Những Con Gấu Hát Xiệc

Lời người dịch:Từ hàng trăm năm trước, những người Gypsy ở Bulgaria nuôi gấu để đem đi lưu diễn. Họ bẻ răng gấu để chúng không cắn họ, cho gấu uống và nghiện rượu để dễ sai bảo, đánh đập, tra tấn, bỏ đói khi gấu không nghe lời, cho gấu ăn kẹo để thưởng khi hoàn tất màn trình diễn. Sau khi các quốc gia cộng sản Đông Âu gia nhập Liên Hiệp Âu Châu, việc dùng gấu như nô lệ bị cấm, gấu được trả về nơi hoang dã, tuy nhiên dù không còn sống trong gông cùm, khi trông thấy người, những con gấu ấy tự động đứng bằng hai chân sau và nhảy múa như vẫn thường trình diễn. Tương tự những con gấu nhảy múa, nhiều người dân ở các nước độc tài, sau khi thoát khỏi gông cùm, vẫn mơ tưởng và nuối tiếc cái thời họ đã bị đè nén, áp bức. Nhà báo Ba Lan Witold Szabłowski – người được trao nhiều giải thưởng cao quý về báo chí – góp nhặt những câu chuyện như thế ở những quốc gia Đông Âu và Cuba trong tác phẩm Dancing Bears. Hoàng Chính gửi đến độc giả Thời Báo bản dịch Việt ngữ chương đầu tiên trong phần 2 của Dancing Bears tựa đề Cuba: The McRevolution Is Coming từ bản Anh ngữ của Antonia Lloyd-Jones. Dancing Bears do Penguin Books xuất bản năm 2014. ISBN 9780143129745.

Cuba: McRevolution Đến Rồi
“El Barbudo” – Lão Râu Xồm – “còn sống được bao lâu,” dân chúng suốt từ Guantánamo đến Pinar del Río không ngừng bàn tán.
“Ông ấy chết rồi, bọn họ sợ không dám loan tin đấy thôi. Họ không muốn nhân dân điên lên vì phiền muộn,” Alfonso một tài xế tắc xi ở Havana nói thêm. Anh ta biết chắc là Fidel Castro đã qua đời: em rể một người bạn Alfonso là y tá trong bệnh viện nhà nước, và chính mắt anh ta thấy Fidel Castro. Theo ông em rể này thì Castro đang hấp hối. “Mấy ông lớn đã bàn tính xong ai sẽ là người kế vị ông ta và mình sẽ theo chế độ mới nào,” Alfonso nói. “Bởi vì chuyện chủ nghĩa cộng sản thất bại thì ai cũng biết rồi. Nhưng họ đâu có thể đem ngay chủ nghĩa tư bản về xài được – cái đó chẳng khác gì bao nhiêu năm nay người ta nhịn đói bỗng dưng nhét cho nó năm cái hamburger cùng một lúc. Bao tử nào chịu nổi. Tóm lại, mấy ông lớn cần phải chuẩn bị cho những thay đổi này.”
“Chuẩn bị cách nào?”
“Thì cái kiểu người ta vẫn làm trong khung cảnh ấy, đại khái làm sao cho quyền lợi của họ không bị hao hụt, sao cho tài sản của họ còn nguyên vẹn, sao cho dân chúng có thể mở cơ sở làm ăn. Nếu họ sắp xếp được, nước mình sẽ thay đổi. Như ở Ba Lan, ở Đức, ở Romania.”
“Mấy ông lớn nào? Raúl Castro chắc?”
“Không,” Alfonso trề môi. “Mọi chuyện đã được sắp xếp sau lưng ông ấy. Tinh thần anh em nhà Castro đã gắn liền với thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Những người giải quyết được chu đáo trong đám họ là loại người mà ông và tôi không biết được là ai. Tôi biết một cha nội có chiếc xe xịn, thỉnh thoảng chả mới lái đi. Loại người ăn trên ngồi trước. Ăn mặc tươm tất, có đầy nhóc tiền. Đời nó là như thế. Ông phải biết điều đó.” Và Alfonso ném cho tôi một cái nhìn ái ngại, như thể anh ta nhìn một người nào đó không biết mảy may gì về cuộc sống này. Có lẽ trong mắt nhìn của anh ta, tôi hiện rõ nét ngu ngơ ấy; và cho dù có sự đoan chắc của anh chàng em rể bạn hắn về cái chết của Fidel Castro, tôi vẫn không hiểu chế độ sẽ thay đổi như thế nào.
