GS Đàm Trung Phán
Mấy hôm vừa qua, Giáo Già nhà tôi có hứng đi tìm các chi tiết về mấy môn dạy trong khoảng thời gian 1975 đến 1979. Mở cuốn sổ điểm thứ ba ra, và nhất là đoạn cuối của cuốn sổ điểm thứ nhất, tôi có cảm giác như mình đang đi lạc vào một miền đất chẳng có xa lạ gì cho lắm: có khi cảm thấy như mình đang đắm tàu, rồi thuyền được cứu vớt để rồi người viết cảm thấy nhẹ nhàng và êm đẹp vô cùng. Tuy nhiên, khi nghĩ đến giai đoạn gia đình chúng tôi gồm có cụ thân sinh, gia đình anh chị Đàm Trung Pháp và ba cháu gái, và nhất là chú Út ra khỏi được Việt Nam trong hai ngày khác nhau, qua hai đường bay khác nhau, tôi vẫn còn cảm thấy hồi hôp.
Tuy rằng tất cả mọi người trong gia đình chúng tôi đã nhận được giấy bảo lãnh của tôi sang Canada qua ngả tòa đại sứ Canada tại Sài Gòn nhưng tôi cứ thắc mắc là tại sao sau khi đã sang được Clark Air Base tại Phi Luật Tân, mà để rồi lại một phe đi Mỹ, trừ có chú Út bay sang Canada theo diện tôi bảo lãnh mà thôi.
Tôi chỉ nhớ là đã lấy xe điện ngầm (Subway) từ Scarborough lên đến Union Station để đón chú Út đi xe lửa từ Montreal đến Toronto. Hóa ra, chú đã bay từ đảo Guam sang đến Florida rồi lấy máy bay từ Florida đến Montreal.
Hai anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi sau 14 năm xa cách. Tuy rằng tôi rất muốn đưa em trai đi ăn một bát phở nhưng mà hồi đó đâu đã có một hiệu phở nào đâu tại Toronto?
Vì thân phụ chúng tôi đã đi máy bay từ đảo Guam cùng với gia đình anh chị Pháp sang đến Camp Pendleton, rồi ngay sau đó được một gia đình người Mỹ bảo trợ tại Fort Wayne , cho nên cụ đã bị kẹt ở lại Mỹ một khoảng thời gian, rồi tôi mới bảo lãnh sang Canada được .
Năm 1976, tôi cảm thấy rất hạnh phúc được sống với cha già, một điều mà tôi không thể tưởng tượng được: tuy nước mất, nhà tan nhưng mà tôi lại có cái may mắn được gặp lại cha già và hai anh em trai tại miền Bắc Mỹ này.
Còn gì thú vị hơn là không những Giáo Út nhà tôi không phải dạy một môn mới nào mà lại còn có thì giờ đưa con trai đầu lòng đến nhà giữ trẻ rồi đón con về vào ban chiều.
Rất nhiều lần thằng cu muốn tôi đưa anh chàng vào trong cái phòng thí nghiệm vật liệu của tôi tại College. Anh chàng được bố cho trèo lên cái ghế để mà tha hồ dùng phấn trắng, vẽ trên cái bảng đen dài hơn 5 mét. Vừa vẽ, vừa cười nói trong khi đó ông bố thu xếp phòng thí nghiệm mà không sợ anh chàng chạy nhảy lung tung. Đây là những giây phút tuyệt vời nhất cho hai cha con chúng tôi. Lúc đó thằng cu mới chưa đầy 4 tuổi, và bố của thằng cu 34 tuổi. Trong xe, trước khi về nhà, thằng cu nói hắn đói và khát nước, hằn bắt bố nó lái xe đến hiệu tạp hóa “Variety Store” để mua nước táo, bánh ngọt và kẹo. Buổi tối, thằng cu “hót” với mẹ là răng nó đau vì bố đã hư quá: bố đã bắt nó uống nước táo và ăn kẹo… Thật là một đồ phản thùng vì anh chàng sợ bị mẹ la rầy, bèn đổ lỗi cho ông bố “ngây thơ vô số tội” của hắn!
Tuy rằng Sài Gòn đã mất, nhưng cá nhân tôi lần đầu tiên cảm thấy không còn phải lo sợ là tôi sẽ chẳng bao giờ được gặp lại cha già trong những lúc “trái gió, dở trời”!
