông chõ miệng vào hỏi, hắn được trả lời bằng vài câu mắng “vô duyên”, “cà chớn” và có cả giọng nói sắc nhọn ban nãy góp tiếng:

– Có! Có bà già mày chết đó, về muaa hòm đi.

Có vài tiếng cười như đổ dầu vào lửa, gã Honda Cub có lẽ hiểu được là ưu thế không ở bên gã nên phóng xe zọt thẳng sau khi trả lại một câu không tiện nhắc lại.

Tôi lúng túng xoay trở, dẫm nhằm một mảnh đá dăm, gan bàn chân đau nhói người nghiêng sang một bên va nhẹ vào một người đứng gần, tôi cảm thấy như bị người này kéo cho mất thăng bằng ngã vào trong tay họ.

Tôi nghe giọng sắc nhọn… cười lên hăng hắc:

– Vừa sống lại đã dê rồi, sao té ngay vô ôm tui vậy anh hai! Có đau thì ngồi xuống lề đường chờ vợ anh hai tới mà ôm.

Có tiếng cười khúc khích của “khán giả” chung quanh tán thưởng chủ nhân giọng nói sắc nhọn. Tôi bối rối chưa kịp xin lỗi đã bị người này đẩy vô lề đường và ấn cho ngồi xuống, hương phấn thoảng qua mũi, thanh âm nhỏ sắc chui vào tai, “đòi tiền thường, sửa xe”.

Tôi hoàn hồn lễ phép cảm ơn người “chỉ giáo” cho mình, cô ta hẳn nhiên là một cô gái buôn hương không giấu diếm qua cách trang… hoàng lộ liễu trên tấm nhan sắc tàn tạ của mình.

Bà La Sát có vẻ nghi ngờ mối quan hệ… trong sáng của “chúng tôi”, bà quơ thêm vài món đồ nghề để xuống trước mặt tôi và xoay người cố tình dùng tấm thân bồ… tượng của mình chặn giữa tôi và… ân nhân loại trừ sự can thiệp của các… thế lực ngoại lai.

– Cái zè xe tui bằng tôn dầy vậy mà cái xe ông quất cho móp xọp xuống rồi, mơi phải rã mối hàn gỡ ra đem đi gò lại. Ông không chết là hên lắm đó!

– Vâng, tôi cũng thấy mình hên thật!

Có lẽ hài lòng với sự biểu đồng tình của tôi, bà nhẹ giọng hơn.

– Về mua vịt quay cúng ông Ðịa đi. Rồi đem nhang đèn bông trái tới đây cúng người khuất mặt khuất mày.

Bà lận cái túi bên trong lớp áo bà ba lấy ra mấy tờ giấy 100 đồng đưa về phía tôi vừa nói “Nè” thì “ân nhân” của tôi đã lên tiếng:

– Cái xe người ta gãy tanh banh mà đưa 300 coi sao được.

Bà La Sát quay phắt người lại, tôi thấy không khí dao động như con trốt xoáy theo chuyển động của bà. Hai người đàn bà xa lạ sắp gây lộn với nhau vì … tôi! Một người gần gấp đôi người kia về cân lượng, họ đối mặt nhau như hai con gà choai đang thủ thế!

Tôi đứng ngay dậy vừa để can ngăn cho họ đừng gây hấn với nhau vừa để tránh cái vòng số 3 bề thế của bà La Sát không những đã… án ngữ tầm nhìn của tôi mà nó còn áp sát mặt tôi một cách rất… hồn nhiên khi tôi đang trong tư thế ngồi bệt trên lề đường.

– Chiện này không mắc mớ gì tới cô em nhe! Nãy giờ ổng biết lỗi ổng đâu nói gì.

– Không mắc mớ mà muốn nói thì sao! Chớ 300 đồng thì làm được cái gì?

– Tui đưa tiền không phải là thường, ổng lủi xe zô xe tui chớ bộ! Tui hùn zí ổng đặng cúng người khuất mày khuât mặt. Cô hồn dốc cầu này linh lắm cô em… làm ăn quanh đây chắc biết rồi.