Maria, người làm chủ một sạp hàng bán trứng ở trung tâm Havana thì nghĩ khác. “Fidel còn sống,” bà nói. “Nhưng ông ấy không còn biết chuyện gì xảy ra chung quanh. Người ta dùng phương pháp nhân tạo để giúp ông ấy sống. Và, đương nhiên là trong lúc này thì mọi quyết định đều xảy ra sau lưng ông ấy.”
Maria quả quyết có quen biết người tài xế lái xe đưa Castro vào bệnh viện. “Họ đặt cái bút vào tay ông ấy cho ông ấy ký giấy tờ, nhưng Raúl là người đẩy bàn tay ông ấy trên trang giấy,” bà nói với sự xác tín không thể lay chuyển.
“Chuyện nhảm nhí,” Mirurgia, một tay cộng sản thứ thiệt, bừng bừng lửa giận. Chồng bà làm việc trong một bộ của nhà nước, và nhờ vậy bà tin là ông ấy nắm được những tin giờ chót chính xác nhất. “Fidel Castro đang nhanh chóng hồi phục, rồi những kẻ thù của ngài sẽ ngạc nhiên khi thấy những thành quả tốt đẹp ngài sẽ đem lại cho Cuba. Ngài sẽ thọ tới một trăm mười tuổi và có khi còn hơn thế nữa. Không thế lực nào có thể phá đổ cuộc cách mạng của chúng ta,” bà nói, chùm da cổ đong đưa với sự khinh miệt dành cho bất cứ kẻ nào dám nghĩ khác bà.
Có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu ý kiến. Và cũng có chừng đó những bạn thật hay tưởng tượng, những người bạn nắm được thông tin từ những giới chức cao cấp. Và cũng có chừng ấy ý kiến về chuyện gì sẽ xảy ra cho Cuba khi ông Castro anh từ giã cõi đời.

Chổi Chà Thay Cho Đèn Báo
Trong thị trấn du lịch Varadero tôi thuê một chiếc xe, loại rẻ tiền nhất trong danh sách – một chiếc Peugeot 206.
Dù là xe mướn rẻ tiền, bảng số xe màu đỏ của nó đã biến tôi thành siêu nhân.
Thứ nhất, thuê một chiếc xe trong mười ngày giá cả bằng mức lương một cảnh sát giao thông làm trong hai năm trời. Thứ hai, hầu như chỉ có du khách mới lái xe bảng số đỏ ở Cuba, mà rất nhiều người dân Cuba sống nhờ vào du khách. Có lẽ đó là lý do vì sao tôi chỉ bị cảnh sát chặn lại có một lần. Tôi lạng quạng lái xe đâm sầm vào anh ta trên đường một chiều. Anh ta chào tôi và lịch sự nhắc nhở tôi đừng làm như vậy nữa. Anh ta còn lộ vẻ sợ hãi.
Thứ ba, xe hơi ở Cuba là thứ hiếm hoi. Xe buýt chạy thất thường, và thường hay bị hư. Khi bóng đèn báo bị hư, các bác tài buộc những cây chổi vào sợi dây để kéo từ trái qua phải khi cần đổi hướng quẹo. Ấy là với những nguời biết chỗ mua chổi. Muốn đi đâu người ta chỉ việc xin quá giang. Có cả những chỗ tạm trú cho người đi quá giang xe, được gọi là những tụ điểm giao thông chuyển tiếp. Một nhân viên mặc đồng phục chặn xe lại và chỉ định chỗ cho người quá giang. Người ta phải chờ hàng giờ đồng hồ. Chính vì vậy người nào cũng muốn chen lên xe của tôi. Nội trong tám ngày chừng này người đã quá giang xe tôi:
hai mươi lăm công nhân nông trại;
sáu cảnh sát viên mặc đồng phục và một mặc thường phục;
bốn kỹ sư;
tám y tá và hai bác sĩ – tất cả đều mặc áo choàng trắng;
một linh mục, phụ tá cho đức giám mục địa phương;
sáu anh lính;
mười hai đứa trẻ, trên đường đến trường hoặc về nhà;
ba phụ nữ có bầu và bốn bà có con nhỏ;
mười hai người hưu trí, và nhiều người khác nữa.
