Nhà thờ Phát Diệm

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Từ lâu, tôi nghe tiếng đồn về Nhà Thờ Phát Diệm, một ngôi nhà thờ làm toàn bằng đá xanh, một kỳ công của thế kỷ. Phát Diệm cũng là giáo xứ đã tạo nhiều tiếng vang trong lịch sử về chống ngoại xâm. Phát Diệm cũng là nơi xuất phát cuộc di cư vĩ đại vào năm 1954…Nhưng, có lẽ chúng ta gác qua tất cả những chuyện đổi thay do thời cuộc để về xem một kỳ tích của Quê Hương.

Từ Sầm Sơn (Thanh Hóa) tôi đi chuyến xe sớm, về đến Ninh Bình mới có 7 giờ 30. Lót dạ bát cháo lươn quán bên đường rồi gọi một xe ôm, 30km đi về 40 nghìn đồng. Ðường về Phát Diệm tráng nhựa nhưng không phẳng, nhiều chỗ xe vồng ê cả người. Bảo xe chạy chậm xe không nghe. Ðường tuy vắng, nhưng cũng có cảnh sát “đóng chốt” bắt người không đội mũ an toàn. Nhiều chỗ xe ôm phải vòng vào xóm để tránh né. Ðời sống và luật pháp cứ cút bắt nhau, không biết bao giờ mới thật sự có “nếp sống văn minh”. Tuy chạy vòng vo nhưng lại gặp nhiều cảnh miền thôn dã rất đẹp: Dọc con đường làng, một bên lũy tre xanh, một bên nối tiếp những nếp nhà từ trăm năm trước, những hình ảnh rồi đây sẽ chỉ còn trong ký ức.

Thị trấn Phát Diệm nhỏ nhắn nhưng ngăn nắp, có sông Hồng chảy qua, có “cầu ngói” nối liền hai đường phố chính. Phố ít người, một hai chiếc xe chở khách du lịch lui tới. Nhà thờ nằm phía trên “cầu ngói” một đoạn không xa. Vào nhà thờ qua cửa tam quan bên hông (theo nét Gothic), trước nhà thờ là một hồ nước rộng có cồn nổi, có tượng chúa Giê Su. Ðứng từ ngoài trông vào, cảnh nhà thờ thật đồ sộ và đẹp tuyệt. Nước hồ phẳng lặng trong xanh, in bóng ngôi giáo đường rõ mồn một. Màu sắc, dáng vẻ của tâm linh bao giờ cũng thể hiện lòng mong muốn hòa bình. Không hiểu sao lại có người oán ghét, có người nhân danh tôn giáo để gây thảm họa cho loài người.

Vào trong, đã có một số khách Tây, có một đoàn nữ tu dòng Thánh Giá Huế chừng mươi vị. Tôi chụp thật nhanh bên ngoài để nhập với đoàn các sơ. Tôi vừa nghe nói có người đang tìm thầy phụ trách để hướng dẫn thuyết minh. Nhà thờ không có cảnh buôn bán tạp nham như đền chùa, nhưng giới chụp ảnh dạo ở đây khá đông, họ lại không tế nhị, cứ lang thang trước ống kính máy ảnh của du khách, nên khó chụp được một tấm hình tươm tất.

Ðiều thấy rõ là toàn bộ nhà thờ làm bằng đá. Mặt tiền nhà thờ được chạm trổ những hình ảnh các thánh, thiên thần, những hoa văn trang trí, nhất nhất đều rất tinh vi.

Hôm trước đi thăm thành Nhà Hồ ở Thanh Hóa, tôi đã ngạc nhiên về công sức người xưa, nay nhìn ngôi giáo đường lại càng không hiểu nổi. Ngôi giáo đường đồ sộ, cao hàng chục mét, ráp nối bằng những tảng đá xanh nặng hàng tấn, dưới thấp còn được, lên cao bằng cách nào! Từ hơn thế kỷ trước, con người lại tài trí hơn bây giờ?

Nét kiến trúc chung của nhà thờ Phát Diệm là theo phong cách tự viện Á Ðông. Mặt tiền giáo đường và tháp chuông (Phương Ðình) theo dạng Tam Quan, hai tầng tám mái, uốn cong mũi hài. Hai bên hông Nhà Thờ Lớn có hai nhà Thờ các Thánh: Giu Se, Thánh Phê Rô.

Với nét kiến trúc như thế nhà thờ Phát Diệm quen thuộc với người bản xứ, Thiên Chúa Giáo đã thâm nhập vào lòng người cách dễ dàng ngay từ buổi đầu mới du nhập. Nhà thờ Phát Diệm là một kiến trúc hoàn toàn khác lạ với những nhà thờ khác ở Việt Nam. Khác mà thân quen.

