NGÔI MỘ BÊN SÔNG

Nguyễn Ngọc Ngạn

(Tiếp theo )

Lý Hưng miễn cưỡng đứng dậy bước ra sân, bất giác đưa mắt nhìn về căn buồng của phụ thân ông và cảm thấy rờn rợn khắp người. Nhưng ông chưa kịp lên nhà thay quần áo thì nghe giọng nói quen thuộc của bà Giao, hàng xóm, vang lên từ ngoài cổng:
– Ông Lý dậy sớm nhỉ!
Lý Hưng đứng khựng lại giữa sân, quay nhìn bà hàng xóm đang từ ngoài cổng tiến vào. Vì đầu óc quá vướng bận, ông hỏi nhanh cho có chuyện:
– Vâng! Chào bà! Tưởng giờ này bà đi chợ rồi?
Bà Giao lại gần, tắt nụ cười và nghiêm trang bảo:
– Có câu chuyện định sang thưa với bà Lý, nhưng mà nhân tiện gặp ông thì tôi nói luôn cũng được!
Lý Hưng ngạc nhiên lắm. Bà Giao là láng giềng gần gũi, nhưng ít khi nào sang nhà ông vào giờ này. Lý Hưng miễn cưỡng bảo:
– Vâng, Mời bà vào xơi cốc nước! Nhà tôi đang ở trong bếp!
Lý Hưng toan cất tiếng gọi thì bà vợ đã chạy ra, đứng trên thềm niềm nở hỏi:
– Bà Giao đấy ư? Có việc gì mà bà sang em sớm thế?
Bà Lý toan mời bà hàng xóm lên phòng khách, tức là gian giữa của căn nhà chính. Nhưng lại sực nhớ ra sát bên cạnh là gian thờ của ông bố chồng vừa mới hiện về lúc nãy, nên bà rủ khách vô bếp. Bà bảo:
– Bà vào tạm trong nay ngồi cho ấm. Mùa Thu năm nay xem chừng rét hơn mọi năm!
Bà Giao theo chủ nhà vô ngồi ở bàn ăn. Lý Hưng cũng tò mò đi theo, kéo ghế ngồi bên vợ. Toán rót thêm tách trà. Khi mọi người vừa yên vị, thì bà hàng xóm nghiêm mặt nói:
– Sang để thưa với ông bà là tối hôm qua, nói đúng ra thì lúc ấy đã là nửa đêm về sáng rồi, tôi ra sau nhà đi giải… xin lỗi ông bà! Nom sang vườn nhà ông bà thì tôi giật bắn cả người, suýt nữa kêu làng nước, vì tôi thấy có người ngồi tựa vào gốc cây trong vườn nhà ông bà. Cái cây soan già ở góc vườn…
Lý Hưng sửng sốt cắt ngang:
– Đàn ông hay đàn bà? Già hay trẻ!
Bà hàng xóm tỉ mỉ đáp:
– Trăng không sáng lắm, nhưng tôi cũng thấy rõ là đàn ông, lớn tuổi rồi! Phải nói là già rồi thì đúng hơn!
Bà Lý vội đưa mắt nhìn Toán vì cùng hiểu rằng đó chắc là cụ Bá. Nghĩa là hồn ông bố chồng vẫn còn lẩn khuất quanh ngôi nhà này. Bà hàng xóm kể tiếp:
– Tôi sợ quá, bỏ chạy vào nhà, đánh thức ông nhà tôi dậy. Ông nhà tôi cầm cái gậy chạy ra. Thoạt đầu thì tôi đoán là kẻ trộm rình nhà ông bà. Nhưng ông nhà tôi bảo, nếu là kẻ trộm thì nom thấy bà nó phải bỏ chạy ngay chứ, sao lại vẫn cứ thản nhiên ngồi ở gốc cây! Vả lại, có ai đi ăn trộm vào đêm trăng mà lại mặc áo trắng bao giờ!