Tính tổng số, có hơn một trăm người.

Người cộng sản thứ thiệt: Cầu mong Fidel trường thọ đời đời!
Tôi trên đường từ Santiago de Cuba đến Sierra Maestra, nơi Fidel khởi xướng cách mạng. Từ nơi này, năm 1959, ông tiến lên dành lấy Havana, rồi ông và đám du kích của ông tiến công ồ ạt Fullgencio Batista, vị tổng thống được Hoa Kỳ chống lưng.
Rừng rậm ở đây còn nguyên vẻ hoang dã và bất trị, khiến tôi có cảm giác nếu tôi ngừng xe nửa tiếng đồng hồ, rừng rậm sẽ tràn ra ùa lên xe tôi, phá tung lớp nệm da, và há cái miệng hoang dã nuốt trửng lấy tôi, và luôn chiếc xe Peugeot. Mọi thứ ở đây đều xanh biếc một màu – không phải chỉ có một mà có hàng tá sắc màu của màu xanh lá cây, với lũ chim sặc sỡ bay lượn trong đó, như những dấu phẩy trong một câu văn.
Đó là một nơi chốn được tạo ra để mãi mãi còn hoang dã. Con đường đầy vẻ phi lý nơi đây, một dải ruy băng màu xanh xám mà ai đó đánh rơi giữa núi đồi bao trùm bởi cây lá và lốm đốm những cánh chim đủ sắc màu. Đứng cạnh con đường này tôi thấy một người đàn bà da đen khoảng trên năm chục với thân hình đầy đặn, ăn mặc thời trang. Bà ta cẩn thận ngồi xuống, vuốt lại áo quần và chiếc mũ vương giả nhỏ xíu gắn trên mái tóc đen nhánh, và chúng tôi lái xe đi về phía thị trấn gần nhất.
“Witek,” tôi tự giới thiệu qua biệt danh của mình, khi khách đã ngồi thoải mái. Tôi biết tên bà ta là Mirugia, và bà đang trên đường về nhà sau khi ghé thăm người mẹ sống trong khu núi non này.
“Fidek à?” bà hỏi, không phát âm đúng tên tôi.
“Không, không phải Fidel. Tuy nhiên mình lỡ nhắc tới El Comandante…” tôi nói và mỉm cười.
Đó là cách tôi mở đầu câu chuyện về cái ông Fidel Castro đang hấp hối. Một câu hỏi thẳng thừng thì không phù hợp – phê phán El Barbudo thì coi chừng ở tù. Nhưng, dường như bị khuấy động tình cảm về căn bệnh của lãnh tụ và cũng vì sớm muộn gì cũng không tránh được cái chết của ông Castro anh, thành ra dân chúng chuyện trò với tôi một cách thành thật và cởi mở đến không ngờ. Cả những người yêu mến Castro lẫn những người mong cho ông ta ốm nặng.
Mururgia thuộc về nhóm đầu.
“Tôi ước gì ngài sống lâu gấp đôi người thường,” bà nói bằng giọng tiếc nuối, và lại đưa tay sửa mũ.
“Sao vậy?”
“Nhờ ngài mà chúng tôi là đất nước cuối cùng không bị Mỹ xỏ mũi dẫn đi. Chúng tôi có một hệ thống giáo dục và chăm sóc y tế tuyệt hảo. Nơi đây không có ai chết vì đói. Ông chỉ cần nhìn sang Dominica, hoặc Haiti, hai quốc gia bị Mỹ xích xiềng. Ở đó dân chúng không có một miếng để ăn. Còn ở đây ông có thể mua bất cứ thứ gì trong những cửa hàng…”
Mirurgia đúng là Người Cộng Sản thứ thiệt nhất mà tôi đã từng gặp. Bà là đảng viên, đứng đầu Ủy Ban Bảo Vệ Cách Mạng ở địa phương, và là vợ một viên chức làm việc trong một bộ của nhà nước. Một phù hiệu có hình ngôi sao cách mạng gắn vào cổ áo của bà càng làm tăng thêm vẻ nghiêm trọng. Bà còn cất một tấm hình của Fidel Castro trong ví. Bà đưa cho tôi xem: Fidel, vẫn còn trẻ, với điếu xì gà, với bộ râu lấm tấm sợi bạc.