Tôi vui mừng đi mua ngay một chiếc xe đạp “folding bicycle” có nghĩa là một cái xe đạp có bánh nhỏ hơn xe đạp thường và có thể gấp lại được để mà bỏ vào thùng xe. Mua luôn cả một cái ghế nhỏ để cho để chở con trai đầu lòng đi xung quanh khu phố trong mùa xuân, mùa hè, và mùa thu. Vui nhất là được nghe thằng cu mới chưa đầy 4 tuổi ngồi đằng sau hát líu lo trong khi người phu xe mỉm cười rất là hạnh phúc…
Mùa hè 1975, ông bố trẻ đạp xe đưa con đi chơi trong cái rừng mát rượi trong khi đó nhiệt độ ngoài trời Toronto có thể lên cao đến hơn 30 độ C. Còn vui hơn nữa: trong nên khóa mùa thu năm 1975, giáo Út không phải dạy môn học nào mới hết. Tha mà có thì giờ đạp xe đưa con trai đầu lòng đi chơi mà chẳng phải lo soạn bài trước. Trong khi đó còn có em trai để hai anh em đi chơi, đi kiếm việc, đi xem tình hình về ngành Y khoa tại Toronto…
Mùa hè năm 1975, Giáo Út cũng đã từng lái xe ra phi trường Toronto để đón một số đồng bào tị nạn mới tới Canada rồi giúp họ kiếm nhà, hướng dẫn cách làm đơn để đi kiếm việc…
Mùa thu năm 1975, sau khi Giáo Út đi dạy lại, nhờ có đường dây điện thoại đặt ngay trong phòng thí nghiệm nhà trường, cho nên Giáo Út vừa trông phòng thí nghiệm, vừa liên lạc với văn phòng “Việt Nam Welcome House”… để mà trò chuyện với những ai mới tới mà cần chỉ dẫn.
Lúc này, thân phụ chúng tôi đã 80 tuổi, trạc tuổi tôi bây giờ khi đang viết những dòng chữ này. Cụ đã đã lãng tai, mắt đã phải dùng đến hai cái kính “lúp” mới đọc được. May thay, Giáo Út nhà tôi còn giữ được cuốn truyện Kiều do cụ Trần Trọng Kim và cụ Bùi Kỷ giải nghĩa mà Cụ đã gửi sang Úc cho đứa con trai trót út năm 1965 vì cụ sợ tôi sẽ quên tiếng Việt nếu không đọc truyện Kiều!
Canada rất lạnh về mùa Đông. Cụ còn nhớ khi tôi còn ở bên Úc, tôi đã mua cho cha già nào là áo len, nào là “robe de chambre” bắng len của Úc, cho nên tôi đã lên phố cho cha già một số quần áo lạnh.
Khi đó thằng cu đã hơn 4 tuổi nhưng không nói được tiếng Việt rành cho nên hai ông cháu không nói chuyện với nhau được nhiều. Một hôm, sau bữa ăn, mẹ thằng cu nói hắn đưa cho ông nội một bát cà rem. Hắn nói:
Đao phủ “đáng sợ” nhất nước Mỹ
Bài hát “ Ngọc Lan” và mối tình đầu không thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Ông nội, eat!
Ông nhìn bát “ice cream”, rối nói:
Cho ông nhiều như vậy mà sao lại nói là “ít”?
Chỉ có bố và mẹ thằng cu mới biết câu chuyện để mà cười mà thôi.
Buổi tối khi hai cha con chúng tôi vào phòng thăm ông nội, thằng cu thường hay nhìn trên bàn của ông xem có thứ gì lạ. Đôi khi anh chàng còn mở ngăn kéo xem ông chứa những thứ gì trong đó.
Chiều tối, khi ngồi ăn, thằng cu bắt người lớn phải chắp tay để hắn chắp tay cám ơn Thượng Đế đã cho bữa ăn ngon. Ông nội mỉm cười móm mém vì rụng hết răng nhưng không cho con trai đi làm răng giả cho cụ. Ông gọi cháu nội trai là “ông cha đạo”. Khi tôi viết những dòng này thì “thằng cu” nay đã có hai đứa con trai ở tuổi 17 và 15 rồi! Hai cháu nội của Giáo Già gọi tôi là “Ông Nội” rất rõ ràng nhưng không nói được tiếng Việt!