– Thôi thôi, hai người đừng cãi lẫy làm chi! Cám ơn cô, tôi chạy ẩu tôi chịu. Xe bả đâu có lỗi gì.

Tôi vội lên tiếng vì thấy mình lỗi và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trong vụ này. Hơn nữa tôi không nên dang ca ở đây vì bóng đêm đã bao trùm lên tất cả; đường về thì còn xa mà lại không còn xe đạp nữa.

Người lái xe ba gác máy chỉ đợi có thế, ông ta lẳng lặng dập tắt điếu thuốc dưới chân rôì đạp máy, chiếc xe nổ rền. Vài người hối hả giúp “thu dọn ciến trường” mở đừơng cho chiếc xe kềnh càng từ từ rướn mình lên dốc. Bà La Sát… chuyển thần lực đẩy phụ từ phía sau. Khi chiếc xe đã tự lăn bánh ngược dốc được, bà ta chạy lúp xúp theo một khúc nữa rồi… tung mình “đáp” cái vòng số 3… hùng vĩ lên cái porte-bagage phía sau người lái.

* * *

Trên đường đám đông tản ra các phía rồi mất hút, chỉ còn một người đàn ông trẻ, ốm nhom phiêu phưởng trong bộ áo quần rộng thùng thình rách rưới đang dùng chân hất về phía tôi chiếc bay nhỏ còn sót trên mặt lộ. Anh ta không nhìn tôi mà cái bay lướt về phía tôi chính xác như một quả chuyền banh của các tuyển thủ bóng tròn, tôi chưa kịp mở miệng cảm ơn, anh ta đã hướng thẳng vào tôi quát tháo.

– Nè, người ta bị xe đụng bây còn lấy đồ nghề của người ta nữa hả?

Tôi chưa biết tại sao anh ta lại la tôi lấy đồ nghề của… tôi thì nghe tiếng trẻ con trả lời.

– Ðâu có, em lượm giùm ổng mà, anh Tư.

Một thằng nhỏ chừng mười tuổi lem luốc nhưng đầy vẻ tinh ranh xuất hiện từ phía không liên quan gì đến hướng nhìn của người vừa mắng nó. Người đàn ông ốm nhom trong trang phục thùng thình không cần nhìn mà biết chuyện gì xảy ra trong nhiều phía của bóng tối; anh ta làm tôi nghĩ đến các nhân vật quái khách của Kim Dung hay một “hiệp sĩ mù nghe gió kiếm”!

Ðứa nhỏ tiến về phía tôi và giơ ra một cái đục. Tôi nhận biết nó làm “nghề” lượm rác mà “trình độ” chuyên nghiệp thể hiện qua cái bị lớn căng phồng may bằng nhiều bao cát dệt bằng sợi nylon ghép lại, cùng cái móc sắt dài bóng loáng. Trong cái mát lạnh của buổi tối bên bờ sông, mùi khét nắng trên người nó vẫn đến với tôi trước cả khi tôi đón nhận cái đục từ tay nó.

Thằng bé chỉ hơn đưá con đầu lòng của tôi chừng một hai tuổi mà phải lăn lóc kiếm sống như vầy! Ðầu không mũ, chân không dép; tôi xót xa nghĩ đến đôi bàn chân bé nhỏ này trên mặt đường nhựa nóng bỏng những buổi trưa hay lúc xông vào những bãi rác bất kể những rủi ro nham hiểm mai phục bên dưới lớp rác trên cùng!

Tôi liên tưởng tới những đôi chân bé bỏng của các con mình và thảng thốt kêu lên một tiếng chính mình cũng không rõ là gì! Bất giác tôi cúi người vòng tay ôm đầu thằng nhỏ vào lòng nghe mình nói cám ơn mà gọi đứa nhỏ bằng tiếng “con” ngọt xớt!

Ðèn đường, đèn xe bỗng nhòe nhoẹt hẳn đi trong mắt tôi!

– Mày mà la nó hả Tư Lé, thằng Tý nó đàng hoàng hơn mày một chục lần kià! Giờ này không lo ôm lon “ghi gô” tới mấy tiệm kiếm ăn còn ở đó làm thầy đời một hồi đói rã họng nghen con!