“Thì đúng, nhưng dân thường ở Cuba đâu có vào những cửa tiệm ấy được,” tôi nói. “Bà chỉ có thể mua bất cứ thứ gì trong những cửa tiệm dành cho du khách, và dùng đồng pesos hoán đổi,” loại tiền dành cho khách nước ngoài. “Tôi thấy cửa hàng cho dân chúng thì toàn những ngăn trống.”
“Dĩ nhiên, chúng tôi còn một số vấn đề. Bọn Mỹ tìm đủ cách để làm suy yếu nền kinh tế của chúng tôi…”
“Kinh tế của bà có cái gì?”
“Mía, thuốc lá, xì gà ngon nhất thế giới. Vậy đã đủ chưa?”
“Để nuôi mười một triệu dân à? Tôi không chắc đâu…”
“Còn du khách nữa chứ. Trên hai triệu người. Họ du lịch dọc theo những bãi biển; ở Havana họ có mặt trong mọi nhà hàng. Ngay cả ở Sierra Maestra này, mẹ tôi gặp họ hàng ngày.”
Điều đó thì đúng. Fidel Castro bắt đầu mở cửa cho du khách sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, và Cuba sắp sửa nghèo mạt. Khách nước ngoài bắt đầu xuất hiện ở những khu nghỉ mát bỏ hoang lúc trước, và ví của những quan chức bắt đầu nhét đầy tiền mặt. Bởi vì đám đàn em của Raúl Castro, phần lớn ở trong quân đội, là những kẻ nấp phía sau sự bùng phát ngành du lịch.
“Nếu đời sống quá tốt đẹp tại sao lại có quá nhiều người ăn mày ở đây? Tại sao lại có nhiều jineteras – gái điếm?”
“Bởi đám ấy không biết danh dự là gì,” Mirurgia nói bằng giọng khinh miệt. “Chúng nó muốn người ta đem tiền đến cho không, ở Cuba mình phải lao động. Một người lương thiện sống bằng cách làm việc, chứ không phải – nói xin lỗi – đi bán trôn nuôi miệng. Bố mẹ tôi sống ở nông thôn, nghèo mạt rệp. Đã có thời chúng tôi phải bóc vỏ cây nấu súp ăn. Mọi thứ tôi có ngày hôm nay là nhờ tôi phấn đấu lao động. Học xong trung học, tôi lên đại học. Tôi là kỹ sư xây dựng, tôi xây cất nhà cửa, và niềm tự hào lớn lao nhất của tôi là bệnh viện thành phố ở Havana. Tôi chịu trách nhiệm nguyên một tầng lầu, và ngài Fidel Castro đích thân chúc mừng tôi. Chuyện ấy làm sao xảy ra được ở những quốc gia khác ở vùng Caribbean? Ở mấy chỗ ấy, tới bây giờ người ta vẫn còn ăn vỏ cây. Cầu trời cho lãnh tụ anh minh của chúng tôi sống lâu hai trăm tuổi! Không có ngài chúng nó sẽ biến đất nước này thành một nhà chứa.”

Chủ Nhân: Thời Giờ Là Tiền bạc
Trong lúc tôi ăn điểm tâm ở Matanzas, một thiên đàng cho du khách trên vùng vịnh cùng tên, một cô gái ăn mặc khiêu gợi đến nhà khách. Nhìn cô ta khoảng mười bảy tuổi. Cô ta bước xuống từ một chiếc xe có bảng số màu đỏ. Cô ta kể lể cho tôi nghe về bà của cô, người đang ốm nặng, và tôi chắc chắn phải lái xe đưa cô đến chỗ bà của cô. Tôi muốn giúp cô và đang sỏ chân vào giầy thì người chủ ngăn tôi lại.
“Nó sẽ bắt ông chở đi vòng quanh phố xá cho tới khi nào chuyện xảy ra giữa hai người,” sau đó ông ta giải thích. “Mà dù chuyện có xảy ra hay không thì ông cũng phải cho cô ta tiền. Vì hai người đã đi với nhau. Quanh đây vô số người làm tiền theo kiểu ấy.”