Tuy nhiên ba bố con chúng nó (tức là con trai và hai cháu nội của tôi) ngồi ăn đồ ăn Việt Nam… y như người Việt Nam chính gốc!
Hai mùa hè năm 1975 và 1976 là hai mùa hè tươi đẹp nhất của người viết. Này nhé: tôi không còn phải dạy học từ giữa tháng 5 đến cho đầu tháng 9! Trong vòng 2 năm liền, nhất là ban đêm không phải ngồi chấm bài hay soạn bài gì hết! Tuy tôi vẫn phải có mặt tại trường nhưng sướng nhất là chỉ phải vào trường khoảng sau 9:30 sáng rồi muốn về nhà lúc nào cũng được, nếu mà không bị đi mít tinh. Nếu cần phải đi đâu hay đi về nhà, tôi chỉ cần nói với bà thư ký là tôi sẵn sàng trả lời trên điện thoại. Nếu không, tôi tôi sẽ lái xe tới trường ngay, cách nhà khoảng 2 km mà thôi
Thường thường, Giáo Út (GU) đưa thằng cu đến nhà giữ trẻ buổi sáng rồi đến đón con về khoảng 4:00 giờ chiều. Sau khi đưa con đến trường (mẹ thằng cu phải đi làm sớm), tôi trở về nhà nói chuyện với thân phụ và kể cho cụ nghe đời sống của tôi lúc bên Úc và nhất là những năm về sau này của tôi trong thời đi dạy học. Ban ngày, khi tôi phải vào nhà trường, cụ ở nhà một mình và đầu viết lách về Truyện Kiều. Thật là may mắn thay: không ngờ nhờ có cơ hội này mà cụ đã để lại cho chúng ta những nhận xét rất đúng đắn về những nhiều câu thơ trong Truyện Kiều. Trong thời gian 1976, 1977 này, cụ còn nhắc tôi mua cho cụ cuốn “Fables de La Fontaine” để cụ dịch thành thơ sang tiếng Việt nữa. Lâu lâu, tôi còn lên phố tàu mua cho cha già một vài cuốn sách chữ Hán nữa.
Trước khi tôi được thực sự nghỉ hè, tôi vào trong trường làm việc một lúc, cứ khoảng xế trưa, tôi lái xe về nhà ăn cơm với cha già. Trong văn chương Việt Nam, người ta thường hay nói đến bà mẹ già nhưng ba anh em trai út chúng tôi chỉ có cha già vì thân mẫu chúng tôi đã mất lúc bà mới 50 tuổi. Anh chị em chúng tôi chỉ biết có tình cha già gà trống nuôi con mà thôi. Tiếc nỗi, hồi đó, Giáo Út nhà tôi đã quên tiếng Việt khá nhiều vì hai vợ chồng thường hay nói tiếng Anh với nhau, với con cái và khi đi làm. Vì vậy mà một số chữ như immigration, history, education… tôi không còn nhớ rõ phần tiếng Việt của nó ra sao nữa. Tôi đã phải bập bẹ khi nói chuyện với cha già.
Tôi căm thấy rất bực bội với chính mình vì tuy đã may mắn được sống với cha già mà lại không nói được tiếng Việt mẹ đẻ của mình với cha già! Bèn phải lên phố tàu xin mấy tờ báo tiếng Việt để mang về nhà đọc. Vào phòng, đóng cửa lại và đọc to thật to để đánh thức cái tâm hồn đang đi ngủ của tôi, đang quên tiếng mẹ đẻ! Sau đó, tôi còn đi mua thơ Nguyễn Bính, thơ Vũ Hoàng Chương về đọc to lên trong những năm về sau này nữa. Mục đích là để nghe cha già tâm sự và để nhớ lại phần thi ca Việt Nam!
May thay, những năm, tháng về sau đó, khi tôi đi thăm cụ tại Texas hay tại Montreal, tôi đã có thể nói tiếng Việt một cách trơn tru hơn.
Năm 1976, khi thấy thân phụ phải dùng kính lúp hai mặt (hai cái kính lúp được gắn vào một cái ống bằng các tông tại hai đầu) mỗi khi cụ đọc sách, tôi đã đưa Cụ đi nhà thương để mổ hạt cườm nhưng Cụ không đi. Lý do là vì… ”Bố sợ lắm vì không biết tiếng Anh!” (Cụ nói tiếng pháp rất trơn tru!)