“Ân nhân” của tôi, đóa hoa nở về đêm trên cầu chữ Y, lại can thiệp với một giọng điệu quyền uy, trịch thượng. Thì ra ba người còn lại bên cạnh tôi lúc này đều quen biết nhau, có lẽ họ đều là cư dân ở dạ Nam của cầu Chữ Y này.

Người “quái khách” phiêu phưởng trước mắt tôi không phải là “hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” nhưng cũng có liên quan ít nhiều, anh ta thuộc môn phái nhìn bụi hẹ chết bụi hành và mưu sinh bằng cách chầu chực ở các tiệm ăn bình dân lề đường chờ thực khách vừa rời khỏi bàn ăn là xông vào trút vội vào lon “ghi gô” những xương xẩu, cặn thừa trong tô chén hỗn tạp trước khi bị xua đuổi không thương xót bởi những người dọn bàn.

(Tôi không biết phiêu phưởng có phải là chữ có trong tự điển Việt Ngữ mình không, hoặc có được ít nhiều người thừa nhận không, nhưng nó hiện ra ngay lập tức trong đầu tôi khi thoạt trông thấy Tư Lé; ngay cả bây giờ gần hai mươi năm đã trôi qua, “trắng đêm nay ngồi đây viết lại tâm tình này” tôi vẫn không tài nào rứt được hai chữ phiêu phưởng ra khỏi hình ảnh Tư Lé)

Cuộc đời, hay ít nhất là những người quen biết hoặc trông thấy anh ta như tôi bây giờ, cần phải biết ơn những áo quần thùng thình anh đang mặc trên cái tấm thân còm nhom kia vì nếu không có chúng, một chân dung ba chiều ảm đạm, thê thảm của loài người sẽ được phơi bày!

Ðột nhiên một nỗi cảm khái oà vỡ trong tôi; tôi cảm thấy mình bé mọn và bất lực hơn bao giờ hết! Tôi tin rằng theo một lẽ nào đó tôi đã có phần trách nhiệm về cuộc sống khổn khổ của ba con người xa lạ đang quanh quẩn bên mình! Tôi ngồi phịch xuống lề đường, cái đầu như bị sức nặng ngàn cân đè xuống khiến hai tay chống trên đầu gối phải khó nhọc lắm mới giữ được cho nó khỏi… rơi bịch xuống đất.

Một cánh tay mềm mại của phụ nữ choàng qua vai tôi, mùi hương phấn trước lạ… sau quen cho tôi biết ai đang làm cử chỉ thân ái này.

Người phụ nữ đang ngồi xuống kề vai bên tôi bất kể là ai, bất chấp việc cô ta đang mưu sinh bằng cái “nghề” đời nào cũng lên án, khinh miệt; bất kể bao nhiêu mầm mống hiểm họa đang tiềm phục trong người cô ta, nhưng cách an ủi tôi của cô lúc này (dù có tính… nghề nghiệp hay không), cũng làm tôi cảm kích đến mềm nhũn cả người!

Tôi mủi lòng và tủi thân đến nỗi không dám ngước lên trong một lúc khá lâu.

Tôi không thể để một phụ nữ nào thâý mình rơi nước mắt!

-Anh đau đầu hay sao mà ôm đầu vậy?

Chưa muốn ngước lên, cũng để khỏi phải giải thích dài dòng mối xúc cảm bất ngờ của mình với một người lạ, và để cô ta khỏi hỏi thêm; tôi để hai tay tôi giúp cái đầu gật lên, gật xuống thay cho câu trả lời.

– Chết mẹ rồi! Anh hai, anh có thấy muốn ói không? Vậy đó mà để vợ chồng con mẹ xe mủ đi mất! Nếu muốn ói là phải đi nhà thương liền không thôi chết đó! Ê Tư Lé kêu xích lô chở ông này tới nhà thương Chung Cheng đi mày.

– Ði Chung Cheng làm chi cho xa, trung tâm chấn thương Trần Hưng Ðạo ngay đây, đi bộ cũng tới khỏi cần xich lô.