Tập quán bòn rút tiền bạc từ người nước ngoài đến từ cấp trên. Bao nhiêu năm trời Fidel Castro sống bằng đồng rúp của Liên Xô. Khi Liên Xô sụp đổ, ông ta tìm ra người bảo trợ mới Hugo Chávez của Venezuela. Người viết tiểu sử Fidel Castro, một người Đức, ông Volker Skierka, ghi nhận: “Cái tên của công dân Cuba Fidel Castro được ghi vào hồ sơ Toà Bạch Ốc năm 1940. Ngày 6 tháng Mười Một năm ấy anh chàng nội trú trường Jesuit Dolores ở Santiago de Cuba gửi một lá thư ba trang giấy cho tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt chúc mừng ông tái đắc cử. Trước khi ký tên, với nét chữ bay bướm, “Goodby Your friend,” cậu ta ghi thêm một yêu cầu: ‘Nếu ông muốn, ông gửi cho tôi một tờ mười đô la Mỹ… Tôi muốn có một tờ.’… Cậu ta không nhận được hồi âm nào của tổng thống ngoài một lá thư cảm ơn của Bộ Ngoại Giao. Trong ấy cũng không có tờ mười đồng. Không ai ngờ rằng cậu thanh niên ấy lớn lên và tịch thu hết mọi thứ mà người dân Bắc Mỹ sở hữu ở Cuba.”
“Ông ta cũng tịch thu mọi thứ mà người dân Cuba có được. Thành ra họ ‘tịch thu’ bất cứ thứ gì thu được từ du khách. Một hình thức công lý lịch sử,” người nhân viên công ty du lịch vừa cười vừa nói.

Người công nhân: Tôi muốn đổi vợ
José Mendoza, một gã đàn ông đẹp trai hợp chủng, nằm ườn ra như ông vua trong băng ghế sau những chiếc xe cũ rích. Anh ta lên chiếc Peugeot của tôi cạnh một xa lộ từ Matanzas đến Santa Clara, có tên Autopista Nacional. Bên ngoài cửa sổ xe chúng tôi, lúc xe đang phóng đi với vận tốc sáu mươi dặm một giờ, bóng của những cây cọ, dài ngoằng vào thời điểm này, vùn vụt lướt qua. Chúng tôi đi qua vài đồn điền thênh thang trồng mía, nơi mà công nhân được đón đưa bằng xe vận tải ZIL của Liên Xô. Trông thấy đồng nghiệp, José hét vang, vẫy tay, và bừng bừng niềm hãnh diện vì hôm nay anh ta không phải đi xe vận tải với đám bạn mà là đi với tôi.
“Đây là lần đầu tiên tôi được ngồi trong chiếc xe có cái máy làm lạnh bên trong,” anh ta nói, mỉm cười, trong lúc anh ta tận hưởng làn hơi mát thổi lên da anh từ máy điều hòa không khí. “Tôi thường đi làm ngồi ép như cá hộp. Tôi làm ở Khu Công Nghệ Nông Nghiệp Fernando de Dios, một đồn điền trồng mía thật lớn. Mỗi sáng một chiếc ZIL đi vòng vòng trong làng đón chúng tôi, và nếu như xe không hư dọc đường thì chúng tôi đến chỗ làm lúc tám giờ.”
“Công việc được không?”
“Khó lắm. Tụi tôi chặt mía bằng mã tấu. Tôi vung mã tấu suốt mười tiếng đồng hồ một ngày, được nghỉ một tí lúc trời nóng nhất.”
“Lương khá không?”
“Mười đô la một tháng.”
“Đủ sống không?”
“Vợ tôi cũng đi làm. Tôi làm thêm phụ hồ. Khi không phải mùa gặt, tôi có thể làm gấp đôi gấp ba tiền lương thông thường. Ba chục đô la nhiều lắm chứ nhỉ? Ở đây ai cũng phải tìm việc làm thêm. Em trai tôi bán phô mai dọc đường xe. Em rể tôi lấy xăng từ xe vận tải công ty nó đem bán. Dì tôi nuôi gà rồi đem bán ngoài chợ Holguín. Vợ tôi viết thư thuê cho thiên hạ, còn ông già vợ tôi làm nghề hớt tóc.”
“Trong đời ông nếu được thay đổi thì ông muốn đổi thứ gì?”
