NGÃ RẼ

Vô Đề (Untitled Jiro Yoshihara)

Mặc Bích

Cơn gió thổi thốc từ phía sau làm những bước chân của Đông Nghi chợt vội vã trong những nhịp không đều. Chiếc váy dài sát vào đôi chân, hằn lên những đường cong phải có. Mái tóc nàng bay dạt về phía trước như muốn bứt tung khỏi đầu. Ngọn gió lôi nàng đi lẫn trong từng đám lá khô đang tưng bừng bay bổng. Cát, bụi, cây cỏ, trời đất và người con gái đang bị đẩy dạt về một phía duy nhất: trước mặt. Cái màu sáng trong vắt ban nãy bị nhuộm đục ngầu, mỗi lúc một âm u hơn với những đám mây xám đen nghìn nghịt đồng hành với ngọn gió dữ. Sẽ mưa. Mưa lớn. Như bão tố. Đông Nghi nhìn quanh quẩn tìm kiếm một chỗ trú mưa. Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống ngay bờ mi nàng, trên má, lạnh, nhột, len lén chảy xuống thấm vào môi nàng, ngòn ngọt là lạ! Kỳ quặc! Không phải giọt mưa kỳ quặc mà chính nàng thấy kỳ quặc bởi sự liên tưởng của “sự len lén” và “cái vị ngòn ngọt” của đất trời kia! Giống một cái gì! Hai vành tai Đông Nghi chợt nóng lên.
Cái cổng sắt mở một nửa của căn nhà gần sát ngay đó trên đường khi cơn mưa đổ xuống là một ngã rẽ bất ngờ. Đông Nghi chạy vội vào sân trong, chẳng kịp nhìn ngôi nhà ra sao. Đứng dưới mái hiên nàng hơi rùng mình. Mấy giọt mưa làm như không chỉ thấm qua áo mà vào tận bên trong, qua làn da, rúc đến xương, rút cả người nàng lại. Lúc đầu chỉ là từng vạt nước mưa dịu dàng. Dần dà, xối xả, cuồng nhiệt hơn, tạt vào trong hiên, thăm dò hết nửa người nàng. Dù qua màn mưa Đông Nghi vẫn nhận ra cảnh vườn Nhật. Vài cây thông lùn ở mé ngoài, những bờ sỏi xám, ụ đá, những chiếc đèn lồng mà ban ngày thu hút ánh sáng mặt trời để đêm tối tỏa ra chút ánh sáng u uẩn vàng đục được treo rải rác đó đây cách mặt đất non sải tay trên những cọc bằng sắt có móc cong cắm xuống đất. Nàng tò mò đứng chếch người quay lưng nhìn vào trong nhà. Đúng là một căn nhà Nhật như Đông Nghi thường nhìn thấy trong phim ảnh. Khung cửa sổ từng ô vuông đều đặn mỏng manh trắng đục, không nhìn thấy gì bên trong nhà. Nếu như có tiếng động bên trong nhà nàng cũng không thể nghe thấy vì cơn mưa mỗi lúc một lớn hơn. Trời tối như đã 7, 8 giờ đêm. Toàn thân nàng, trừ nửa phần trên khô, từ ngang lưng trở xuống ướt nhẹp. Ánh sáng yếu ớt từ những chiếc đèn lồng trong vườn là những điểm nóng duy nhất. Nàng cứ chăm chú nhìn những điểm nóng đó để quên đi cái lạnh của chiếc váy ướt đang dính sát vào đùi.
Tiếng động ngay sát bên khi chiếc cửa chợt mở ra làm Đông Nghi đứng lùi lại sát vào vách nhà như một phản xạ tự nhiên. Một thân người thò ra. Một người đàn ông tầm thước đưa tay bật ngọn đèn nhỏ ở trước nhà. Ánh sáng bật lên, làm vỡ nát bóng âm u tăm tối trước sân. Cả ông ta và Đông Nghi đều thảng thốt. Cái nhìn thảng thốt đó đậu khá lâu trên toàn thân nàng. Đông Nghi run run cất tiếng:
“Tôi…”
Ông ta cũng mở miệng cùng lúc:
“Cô…”
Cả hai cùng ngừng và chờ đợi ở người kia. Trên khuôn mặt khó khăn của ông ta chợt nhếch lên một bên nửa nụ cười:
“Sao cô không gõ cửa? Đứng ngoài thế này ướt hết!”
Đấy là một thứ tiếng Anh gãy gọn trong một giọng nói đục và trầm, giọng nói gợi sự tò mò, không hẳn là lôi cuốn.
Đông Nghi không biết phải trả lời như thế nào và cũng không biết có thái độ ra sao trước một lời mời mọc gián tiếp được đặt trong một câu hỏi. Sự ẩm ướt dọc nửa thân người càng làm sự bối rối trong nàng tăng lên gấp bội!
Vẫn cái giọng nói đó, ông ta nhìn Đông Nghi soi mói:
“Mưa chắc còn lâu, mời cô vào nhà ngồi đợi một lát”. Hình như đọc được sự ngần ngại ở người thiếu nữ, ông ta tiếp luôn: “Bà vú già của tôi pha trà và làm bánh ngon lắm. Bà ấy thích có khách để được dịp khoe tài”.