– Ðồ ngu! Nhà thương Chung Cheng là nhà thương Trần Hưng Ðạo chớ đâu! Muốn cấp cứu mà đi bộ tà tà tới ai mà thèm nhận.

Tôi phải kêu lên là tôi không thấy muốn oí gì cả để “vãn hồi trật tư” trong khi Tư Lé cằn nhằn nhà thương có bảng tên Trần Hưng Ðạo chần dần mà không chịu “kiu”, còn người nữ hiệp đa sự của tôi tuyên ngôn một câu “lập trường” xanh rờn: “tên gì “cách mạng” đặt tao cũng không thèm kiu!”.

* * *

Phụ nữ dường như trời phú cho họ có biệt tài thu xếp, toan tính nhanh nhậy và khôn khéo hơn nam giới nhiều. Hay nói chính xác hơn, tất cả các phụ nữ mà tôi từng quen biết, gặp gỡ, có liên hệ bà con hay không đều khôn khéo, lanh lợi hơn tôi.

Người phụ nữ tôi gặp hôm nay ở cuối dốc cầu chữ Y này cũng không ngoại lệ.

Dưới sự… lãnh đạo của “chị Hai”, theo cách gọi của Tư Lé, hoặc “cô Hai” theo cách gọi của thằng Tý lượm rác dành cho người phụ nữ, bốn người chúng tôi khệ nệ một đoạn ngắn đem xác chiếc xe đạp và đống đồ nghề đến ông thợ sửa xe lề đường “tọa lạc” bên chân dốc cầu gạ bán cho ông ta xác chiếc xe đạp để ông ta tháo gỡ lấy các bộ phận còn dùng được.

Kinh nghiệm việc vừa xảy ra, “lãnh đạo” là chị Hai đã… nghiêm khắc phê phán tinh thần “độc cô cầu bại” của tôi rằng “anh ngu thấy mẹ đi! Lúc nào cũng… tơm tớp nhận lỗi!” và cho rằng tôi không thích hợp chút nào với việc… đàm phán thương thảo; cho nên dù là tài sản của tôi, tôi cũng nên im mồm để… lãnh đạo đứng ra thương lượng.

Tôi bùi ngùi nhìn con ngựa già của mình lần chót đồng ý giao tài sản “đổ xuống đất” ấy cho phái đoàn… nhân dân địa phương “xử lý”, rồi tấp tểnh chân không, chân dép băng qua bên kia đường mua thuốc lá lẻ hút cho tỉnh táo.

Người ta không nên “ngu thấy mẹ” hai lần trong vòng nửa giờ trước cùng một nhóm các “khán giả”!

Xa hơn chút nữa trước mắt tôi là đại lộ Trần Hưng Ðạo, đèn đường ở đó sáng hơn, có vài xe bán hàng ăn và nước sâm tụ tập quanh trụ đèn; tôi đến mua bốn khúc bánh mì thịt và đốt thêm một điếu thuốc nữa trong lúc chờ đợi lấy bánh, cố thả hồn theo khói thuốc buông lơi mọi suy nghĩ nhưng không thành công lắm.

Bánh mì được làm xong vừa lúc phái đoàn thương thuyết băng qua đường báo tin chiếc xe bán được nhưng ngày mai ông sửa xe mới có tiền đưa.

Tôi trao mỗi người một ổ bánh mì còn nóng hổi hơi than, mùi thơm khơi dòng nước… miếng những kẻ đói lòng! Chúng tôi cùng ngồi kề bên nhau bên lề đường, vừa ăn vừa thăm hỏi… gia cảnh nhau.

Trong khoảnh khắc đó, tôi thấy bốn người chúng tôi thân thiết và tin tưởng nhau biết bao! Chúng tôi như một gia đình tản lạc vì một cơn nguy biến vừa tìm lại được nhau.

Nhờ không “ngu thấy mẹ” lần thứ hai và lại nhập vai “tiếp tế, thăm nuôi” rất đúng lúc, tôi không bị xài xể nữa và nghiễm nhiên trở thành người anh lớn của cái gia đình khoảnh khắc trên hè phố.