“Tôi muốn đổi vợ – tôi chán bà ấy lắm rồi. Và đổi việc làm nữa. Tôi thà làm phụ hồ nhiều hơn là làm trong ruộng mía. Nhưng tôi cũng chẳng nên than thở. Cuộc sống tôi vậy là khá lắm rồi. Tôi không thể than phiền về đồn điền. Tôi gặp vợ tôi, và bạn gái tôi ở đó. Đầu tiên là vợ tôi. Bà ấy lo sổ sách cho chúng tôi. Mới đây tôi gặp Juana, một cô thợ chặt mía trong nhóm phụ nữ. Chúng tôi làm một tờ bích báo mừng sinh nhật Fidel. Chúng tôi đi chung đến Holguín để đón một đồng chí từ Havana đến để thuyết trình về tầm quan trọng của việc sản xuất đường mía trong việc tiếp tục sự nghiệp cách mạng. Hôm nay, lần đầu tiên, chúng tôi hẹn hò gặp nhau ở Holguín.”
“Anh nghĩ sao về tình trạng sức khỏe của Fidel?”
“Cầu trời cho ông ấy sống tới một trăm năm chục tuổi!” José nói một cách nhiệt tình. Nhưng ngay sau đó, anh ta im lặng.
“Anh sao vậy?” tôi hỏi.
“Ồ, không có gì hết… Ông biết không, rất khó tìm được lý do để đi lên thành phố. Và tôi nghĩ,” tới lúc này thì anh ta mỉm cười một cách ma mãnh – “khi Fidel chết, chắc chắn là chúng tôi phải làm một tờ bích báo khác.”

Nữ hoàng Salsa: những móng tay tôi dành cho Fidel
Vòng đeo tay, hạt chuỗi, vỏ sò, và khăn quàng; những lọn tóc giả lẫn với tóc thật; vòng đeo tai to và những móng tay dài. Ana, nữ vũ công và giáo viên salsa thượng thặng, một người đầy màu sắc mà tôi từng gặp trong đời, ngồi vững chãi với chân duỗi thẳng và cánh tay hơi cong một bên thân mình. Oswaldo, chồng và cũng là đồng nghiệp của cô ta ngồi cạnh bên.
Trước đây hai tiếng, họ đứng bên lề đường, chửi thề. Họ trên đường từ Veradero – nơi họ mới khiêu vũ trong một khách sạn – về nhà, thay vì trả thù lao cho chuyến quá giang, họ mời tôi mojito và cho tôi xem một màn biểu diễn salsa.
Cái máy hát rống lên và căn phòng rộn ràng âm thanh. Đầu tiên là tiếng trống, rồi tiếng kèn trumpet, và rồi giọng của Ibrahim Ferrer từ Hội Quán Xã Hội Buena Vista (người mà cặp vũ công này quen biết) hát về một tình yêu đầy gian truân nhưng đáng cho người ta hy sinh. Oswaldo tiến tới một bước, Ana lùi và lắc đầu để nói không. Khó chịu, anh lui một bước. Rồi cô tới một bước. Và cứ vậy, lập đi lập lại, vài lần, để diễn tả sự xung khắc của đôi tình nhân, mà vấn đề của họ là ai sẽ là người dấn bước đầu tiên. Nhạc càng lúc càng dồn dập, và bước nhảy cũng nhanh theo. Sau cùng, đến hồi kết thúc, họ ôm cứng lấy nhau. Quan khách vỗ tay, trong số đó có con trai họ và bạn gái của anh ta, con gái và những đứa bé con cô ta, cùng vài du khách.
Buổi trình diễn dành cho những khách hàng tương lai của Trường Dạy Múa Salsa Của Ana. Học phí là mười pesos (50 xu) một giờ. Mọi thứ xảy ra trong một căn phòng hẹp, ban ngày là học viện Salsa và ban đêm trở thành căn phòng chung cư của họ. Có một ấm nước, một điện thoại, và một tủ lạnh cũ. Trên vách tường và trong những ngăn tủ là những con búp bê Cuba ăn mặc như những cô gái trong những lễ hội.
“Tôi có âm nhạc từ trong gene cơ đấy,” Ana nói. “Trước chiến tranh ông tôi là người chơi nhạc jazz và trình diễn nổi tiếng. Ông cụ là tay chơi trống trứ danh. Ông cụ đi trình diễn khắp nước Mỹ và Châu Âu.”
