The Vietnamese Newspaper in Canada

Nhật Bản lại nhận thêm một giải Nobel

Lý Anh

 

Sau Đệ nhị Thế chiến đến năm 2016, Nhật Bản có 25 người đoạt giải Nobel, dẫn đầu Châu Á, thứ nhì thế giới (sau Hoa Kỳ). Nhật Bản có được thành tựu này vì từ xưa tới nay nước này luôn luôn quan tâm đến việc đổi mới chế độ giáo dục, giúp đỡ các nhà nghiên cứu khoa học nắm vững khoa học kỹ thuật tiên tiến. Tổng số tiền chính phủ Nhật Bản đầu tư vào nghiên cứu khoa học nhiều hơn bất cứ nước nào. Năm 2001, thời TTg Junichiro, trong kế hoạch phấn đấu cho một nền khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển của Nhật Bản từng ghi rõ: “Trong 50 năm (2001 – 2050) Nhật Bản phải nhận được 30 giải Nobel”. Từ 2001 đến 2016 mới có 15 năm, Nhật Bản đã có 16 người đoạt giải, từ nay đến 2050 còn lại 34 năm, thế nào Nhật Bản cũng đạt được mục tiêu đã đặt ra.

 

Giải Nobel Y học 2016

Ngày 03/10, Viện Karolinska ở thủ đô Stockholm (Thụy Điển) công bố, giải Nobel Y học năm 2016 trao cho ông Yoshinori Ohsumi, giáo sư danh dự tại Học viện Công nghệ Tokyo (Tokyo Institute of Technology).

Giáo sư Yoshinori Ohsumi, chào đời năm 1945 tại Fukuoka (Nhật Bản), lấy bằng tiến sĩ năm 1964 ở Đại học Tokyo. Sau ba năm nghiên cứu tiếp tại Đại học Rockefeller ở New York, ông trở về Tokyo lập phòng thí nghiệm riêng của mình. Từ năm 2009, ông làm giáo sư ở Học viện Công nghệ tại thủ đô Nhật Bản. Sau khi biết mình đoạt giải Nobel, ông Ohsumi nói với ký giả Kyodo News: “Tôi vô cùng vinh dự!”.

Ông Yoshinori Ohsumi đoạt giải Nobel Y học 2016 với công trình nghiên cứu về các cơ chế thoái hóa và tái tạo các thành phần tế bào đem lại lợi ích to lớn trong việc chữa bệnh ung thư, tiểu đường loại 2 và Parkinson.

Hãng thông tấn BBC trích dẫn công bố của Viện Karolinska cho biết, giáo sư Yoshinori Ohsumi được trao giải Nobel Y học vì có những khám phá về quá trình tự hủy (autophagy) của tế bào – cách thức cơ thể phân tách và tái tạo các thành phần tế bào. Quá trình tự hủy là cơ chế mang tính chất nền tảng của tế bào. Nghiên cứu của giáo sư Ohsumi chỉ ra rằng, cơ chế tự hủy kiểm soát các tính năng cơ bản khi các thành phần tế bào suy thoái và tái tạo. Bản thông cáo của Viện Karolinska nói rõ thêm: “Các khám phá của Ohsumi dẫn tới cách hiểu mới về phương cách tái tạo của tế bào”.

 

Nhật Bản với các giải Nobel

Tối 13/10/2016, các đài truyền hình Nhật Bản nhất loạt đưa tin, ông Yoshinori Ohsumi, giáo sư danh dự tại Học viện Công nghệ Tokyo (Tokyo Institute of Technology) được Viện Karolinska trao tặng giải Nobel Y học năm 2016, thực hiện được kế hoạch 3 năm liền đoạt giải Nobel. Giáo sư Yoshinori Ohsumi là người Nhật Bản thứ 25 đoạt giải Nobel, người thứ 22 đoạt được giải Nobel khoa học, nhà nghiên cứu sinh và y học thứ 4 đoạt được giải này.

Trong số 25 người Nhật Bản đoạt giải Nobel có 17 nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý, 4 nhà khoa học đoạt giải Nobel Hóa học, 4 nhà khoa học đoạt giải Nobel Y học, 2 nhà văn đoạt giải Nobel Văn chương và 1 nhân sĩ đoạt giải Nobel Hòa Bình. So với các nước, Nhật Bản chỉ thua Hoa Kỳ, thứ nhì thế giới, đứng trên các nước Anh, Pháp, Đức …

Đây là lần đầu tiên trong 3 năm liền (2014 – 2016) năm nào Nhật Bản cũng có người đoạt giải Nobel: Năm 2014, 2 nhà khoa học Nhật Bản là Akasaki Isamu và Hiroshi Amano và ông Shuji Nakamura (người Mỹ gốc Nhật) do đã phát minh ra các diode phát ánh sáng màu xanh (the blue light-emitting diode – LED) cho phép tạo ra các nguồn sáng trắng sáng hơn và tiết kiệm năng lượng được trao tặng giải Nobel Vật lý. Năm 2015, giải Nobel Vật lý trao tặng cho nhà khoa học Nhật Bản Kajita Takaaki và nhà khoa học Canada Arthur B. McDonald do đã chứng minh được rằng neutrino thay đổi “hình dạng” của chúng. Thay đổi này chỉ có thể xảy ra khi chúng có khối lượng. Khám phá mới khiến giới khoa học phải thay đổi quan điểm lâu nay cho rằng neitrino không có khối lượng, hoặc có khối lượng rất nhỏ. thay đổi khá nhiều hiểu biết của nhân loại trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ. Năm 2016, lại thêm một nhà khoa học Nhật Bản được trao tặng giải Nobel Y học. Đó là giáo sư Yoshinori Ohsumi do đã có những khám phá về quá trình tự hủy (autophagy) của tế bào – cách thức cơ thể phân tách và tái tạo các thành phần tế bào.