Tôi dặn người em gái “lập trường” của tôi ngày mai khi lấy được tiền về thì cô giữ phân nửa mà xài… lấy thảo để nhớ buổi “tao ngộ” hôm nay; phân nửa còn lại thì chia đôi cho hai người kia. Ðống đồ nghề cho tôi gởi lại “nhà” thằng Tý, khi nào kiếm được xe đạp khác tôi sẽ qua lấy về và cũng để coi nó có mua dép và nón để “hành nghề” như tôi dặn không; còn tôi sẽ đi honda ôm về nhà để đuổi theo thời gian đã mất.

“Chia gia tài” xong chúng tôi nhìn nhau, không ai nói gì nhưng ánh mắt mỗi người đã nói hơn những gì lời nói có thể diễn tả; một “bác tài” xe ôm chờ khách bên kia đường trờ đến theo cái ngoắc tay của tôi.

Xe ôm vừa lăn bánh, đột nhiên cô gái níu tôi lại.

– Anh Hai, anh tên gì?

Thằng Tý reo lên:

– Ha ha! Cô Hai chịu đèn chú Hai!

Tôi thấy trên khuôn mặt son phấn rã rời tàn uá của người phụ nữ loáng nhanh một nụ cười với vẻ thẹn thùa duyên dáng, cô liếc nhìn tôi thật nhanh và đưa tay bợp nhẹ lên đầu thằng Tý.

– Thằng mắc dịch này! Anh Hai, anh nói tên, ngày mai em mua trái cây ra thắp nhang chỗ hồi nãy, cám ơn cô hồn cho anh mạnh giỏi.

Tích tắc thẹn thùa của một cô gái bán hoa từng trải không phải có thể mua được bằng tiền, ngay cả chính cô ta dù muốn cũng không thể “diễn” nó theo bài bản nghề nghiệp được đâu! Từ chút điểm ngây thơ mỏng mảnh còn sót lại ẩn náu đâu đó trong tâm hồn đã bao năm chai sạn của cô, nét thẹn thùa trong trắng ấy bật ra như một phản xạ chỉ khi gặp những điều kiện tình cảm thích hợp.

Làm sao tôi nỡ nói một cái tên tào lao với cô cho qua chuyện được!

* * *

Xe tôi… ôm lăn bánh dăm thước sắp hòa vào giòng đời, cô nhắn với theo thảng thốt.

– Em tên là Hường! Hường, nhe hông!

 Tôi ngoái lại giơ tay ra dấu cho biết tôi đã nghe thấy rồi. Hường! Hường! Ngày mai em sẽ vái cô hồn cho tôi được mạnh giỏi! Làm sao tôi đáp trả được cho em cái tình cảm tuy chốc lát mà ân cần chu đáo này!

Tôi chỉ có uy tín đủ để mua thiếu lặt vặt trong xóm với những người… phàm, chứ còn người cõi khác có thần thông chắc đều biết tôi là đứa chẳng ra gì; tôi vái van xin xỏ gì chắc sẽ bị… ép phê ngược thêm tai hại mà thôi!

Xe ôm lướt đi trong cái mát mẻ của ban đêm; các rắc rối, mất còn ân oán đã được bỏ lại đàng sau, tôi khoan khoái nghĩ tới gia đình với những đứa con măng sữa đêm ngày mong ngóng cha về; tôi hân hoan chờ phút giây được ôm chúng vào lòng. Bất giác tôi đưa tay sờ túi nơi cất tiền công hai tuần xây lò nấu muối.

Ít nhất tôi cũng đủ sức thanh toán hết những món nợ ghi chép nhì nhằng trong sổ sách của các “bên B” quanh xóm để mở sang những trang mới sáng sủa hơn.

Còn chuyện xóa sổ, “clear form” cho những trang… nợ đời mới, là nhiệm vụ của việc làm “kỳ ngộ” tiếp theo.

Ai mà biết nó sẽ là việc gì!

Trần Công Anh Dũng

Tin tức khác...