“Thế còn bố mẹ bà thì sao?”
“Bà tôi có sáu người con. Mẹ tôi thì có mình tôi. Bà sống bằng nghề ca sĩ. Một công ty sản xuất đĩa nhạc hàng đầu, Fabia All Stars, ký hợp đồng với bà luôn cho mười albums, để bà không nhận thu băng với những công ty cạnh tranh với họ. Chúng tôi sống trong một căn nhà ngon lành ở ngoại ô. Mẹ tôi ly dị bố tôi – bà là người sống độc lập. Bà sống tới tận cùng. Còn tôi thì càng lớn càng thấy khó thích ứng với thực tại…”
“Nghĩa là sao?”
“Với sự bất bình đẳng. Với sự kiện có người là tỉ phú, trong khi những người khác không có một xu dính túi. Với sự kiện là sau buổi học tôi có thể đi ăn kem trong khi hàng ngàn trẻ em khác đi học còn không được. Cho đến khi cách mạng về. Mẹ tôi đâm ra tuyệt vọng. Đời bà kể như kết thúc. Tất cả những yến tiệc những dạ vũ với những nhà buôn giàu có đều kết thúc. Nhưng tôi lại thấy khác. Ngay cả khi Fidel Castro tịch thu nhà cửa và tất cả đồ đạc của chúng tôi, tôi vẫn tin ngài làm đúng.”
“Cô thực sự nghĩ vậy à?”
“Dĩ nhiên. Đất nước tôi là nơi duy nhất mà người dân thực sự bình đẳng với nhau.”
“Nhưng mà nghèo.”
“Nghèo thì ở đâu mà chẳng có. Nhưng bình đẳng thỉ chỉ có ở đây thôi, trên đất nước chúng tôi. Cách mạng là tình yêu của đời tôi, chỉ sau tình yêu Salsa. Tôi khiêu vũ cho Fidel Castro. Tôi cài những bông hoa đẹp trên tóc và sơn móng tay tôi cho ngài. Nhìn nè, cái móng dài nhất tôi sơn màu của quốc kỳ Cuba đấy.”
“Bà đã bao giờ ra nước ngoài chưa?”
“Mãi đến tuổi sáu mươi tôi mới ra, khi đi khiêu vũ cho buổi giới thiệu những sản phẩm của Hội Quán Xã Hội Vista. Thật là một kinh nghiệm đáng nhớ. Đi máy bay, ở khách sạn sang trọng, gặp gỡ những nhạc sĩ. Chúng tôi khiêu vũ ở London, Vienna, và Zurich. Các anh ở Buena Vista là bạn chúng tôi. Họ thu xếp chuyến đi. Ibrahim Ferrer thường ở chơi hàng giờ trong căn hộ chúng tôi. Mỗi khi cãi nhau với vợ, anh ấy lại đến chỗ chúng tôi mang theo chai rượu rum, uống cạn một mình rồi ngủ lại. Đáng tiếc là sau này anh ta làm nhiều tiền, mua căn nhà lớn bên ngoài Havana, và giả bộ như không quen biết gì chúng tôi hết. Rồi anh ta chết.”
“Tiền bạc làm lòng người thay đổi,” Oswaldo tiếp lời. “Chúng tôi chỉ làm vừa phải – đủ để sống. Chúng tôi đóng góp nhiều cho nhà nước – một tờ giấy phép cho cơ sở thương mại tốn vài trăm pesos, tương đương mười lăm đô la. Chúng tôi không đủ khả năng dọn ra chỗ rộng rãi hơn. Căn phòng này rộng mười hai mét vuông. Lúc trước năm người chúng tôi chen chúc nhau. May là bọn trẻ dọn ra. Chúng tôi không phải cho tụi nó tiền bạc đã là may lắm rồi.”
“Tôi sinh sáu đứa con. Cái ông ngựa này gây nên cớ sự cho tôi,” bà nói, trỏ ngón tay vào ông chồng. “Lần nào cũng vậy, cứ sinh xong hai tuần là tôi đi làm lại. Khiêu vũ là lẽ sống của tôi. Khiêu vũ và cách mạng.”