Bà Lý sửng sốt ngắt lời:
– Bà bảo sao? Người đàn ông mặc áo trắng?
Bà Giao giải thích thêm:
– Không trắng lắm, nhưng rõ ràng là màu trắng đục!
Bà Lý lại đưa mắt nhìn Toán vì cả hai cùng tin chắc đó là cụ Bá Phục. Bà hàng xóm kể tiếp:
– Tôi theo ông nhà tôi ra sân, thì người ấy đã biến đi mất rồi! Ông nhà tôi với tôi đứng nhìn quanh mãi, không thấy, mới quay vào ngủ, nhưng cứ nằm trằn trọc mãi chả ngủ được! Tôi định sang đánh thức ông bà nhưng nhà tôi cản mãi tôi mới thôi!
Mọi người đều im lặng. Bà hàng xóm kết luận:
– Ông bà thử xem lại sau nhà hoặc là trong nhà, xem có mất mát gì không?
Dứt lời bà đứng dậy và từ giã:
– Hôm nay bên Vân Mại có chợ phiên. Tôi phải đi sớm mới kịp. Thôi xin phép ông bà!
Bà Lý tiễn khách ra tận cổng và hai ba lần cảm ơn.
Lý Hưng thì ngồi thừ trong bếp, tay bưng tách trà nhưng không uống. Ông không biết phải làm gì bây giờ! Hai nhà sư đã tụng kinh liên tục mà hồn thân phụ ông vẫn không siêu thoát, vẫn cứ hiện về làm ông rất áy náy.
Bà Lý từ ngoài sân trở lại bếp. Thấy chồng ngồi đăm chiêu lo lắng, bà nhắc lại:
– Ông lên thay quần áo rồi sang thắp hương cho thầy đi đã!
Ý bà Lý muốn chồng mình vào thử gian nhà thờ xem cụ Bá có hiện về nữa hay không. Lý Hưng miễn cưỡng đứng dậy bước ra. Đứng dưới mái hiên nhà bếp, ông nhìn lên dãy nhà chính nơi ông sinh ra và lớn lên 40 năm qua, hôm nay mới bắt đầu thấy rờn rợn vì có cảm tưởng âm khí đang vây quanh. Mảnh vườn sau rất rộng của gia đình ông, trồng hàng chục gốc mít và bưởi già cỗi, từ tuổi thơ ông đã vui chơi ở đó. Hôm nay nghe bà hàng xóm kể chuyện đêm qua, tự dưng ông cũng thấy khu vườn ấy trở nên âm u mà có lẽ từ nay ông sẽ không dám ra một mình nữa!
Lý Hưng băng ngang mảnh sân gạch lên nhà. Ông vào thay bộ quần áo sạch sẽ hơn rồi ra hành lang, rẽ sang gian nhà thờ của phụ thân. Ông thở mạnh, thu hết can đảm chầm chậm tiến lại trước gian nhà thờ. Con mèo đen đang nằm trước cửa, gầm gừ nhìn ông, xù lông trợn mắt rồi lao vụt xuống sân. Ông đứng ngoài hiên nhìn vào căn buồng mờ tối, dè dặt bước vô, từ từ tiến lại bàn thờ, tay run run bật diêm đốt nhang, lâm râm khấn vái. Bỗng ông giật mình kêu rú lên vì có bàn tay ai vừa đặt lên vai ông. Ông co rúm người quay đầu nhìn lại, nhưng không hề có ai, ngoại trừ cái không khí lạnh toát bất chợt bao phủ quanh ông. Ông đứng chôn chân tại chỗ vì tuy chẳng thấy ai nhưng ông nghe rõ tiếng bước chân từ trong phòng đi ra rồi bức mành trúc vén lên, buông xuống. Tiếng bước chân ấy xa dần, nhỏ dần, rồi biến mất. Ông cắm đầu lao ra cửa chạy một mạch thẳng xuống bếp. Thấy mặt ông nhợt nhạt, đôi mắt lạc thần và toàn thân run lẩy bẩy, bà vợ đỡ ông ngồi xuống ghế và lo âu nói:
– Ông thấy thầy về phải không? Tôi đã bảo mà ông không tin tôi!