Ðã có người mở cửa Nhà Thờ Lớn, các sơ được hướng dẫn vào bên trong. Vào trong mới thấy vẻ nguy nga đồ sộ của ngôi giáo đường. Một Thầy trẻ tuổi đang thuyết minh về ý nghĩa từng phần trong Nhà Thờ. Ðại ý Thầy nói:

“Quí vị thấy chung quanh Cung Thánh sơn son thếp vàng nhưng không phải hoàn toàn cùng một cách. Phía vách lưng được dát vàng thật. Người xưa nấu vàng rồi quét lên một lớp giấy, lớp vàng này rất mỏng, cứ mỗi chỉ vàng thì trải ra được một diện tích nhất định. Những nơi cần dát vàng, được phủ một lớp nhựa sau đó áp giấy vàng lên, chờ vàng ăn vào hoa văn mới lột giấy ra. Cách làm y như dán decal.

Còn những phần khác trong thánh đường là quét nhũ vàng.

Trong giáo đường ngay ở bục giảng này, cũng đã có 6 ngôi mộ của các Giám Mục qua đời tại đây. Ðầu tiên là một Giám Mục người Pháp mất năm 1939. Mỗi khi có một Giám Mục của giáo xứ qua đời thì phần nền này lại được gỡ gạch để an táng các Ngài. Riêng Cha Trần Lục, người thiết kế và làm nên ngôi nhà thờ thì an táng ở sân trước. Vì, lúc qua đời, Ngài chưa được phong Giám Mục, đó là luật của Giáo Hội”.

Tôi theo các sơ ra sân để được nghe giảng tiếp về Cha Trần Lục. Lúc đến bên ngôi mộ xi măng đơn giản, nằm ngay bên trong cửa Phương Ðình, tôi thấy mấy dòng ghi trên mộ:

Cha Trần Lục (Cụ Sáu) người kiến thiết khu nhà thờ Phát Diệm, sinh năm 1825 tại làng Mỹ Quan huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xứ Kẻ Dừa. Chịu Linh Mục năm 1860, Chính Xứ Phát Diệm năm 1865. Qua đời ngày 6 -7-1899.

Người thuyết minh nói tiếp: “Cha Trần Lục, đầu thế kỷ 19, khi thiết kế nhà thờ đã sẵn có ý nghĩ phác họa một khu nhà thờ mang tính địa phương, nghĩa là cho giáo dân bản địa, không mô phỏng lối cấu trúc của nhà thờ Tây Phương. Ngay trên vách đá mặt tiền, Ngài cho khắc 4 chữ Hán: Thánh Cung Bảo Tọa, rồi Tháp Chuông làm theo lối cổng đình và trên nền vuông nên gọi là Phương Ðình. Trong Phương Ðình có một tảng đá lớn: 4m20 x 3m20 dày 30cm, nặng mấy chục tấn nơi diễn ra bữa tiệc chia ly của Chúa. Nhiều người tự hỏi, đá lấy từ đâu, chuyển vận bằng cách nào. Cách nào không biết nhưng chắc chắn đi bằng đường thủy, vì một trăm năm trước nơi này toàn rừng núi. Tại sao bàn tiệc chia ly lại là sập đá. Ngày trước, mỗi khi có việc đình đám, người ta trải chiếu ngồi sập chứ không ngồi bàn. Cha Lục muốn mô phỏng ý đó nên không dùng bàn dài như trong các nhà thờ phương Tây. Một điểm nữa, tiệc lúc nào cũng có thứ cấp nên hai bên sập lớn có hai sập đá nhỏ hơn thấp hơn. Sập đá vuông, vòm tháp chuông tròn, hai ý niệm về Ðất Trời được gợi ra…”.

Sau đó mọi người lên xem đại hồng chung. Quả chuông cũng gói ghém nhiều ý nghĩa mà Cha Trần Lục muốn để lại. Chuông đánh bằng vồ như chuông chùa, không giật dây, Cha không muốn làm chuông như chuông nhà thờ Tây Phương. Chuông cao 1m90, miệng 1m10, nặng gần 2 tấn. Chuông do nữ trang của giáo dân góp lại, đúc vào năm 1890, nhưng 9 năm sau mới được treo lên. Hiện nay mỗi ngày ba buổi chuông được đánh lên và tiếng ngân vang ra đếân Nam Ðịnh và vào tận Thanh Hóa. Cuối cùng, Thầy hứớng dẫn giảng cho mọi người “Lời của chuông” được ghi lên 4 mặt: Tôi ca ngợi Chúa – Mời gọi giáo dân khóc thương người chết – Xua đuổi ôn dịch – Làm đẹp trần thế.

Lần đầu tiên nghe được lời của một quả chuông, một tấm lòng bao la bác ái, một tâm nguyện thiết tha mong làm đẹp loài người. Mong tiếng chuông Phát Diệm đi xa hơn nữa, hãy vang đến tận những nơi mà con người còn đầy lòng sân hận chém giết nhau.

 

 Trần Công Nhung

1-h9 1-h2 1-h3 1-h5 1-h6 1-h8

Tin tức khác...