So sánh 3 nước Châu Á kinh tế và khoa học đều phát triển là Đại Hàn, Nhật Bản và Trung Quốc về số giải Nobel đoạt được, chúng ta thấy rõ chênh lệch quá rõ ràng. Đại Hàn là nước kinh tế phát triển mau lẹ nhưng đến nay chưa một người nào lên bục lãnh giải Nobel. Trung Quốc trên 1 tỷ dân số mãi đến năm 2015 mới có một nhà khoa học lãnh giải Nobel Y học. Hai năm trước (2014 & 2015) Nhật Bản có 5 nhà khoa học đoạt giải Nobel, năm nay lại nhận thêm giải Nobel Y học, thật đáng ca ngợi.

 

Đọc thêm

Tỷ lệ tử vong vì Nipah lên tới 50%: Hàng loạt sân bay châu Á tái kích hoạt lá chắn thời Covid-19

Tình hình dịch bệnh Nipah bắt đầu lan rộng. Sự xuất hiện của những chiếc máy đo thân nhiệt và thẻ…

TPHCM tăng cường giám sát tại các cửa khẩu quốc tế để phòng chống bệnh Nipah

Ngày 26/1, trước thông tin một số quốc gia ghi nhận ca mắc bệnh do virus Nipah (NiV), Trung tâm Kiểm…

Hoa Kỳ kêu gọi công dân rời Iran “ngay lập tức”

Theo báo Newsweek ngày 12/01, Bộ Ngoại giao cùng đại sứ quán của Hoa Kỳ tại Tehran đã ban hành cảnh…

Tử Vi Hàng Tuần

Tuần thứ ba tháng 12 âm lịch (tháng Chạp hay tháng Sửu) năm Ất Tỵ có ngày tốt hơn cả là ngày 16 âm…
1 của 5,778

Vì sao người Nhật Bản

giành được nhiều giải Nobel khoa học?

Từ 1949 tới nay đã có 25 người Nhật được trao giải Nobel. Năm 2001, Nhật Bản đề ra mục tiêu phấn đấu trong 50 năm giành được 30 giải Nobel. Lúc bấy giờ nhiều người trên thế giới coi là trò đùa. Đến nay, 16 năm trôi qua, đã có 16 người được giải. Người Châu Á không thể không suy nghĩ tại sao khoa học và công nghệ Nhật Bản giỏi như vậy. Nguyên nhân chính là họ coi trọng giáo dục và khoa học kỹ thuật.

Từ thời đại Edo trước cuộc Duy tân Minh Trị, các triều đại phong kiến Nhật Bản xây dựng được truyền thống nghiên cứu khoa học cơ bản và chú trọng đào tạo thật nhiều nhân tài. Mặc dù thời bấy giờ Nhật Bản chưa làm cách mạng công nghiệp nhưng họ đã nghiên cứu độc lập các lĩnh vực như toán học, tiếp xúc với khoa học phương Tây qua Hòa Lan – quốc gia phương Tây duy nhất được chính phủ Nhật Bản thời đó cho phép buôn bán với họ. Sở dĩ ngày nay các nhà khoa học Nhật Bản được trao giải Nobel đó là do họ đã bỏ ra rất nhiều năm để tích lũy kiến thức khoa học, không phải chuyện ngày một ngày hai.

Sau Đệ nhị Thế chiến, Chính phủ Nhật Bản coi khoa học kỹ thuật là công cụ chủ yếu để xây dựng đất nước, nên đã tập trung đầu tư rất lớn cho sáng tạo khoa học kỹ thuật. Họ lập ra Hội Chấn hưng Khoa học Nhật Bản (JSPS, Japan Society for the promotion of Science) chuyên soạn thảo ấn định các dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Hội dựa vào kết quả thẩm định đánh giá công bằng để xét tài trợ cho những dự án nghiên cứu do các trường Đại học thực hiện. Ngoài ra, họ tài trợ cho các hoạt động giao lưu quốc tế. JSPS cấp 60% toàn bộ kinh phí nghiên cứu khoa học có tính cạnh tranh do nhà nước đài thọ, là một trong những nguồn kinh phí nghiên cứu quan trọng nhất ở Nhật Bản.