Ngồi một lúc để trấn tĩnh, Lý Hưng vừa thở vừa nói:
– Tôi không nom thấy thầy! Nhưng tôi biết thầy về!
Bà Lý ưu tư nhìn chồng hỏi lại:
– Ông nói thế là thế nào? Ông không thấy thầy mà ông biết thầy về, nghĩa là sao?
Lý Hưng mệt mỏi đáp:
– Thầy đặt bàn tay lên vai tôi! Tay thầy lạnh buốt. Rồi tôi nghe tiếng bước chân thầy từ trong nhà đi ra sân!
Toán ngồi nghe, mặt tái xanh, nhưng không dám nói gì. Im lặng một chút, Lý Hưng bảo:
– Tý nữa tôi với bà ra bờ sông viếng mộ thầy! Tạt qua chợ, mua thật nhiều vàng mã đốt cho thầy!
Bà Lý đăm chiêu đề nghị:
– Viếng mộ thì ngày nào chả viếng được! Nhưng tôi thấy mình nên lên chùa, đón hòa thượng về đây làm lễ cầu siêu cho thầy lần nữa. Nói thật với ông là tôi sợ lắm! Thầy phải siêu thoát thì mình mới sống yên ổn như cũ được!
Lý Hưng lúc này đầu óc đang bấn loạn nên vợ bảo gì cũng xuôi theo:
– Thế cũng được! Ăn trưa xong mình đi. Chùa có 2 thầy, mình thỉnh cả hai! Nhưng bà nhớ lát nữa gặp các thầy trên chùa, tuyệt đối không cho các thầy biết chuyện xẩy ra ở nhà mình! Chỉ xin các thầy làm lễ cầu siêu cho người quá cố và cầu an cho gia đình mình mà thôi!
Bà Lý gật đầu đồng ý ngay nhưng Toán nhìn bà và dè dặt nói:
– Thưa, con lạm bàn thế này: Mình đã rước các thầy trên chùa về mà không nói rõ thì quí thầy biết mình cầu xin cái gì!
Bà Lý khẽ gật đầu nhìn chồng vì thấy Toán có lý.
Nhưng Lý Hưng dứt khoát gạt đi:
– Các thầy không biết nhưng Phật tổ chả nhẽ cũng không biết mình muốn gì, mình cầu xin cái gì hay sao! Nói cho các thầy biết là ông hiện hồn về, rồi tiếng đồn lan ra khắp làng thì làm sao? Cứ lờ đi! Bà cứ bảo với các thầy là nhờ các thầy cầu siêu thêm một lần nữa cho… chắc ăn!
Dứt lời Lý Hưng đứng dậy đi sang nhà tắm rửa mặt cho tỉnh táo. Bà Lý phụ với Toán nấu bữa trưa cho mau. Đầu bà nặng trĩu. Không giải quyết xong việc này, nghĩa là nếu ông bố chồng còn hiện về một lần nữa thì bà không thể sống ở đây được. Căn nhà cũ đầy kỷ niệm này từ nay sẽ biến thành căn nhà ma, mà ma thì không thể chung sống với người được!
Toán nhìn bà Lý thành khẩn nói:
– Bà ơi! Nếu cả ông bà cùng đi lên chùa, thì cho con đi theo, hoặc để con đi chợ chứ con không dám ở nhà một mình đâu!
Bà Lý nhìn Toán thông cảm, gật đầu nói:
– Ừ! Thôi cứ nấu cơm xong đi. Rồi xách giỏ đi chợ!
Sau bữa cơm trưa vội vã, bà Lý bảo chồng:
– Tôi lên thay áo dài rồi mình đi. Chốc nữa nắng gắt lắm! Chùa nằm trên đồi, leo hết con dốc lên đến chính điện lắm hôm mệt nhừ cả người!