&&&
Khoảng gần cuối năm 1976, ông Super Chairman Chuck Cobourne gọi điện thoại báo cho tôi biết là bà Khoa Trưởng Margo Kenny và ông ta muốn gặp tôi trong phòng họp của họ. Hai vị này muốn tôi phải nộp cho họ một cái Résumé trong đó tôi phải viết ra tất cả những chi tiết của những môn tôi đã dạy và nhất là phần kinh nghiệm mà tôi đã phải trông coi các phòng thí nghiệm. Buộc lòng, tôi hỏi họ lý do tại sao tôi phải làm như vậy. Bà Khoa Trưởng mỉm cười và nói với tôi:
Chúng tôi phải đăng báo để nhà trường thuê một giáo sư cho trường Công Chánh mà chính anh PD sẽ là vị đó.
Tôi nói tiếp:
Thì quý vị cứ tự tiện mà ký giấy cho tôi lên chức, việc gì mà phải làm như vậy?
Anh không biết luật lệ của nhà trường và của Công Đoàn Giáo Chức (Faculty Association) đó mà thôi. Chúng tôi phải cho đăng báo để cho thiên hạ có thể nộp đơn xin làm giáo sư. Vì ông “Chair” và tôi không muốn ai được thuê làm giáo sư ngoài anh ra, cho nên chúng tôi bắt buộc phải dựa theo những kinh nghiệm của anh để chúng tôi có thể loại bỏ họ mà không bị họ khiếu nại hay kiện tụng sau đó mà thôi. Anh nhớ nộp cho chúng tôi cái Résumé của anh để chúng tôi có thể sửa soạn cho đăng báo và lập Ban Tuyển Chọn Giáo Sư (Faculty Selection Committee) vào khoảng tháng 4 năm 1977. Ông Cobourne sẽ là “Selection Committee Chair”!
Rồi vào khoảng tháng 4 năm 77, tôi được gọi đi interview, sau khi tôi đã phải nộp đơn xin công việc này. Một ủy ban gồm có 12 người đã interview tôi, rồi họ chấm điểm. Dĩ nhiên là họ đã hỏi tôi về những kinh nghiệm dạy học và tôi cũng đã nộp cho họ hết những lời nhận xét của sinh viên về tôi, về cách tôi dạy trong lớp học, trong những giờ dạy “Lecture” trong lớp và phần thực tập trong phòng thí nghiệm. Dĩ nhiên là tôi đã thắng cuộc vì đã được phe ta cho điểm rất cao! Tôi được biết đã có nhiều ứng viên cũng đã là giáo sư dạy tại các tính bang khác nhau tại vùng phía đông và phía tây của Canada.
Tháng 5, năm 1977 tôi được bổ nhiệm với chức vụ “Instructor” (tương đương với Chức vụ “Assisstant Professor” tại các đại học bên Canada và Mỹ). Có nghĩa là tôi được trở thành một “Faculty member” chứ không phải còn là một “Support staff” nữa.
Hai ngày hôm sau, tôi gặp một đồng sự dạy Toán đang làm chức vụ “Faculty Steward” (Đại Diện Công Đoàn Giáo Sư). Ông ta hỏi tôi đã được thuê theo chức vụ “Intructor” hay “Professor”. Sau khi ông ta được biết tôi chỉ là một “Instructor”, ông ta lớn tiếng chửi thề rồi nói với tôi:
Anh để tôi cho tôi lo giùm anh vụ này. Bọn “management” ở đây chúng khốn kiếp lắm. Anh đã bị chúng ngâm tôm vì chúng nó chỉ lo cho quyền lợi của chúng nó mà thôi. Tôi sẽ lo vụ kiện này cho anh ngay ngày hôm nay.
Chưa đầy một tuần sau đó, tôi trở thành một “Full time Professor” (giống như một Full Chair Professor trong Đại học) vậy. Và từ đó về sau này, tôi mới được trả lương giống như các bậc đàn anh của chúng tôi nhưng trên thực tế, tôi vẫn phải sống như một cái ao tù: nước chảy vào chỗ trũng. Cái ao là tôi, phải lãnh rất nhiều trước các “left over” (cơm thừa, canh cặn) của ba ông George Sand, Sharad Kali và ông Mohamed Ali, chỉ trừ có hai ông Rick Chan và Tommy Transit mà thôi!