Chính phủ Nhật Bản cấp kinh phí nghiên cứu khoa học kỹ thuật cho các cơ quan nghiên cứu do nhà nước quản lý như các trường Đại học, các viện nghiên cứu. JSPS lập ra chương trình cấp kinh phí hỗ trợ nghiên cứu khoa học, gồm các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, vật lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật … và công bố các đề tài nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn nhân tài nghiên cứu và biện pháp sử dụng kinh phí. Kinh phí có các mức từ 0,5 triệu đến 200 triệu Yen (Theo giá hối đoái ngày 28/10/2016, mỗi Yen đổi được 0,0095 Mỹ kim). Trước thập niên 70 thế kỷ XX, ngân sách dành cho khoa học kỹ thuật tăng bình quân hằng năm từ 10 đến 20%. Nguồn kinh phí dồi dào đã tạo điều kiện thực thi tốt các dự án nghiên cứu, kể cả dự án dài hạn 10-20 năm sau mới có kết quả. Từ đầu thế kỷ XXI, kinh tế Nhật tăng trưởng chậm, ngân sách cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật vẫn không hề giảm sút.

Bên cạnh đó, khoa học cơ bản là nền tảng của công nghệ trong tương lai. Nếu muốn sinh viên sau này trở thành thủ lĩnh giới công nghệ, nhà nước phải coi trọng và đầu tư vào khoa học cơ bản chứ không phải là đầu tư vào khoa học ứng dụng, vì lĩnh vực này đã được các công ty đầu tư.

Tất cả các nhà khoa học Nhật Bản đoạt giải Nobel, kể cả hai người sau này vào quốc tịch Mỹ, đều tốt nghiệp các trường Đại học quốc lập ở trong nước, rất nhiều người đã giành được học vị tiến sĩ ở Nhật Bản. Các trường đó đều là trường đại học kiểu nghiên cứu, rất chú trọng công tác nghiên cứu cơ bản. Nhà trường bảo đảm các nhà khoa học có thể tiến hành những đề tài nghiên cứu dài hạn sau 10 – 20 năm mới có thể có ứng dụng. Các đề tài với thời gian vừa chỉ cần chú trọng vào lĩnh vực công nghệ ứng dụng có thể đem lại hiệu quả kinh tế.

Các trường Đại học Nhật Bản có số người được trao tặng giải Nobel khoa học như sau: Đại học Tokyo – 3; Đại học Nagoya – 3; Đại học Kyoto – 3; Đại học Đế quốc Kyoto – 3; Đại học Đế quốc Tokyo – 2 (nếu kể cả Nobel Hòa bình và Nobel Văn chương là 4). Sáu trường Đại học có 1 nhà nghiên cứu đoạt giải Nobel khoa học gồm: Đại học Tokushima, Đại học Kobe; Đại học Hokkaido; Đại học Nagasaki; Đại học Tohoku; Học viện Công nghệ Tokyo, nơi ông Yoshinori Ohsumi, chủ nhân giải Nobel Y học 2016 được tôn vinh là giáo sư danh dự.

Có thể nói, thành quả giáo dục của Nhật Bản hết sức to lớn, không chỉ đem tri thức văn hóa phổ cập đến toàn dân nhằm nâng cao dân trí, còn tạo ra những người làm việc nắm vững khoa học kỹ thuật phục vụ cho công cuộc cải cách giáo dục, phát triển khoa học kỹ thuật.

 

Thần tượng của thế hệ trẻ

Nhật Bản có truyền thống coi trọng nhà khoa học, giáo sư đại học… Các nhà nghiên cứu khoa học đều có địa vị cao hơn nhiều so với các giám đốc công ty, quan chức nhà nước và nghệ sĩ. Không những thế còn được trả lương rất cao. Đồng bạc 1000 Yen in hình Noguchi Hideyo nhà sinh vật học nổi tiếng nước Nhật (1876-1928). Không người Nhật nào không biết tiểu sử các nhà khoa học lừng danh của họ. Giới phụ huynh đều dạy con em mình noi theo gương các nhà khoa học, coi đó là thần tượng của mình.

Trong 16 nhà khoa học Nhật Bản đoạt giải Nobel từ năm 2001 trở lại đây có 11 người sinh ra vào thập niên 20 đến 40 thế kỷ XX. Năm 1949 họ hãy còn là những thanh niên mới lớn hoặc trẻ em dưới 10 tuổi. Năm ấy cả nước Nhật vô cùng phấn khởi khi nghe tin nhà khoa học Nhật Bản đầu tiên được tặng giải Nobel Vật lý 1949. Đó là ông Hideki Yukawa (1907-1981). Thành quả của ông đã cổ vũ nhiều thế hệ thanh niên Nhật Bản say sưa nghiên cứu khoa học. Ngày nay, nhiều cuốn sách, truyện, tranh ảnh về Yukawa vẫn bán đầy các hiệu sách. Nhà khoa học Isamu Akasaki, người được trao tặng Nobel Vật lý 2014 nhớ lại rằng, năm đó ông mới 20 tuổi, vừa vào Đại học, khi nghe tin Hideki Yukawa giành giải Nobel, ông đã tự nói với mình: “Ta cũng phải làm nên sự nghiệp gì!”. Đúng 65 năm sau, ông Isamu Akasaki giành được giải Nobel Vật Lý.

 Lý Anh

 

Tin liên quan