Lý Hưng ngồi uống nước xỉa răng hững hờ đáp:
– Ừ! Bà lên nhà thay quần áo đi! Tôi cũng lên bây giờ!
Hai mươi phút sau, bà Lý ở trong buồng bước ra. Vì đang có đại tang, bà mặc áo dài mầu đậm và đầu vẫn chít khăn trắng. Mở cửa bước ra, bà nghe sau nhà có tiếng võng đưa. Ngay sau gian buồng của bà, Lý Hưng cho căng cái võng cói, một đầu buộc vào cột nhà, đầu kia buộc vào thân cây mít. Ông có thói quen sau bữa trưa ra nằm ngủ trên võng, lắm hôm mát trời, mãi đến xế chiều ông mới dậy.
Bà Lý bước xuống thềm, vào bếp để dặn dò Toán vài câu. Bà bực mình vì thấy chồng mình không hề tỏ ra lo lắng về chuyện ông bố hiện về. Đã hẹn ăn xong cùng nhau lên chùa mà còn ra nằm ngủ trên võng. Bà cầm cái quạt nan che nắng, đi vòng ra hông nhà và lớn tiếng cằn nhằn:
– Đã bảo là phải đi ngay, sao còn ra võng nằm ngủ!
Nhưng bà chưa dứt câu thì có tiếng Lý Hưng vang lên từ ngoài cổng. Ông gọi:
– Nhanh lên bà ơi! Bà giục tôi mà sao bà chậm thế!
Bà Lý giật mình choáng váng quay lại, thấy chồng mình đang đứng bên cạnh cổng chính dẫn ra đường. Thế thì người đang nằm võng là ai? Bà hoảng hốt quay nhìn lại thì không còn thấy ai nằm trên võng nữa! Chiếc võng trống trơn, nhè nhẹ đưa qua đưa lại!
Bà Lý đi nhanh như chạy ra cổng, đưa bàn tay lạnh ngắt nắm lấy tay chồng. Bà run run bảo:
– Tôi tưởng ông nằm ngủ trên võng!
Lý Hưng ngơ ngác nhìn vợ đáp:
– Lúc bà vào buồng tắm, tôi thay vội quần áo rồi ra thẳng đây chờ bà!
Bà Lý run run bảo chồng:
– Tôi nói thế là vì tôi vừa thấy có người nằm trên võng sau nhà mình! Tôi tưởng là ông! Không phải ông thì chắc là thầy lại hiện về!
Lý Hưng lại giật mình nhưng chưa biết nói gì thì bà vợ não nề kết luận:
– Căn nhà này không ở được nữa rồi! Dứt khoát không thể ở được nữa!
Lý Hưng trấn an vợ:
– Thôi thì cứ lên chùa thỉnh các nhà sư về đây cầu siêu một lần nữa xem thế nào!
Bà Lý sợ một thì ông Lý sợ hai! Câu nói của Toán lúc nãy trong bếp cứ ám ảnh mãi trong đầu ông làm ông bồn chồn đứng ngồi không yên. Toán nói:
– Con nghe bảo, những người bị chết oan, hồn không siêu thăng được thì thường hay hiện về!
Lý Hưng tự nhủ: Bố ông lên cơn suyễn, nghẹt thở rồi chết, có thầy thuốc xác nhận, sao lại bảo chết oan!
Xế chiều, ở chùa về, Lý Hưng uống vội tách trà rồi lấy bó nhang cùng một đống tiền vàng mã và bảo vợ:
– Bà ở nhà! Tôi ra viếng mộ thầy!
Toán đi chợ về từ lâu nhưng không dám vào nhà. Cô tạt sang nhà bà Giao nói chuyện nắng mưa vớ vẩn. May quá mới ngồi một lúc thì ông bà Lý về. Toán đi vào nhà thì Lý Hưng đi ra. Ông ra thẳng bờ sông, đến trước mộ phần của cụ Bá.