Thương gia Đức: Tôi bán cho họ bất cứ thứ gì
Bên con đường gần Ciego de Ábila, một tụ điểm thời thực dân đầy ắp xe ngựa, có một chiếc xe vận chuyển cả bốn bánh. Chiếc xe được kênh lên ấy có bảng số đỏ, giống như chiếc Peugeot của chúng tôi. Michael, một người Đức khoảng sáu mươi, đang loay hoay với chiếc bánh xe bị xẹp. Chỗ cho mướn xe không cung cấp vỏ xe sơ cua. Thành ra tôi cho ông ta quá giang và giúp ông ta tìm một tiệm vỏ xe.
Michael đang giả dạng nhân vật không phải ông ta. Trên giấy tờ ông ta là du khách, tạm trú tại một khu nghỉ mát. Trên thực tế, ông ta là một thương gia đi tìm mối làm ăn.
“Cuba là một trang giấy trắng,” ông ta giải thích. “Bản phân tích cho thấy sau khi Castro qua đời sẽ có thay đổi quá trình lên xã hội chủ nghĩa với những thành phần thị trường tự do. Bọn thời cơ tư bản chủ nghĩa. Hẳn nhiên là những bộ trưởng và các sĩ quan trẻ sẽ làm áp lực với Raúl. Đám ấy không chiến đấu trong cách mạng và chẳng có tâm tư gì với cách mạng hết. Họ chỉ cần làm ra tiền và cải thiện cuộc sống của họ.”
“Rồi sau đó thì sao?”
“Nếu Cuba mở cửa ra với thế giới, bạn sẽ có thể bán cho họ bất cứ thứ gì. Quần áo, xe cộ, đồ đạc, thực phẩm… đều thiếu thốn. Bất cứ thứ gì bạn nhập vào đây, bạn sẽ bán được. Quần lót phụ nữ ư? Bạn sẽ bán được. Thực phẩm đóng hộp ư? Cái đó cũng bán được luôn. Ghế ngồi? Bạn sẽ bán được. Gấu nhồi bông à? Bán được luôn. Họ đã tụt hậu tới năm chục năm! Tha hồ làm ăn với họ!”
“Vậy ông làm gì ở đây?”
“Tôi tìm một người đại diện cho công ty của tôi. Tôi nhắm vào những tay đổi tiền chợ đen, tay dắt mối khách sạn, bọn bán xì gà, đại loại như vậy. Đám đồng nghiệp của tôi ở Ba Lan làm như vậy đó. Tôi cũng qua đó vài lần.”
“Ở Ba Lan?”
“Đúng vậy! Cuba khiến tôi nhớ lại thời kỳ cuối của Cộng Sản ở Ba Lan. Cũng cùng một hình thức lệ thuộc giữa các dịch vụ và cơ sở thương mại. Những hàng người dài bên ngoài những cửa hàng bán cho khách nước ngoài và những cửa hàng bán cho dân. Rất nhiều sự bất ổn, nhưng cũng đầy hy vọng cho một tương lai sáng sủa hơn.”
“Vậy thì vấn đề lớn nhất của ông là gì?”
“Bắt mối với những dịch vụ. Nếu có sự chuyển biến ở Cuba, họ sẽ có mặt ở ngay sau đó. Không có họ, sẽ không thể nào đầu tư ở đây. Mỗi ngày tôi gọi cho vợ tôi và bảo bà ấy là tôi đang tìm những tay chơi. Tôi hy vọng bọn ấy nghe lén điện thoại của tôi. Và tìm đến tôi để bàn chuyện làm ăn.”
Tôi không có cách nào kiểm chứng những câu chuyện của Michael. Tin ông ta hay không, tôi cũng giúp ông ta ráp cái vỏ xe mới vá xong ở cửa tiệm vỏ xe hơi; rồi chúng tôi tạm biệt và tôi trở về Varadero.

Một năm sau khi Fidel Castro qua đời
McDonald đã ký xong hợp đồng với chính phủ Cuba – một năm sau khi Fidel qua đời, McDonald sẽ mở cửa tiệm đầu tiên ở Havana. Cửa tiệm sẽ tọa lạc tại Cathedral Square, ngay trung tâm Phố Cổ Havana. Món ăn đắt hàng nhất sẽ là bánh mì McRevolution, với chút sốt cà chua vẽ thành hình ngôi sao đỏ.
Dân chúng Havana kháo với nhau như thế.

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính

Tin tức khác...