Từ xa Lý Hưng đã kinh ngạc đứng khựng lại vì thấy con mèo đen của cụ Bá đang ngồi trên ngôi mộ trắng toát mới xây. Làm sao nó mò ra được tận đây! Lý Hưng tự hỏi rồi chầm chậm bước tới. Con mèo thấy Lý Hưng, vội kêu thét lên rồi phóng vụt vào bụi cây gần đó. Lý Hưng thở mạnh rồi quì xuống, khẩn khoản van xin, đôi mắt rưng rưng ngấn lệ:
Thầy ơi! Thầy sống khôn thác thiêng, xin thầy tha lỗi cho con! Con nguyện suốt quãng đời còn lại sẽ tu thân tích đức để chuộc lại cái tội tầy đình của con! Xin thầy khoan thứ cho con, đừng về nữa! Con biết tội rồi!
Khấn vái xong, Lý Hưng bước xuống mé sông. Ông cần ngồi dưới tàn cây một mình để đăm chiêu suy tính. Ông nhìn ra dòng sông nhỏ lúc nào mặt nước cũng phẳng lặng. Hai năm trước, mảnh đất này chưa thuộc về Lý Hưng. Ngày đó ông đã mất chức lý trưởng, quay về làm ruộng, nghĩa là đích thân ra coi thợ cấy thợ gặt vì đất của gia đình ông nằm dọc bờ sông khá nhiều.
Một hôm, có chiếc thuyền con chở hai người đàn ông, tắp vào bờ, hỏi thăm Lý Hưng mấy chi tiết về vùng này. Nói chuyện vài câu, Lý Hưng biết đó là ông thầy địa lý dẫn học trò đi thực tế để chỉ cho học trò các thế đất quí mà người ta thường gọi là tìm long mạch! Hai thầy trò thuê một chiếc thuyền con đưa đi dọc theo sông, đến địa phận làng Vân Đài này thì dừng lại để quan sát. Tò mò, Lý Hưng mời hai người ngồi nghỉ dưới tàn cây, có mái che lợp bằng rạ, là nơi thợ của ông tụ tập ăn cơm trưa. Lý Hưng mời khách uống bát nước chè tươi và ăn cái bánh gai đặc sản của làng ông. Bao nhiêu năm qua, Lý Hưng vẫn thường nghe cụ Bá nhắc đến môn địa lý, nhưng chính cụ Bá cũng không hiểu thấu đáo để giảng cho con. Hôm nay tình cờ gặp đúng người, Lý Hưng mừng rỡ niềm nỡ tiếp khách và nêu ra một loạt câu hỏi. Thầy địa lý không giấu nghề nhưng cười bảo:
– Ông Lý nghe cho vui thôi! Chứ môn này học cả đời chưa thông, nói chi một ngày một buổi! Lý thuyết thì đơn giản, nhưng thực tế khi đi tìm đất thì khó lắm!
Ba người đi bộ dọc theo bờ sông chừng nữa tiếng thì thầy địa lý leo lên một mô đất cao, đưa mắt nhìn tứ phía rồi vẫy tay gọi anh học trò leo lên. Lý Hưng cũng hiếu kỳ treo lên theo. Thầy tỉ mỉ giảng cho đệ tử:
– Cuộc đất này, chỗ tôi đang đứng đây này, có thể gọi là tốt đấy! Mình đi dọc theo dòng sông cả tuần nay, hôm nay mới gặp được một mảnh đất tốt! Thế đất cao, không sợ bị úng thủy. Anh nom kia kìa: Trước mặt, trên sông bên trái, bên phải có hai cồn đất thiên nhiên, đúng là Thanh Long, Bạch Hổ thiên tạo! Tuy chưa thể gọi là “long mạch” nhưng đây là miếng đất rất hiếm!
Anh học trò nhanh tay ghi chép vào cuốn sổ nhỏ. Lý Hưng tò mò hỏi:
– Hiếm là thế nào hở thầy? Nó quí ở chỗ nào?
Thầy địa lý chỉ mỉm cười không trả lời nhưng anh học trò mau miệng đáp thay:
– Nói thế này thì ông Lý dễ hiểu hơn: Thí dụ an táng người cha đúng vào thế đất tốt thì con cháu sẽ phát lên. Cho nên nhà giàu ngày xưa thường thuê thầy địa lý tìm đất để mai táng, hy vọng dòng họ sẽ thành đạt!
Lý Hưng háo hức nhìn thầy địa lý hỏi lại:
– Thầy bảo miếng đất này tốt hả thầy? Miếng đất mình đang đứng này là long mạch hả thầy?
Thầy vẫn chỉ cười. Anh học trò đáp thay:
– Không phải long mạch. Chưa đáng gọi là long mạch, nhưng là cuộc đất tốt, có thể gọi là đất phát!
Ba người trở lại chòi của Lý Hưng, ngồi nói chuyện một lúc thì dưới sông, người lái đò đã bơi thuyền đến. Hai thầy trò tạm biệt Lý Hưng để xuống ghe. Lý Hưng tiễn ra sát mé sông và khách sáo dặn:
– Có dịp ghé qua làng Vân Đài, xin rước thầy vào tệ xá uống cốc nước. Thầy cứ hỏi nhà cụ Bá Phục hoặc nhà Lý Hưng, chúng tôi sẽ hân hạnh rước thầy vào chơi! Thầy nhớ cụ Bá Phục hoặc Lý Hưng thầy nhé!
Thầy địa lý hớn hở đáp:
– Thế thì quí hóa quá! Thể nào tôi cũng đến. Thầy trò chúng tôi vân du khắp nơi, gặp được gia chủ hiếu khách là mừng rồi!… Thôi! Xin chào ông Lý!
Con đò nhỏ chèo đi khá xa rồi, Lý Hưng vẫn còn đứng trông theo và vẫy tay tiễn biệt.
Buổi chiều về nhà, Lý Hưng giấu kín chuyện gặp thầy địa lý. Ngay hôm sau ông đến nhà bà Giản hỏi mua miếng đất mà thầy địa lý khen là đất phát. Bà Giản chủ nhân miếng đất ấy là mẹ góa con côi, đã nghèo lại đơn chiếc nên rất sợ oai cha con Lý Hưng mặc dù ông không còn là lý trưởng nữa. Nói đúng ra thì ở nông thôn người nghèo lúc nào cũng sợ người giàu. Lý Hưng chì chiết bảo:
– Tôi định xây lò gạch ở đấy! Tiện múc nước dưới sông lên. Một là bà để lại cho tôi sào đất ấy, tôi không để bà thiệt thòi. Hai là tôi đổi cho bà miếng đất khác, có cần bù thêm ít nhiều thì bà cứ nói!
Bà Giản ân cần bảo:
– Ông Lý đã có tiếng nói thì tôi từ chối thế nào được! Thôi, ông cứ làm giấy tờ văn tự đi, tôi ký tên điểm chỉ ngay. Giá cả là tùy ở ông. Làng này ai cũng biết ông không phải là hạng người tính đếm để thiệt hại cho người khác! Bán cho ai thì tôi lo, chứ bán cho ông Lý thì tôi yên lòng lắm!
Thế là Lý Hưng sở hữu mảnh đất mà thầy địa lý gọi là “đất phát” hay “đất kết”. Mai kia ông nằm xuống, an táng tại đây thì con cháu sẽ phất lên làm rạng rỡ cho gia tộc! Con gái đầu lòng của ông đã lấy chồng ở làng bên cạnh. Hai thằng con sinh đôi mười mấy tuổi thì ông gửi trọ học trên thị xã vì làng không có trường dạy Quốc ngữ. Có miếng đất long mạch này thì sau này khi ông chết, chắc chắn hai đứa sẽ thành đạt dễ dàng!
(Còn tiếp)

Tin tức khác...