Những câu nói vồn vã trên một khuôn mặt không mấy tươi tỉnh dễ dãi lại là một sự bất ngờ khác mà Đông Nghi không chờ đợi.
“Vâng.. cám ơn..”
Ông ta đi trước, đẩy rộng cửa vào. Cả một khoảng ánh sáng ấm áp tràn ra ngoài. Nàng hơi chần chừ đôi chút rồi cũng bước theo. Vài đôi giầy, dép đặt ngay gần cửa trước bậc thềm thâm thấp. Người đàn ông bỏ dép, đi chân không bước vào trong trước. Ông ta chỉ đôi dép thấp màu đỏ:
“Cô đi đôi dép này cho ấm”.
Thay vì bảo cho sạch! Nàng nghĩ thầm.
Đông Nghi ngoan ngoãn trút đôi giầy đã ướt sũng sang đôi dép mềm và êm chân. Hành lang được xây cao lên một nấc so với cửa ngoài. Dáng đi rất thư thả phía trước cho nàng một ấn tượng êm đềm về người chủ nhân. Ông ta không mặc đồ Nhật, chỉ là một bộ quần áo chẽn đơn giản màu đậm, không rõ là đen hay xanh đen.
Khi cánh cửa gỗ nâu với những ô như bằng giấy trắng đục được kéo nhẹ nhàng sang một bên, Đông Nghi bước vào một thế giới khác, khác hẳn bên ngoài hành lang trơ trụi. Căn phòng nhỏ, được nâng cao thêm một bậc nữa. Chiếc bàn vuông, thấp, đặït chéo ở một góc phòng. Quanh đó dăm chiếc gối nhỏ. Trên bàn đặt sẵn khay trà, có bình, chén trà đủ cả. Chiếc đèn lồng treo lơ lửng không xa đó tỏa ánh sáng dịu, không gắt, và rất lặng lẽ. Đứng ở ngay cửa vào, khung kính lớn đối diện đập vào mắt nàng mở rộng cả một khoảng trời bên ngoài. Màn mưa và u tối bên ngoài không cho nàng nhìn thấy gì thêm. Ở chân của khung kính, một bệ gỗ dài thấp nâng một chậu cây bonsai. Bên trái thông sang một phòng khác, không cửa ngăn. Cả căn phòng trống, thoáng và cho một cảm giác sạch sẽ, thanh khiết, trầm tĩnh.
Ông ta ngồi xuống sàn, ngay chỗ bàn trong góc phòng và đưa tay làm một cử chỉ mời mọc. Những bước chân nàng dẫm trên tấm thảm không lún nhưng êm tạo một cảm giác là lạ. Tất cả những đồ vật cũng như cách bài trí căn phòng tự dưng làm cho Đông Nghi đâm rụt rè. Ngay đến những cử động bước đi, ngồi xuống thảm của nàng cũng bị hạn chế tối đa những tiếng động. Làm như những cử động mạnh bạo sẽ khuấy đục hơi thở tĩnh lặng của căn phòng. Nàng không còn nghe thấy tiếng mưa rì rào bên ngoài. Vẫn cái giọng nói đục và trầm, ông ta bảo:
“Bà vú sẽ mang trà nóng lên bây giờ. Phải bà ấy pha trà mới ngon trong cung cách riêng của bà ta. Rồi cô sẽ thấy.”
Đông Nghi quỳ trên thảm trong một tư thế nửa ngồi nửa quỳ, cũng tạm gọi là thoải mái. Sàn trong phòng có những chỗ như được dệt bằng một thứ cói đan nhỏ và tỉ mỉ, lại chêm vào những khoảng thảm như bằng một thứ giấy hay bông, rất lạ, như một thứ hoa văn cầu kỳ cho nền thảm. Nàng quan sát kín đáo khắp căn phòng như để tránh né khỏi phải nhìn vào ông ta, một người lạ. Môi nàng hơi hé mở nhưng vẫn không thốt lên lời nào. Ông ta vẫn tiếp tục nói, làm như đang trò chuyện cùng nàng:
“Những cơn mưa mùa này thường lớn nhưng không mưa lâu. Bao giờ cũng thế, đến ào ào rồi lại rút đi nhanh!”
Câu sau hình như ông ta không có ý ám chỉ cơn mưa. Đông Nghi hơi nhếch miệng cười. Nàng không biết phải đối thoại với ông ta ra sao. Chắc chắn không chỉ là những câu nói về cơn mưa ngoài kia.
Có tiếng động khẽ khàng. Ông ta chợt đưa tay lên nói một tràng tiếng Nhật. Đông Nghi hơi quay người lại phía sau, vừa lúc nhìn thấy đúng là một người đàn bà Nhật mặc kimono màu xam xám có chữ đen đang rón rén bưng khay trà vào. Vì ngồi dưới thấp nên nàng để ý ngay đến đôi chân bao kín bí tất trắng với phần ngón cái riêng biệt với những ngón còn lại trông ngộ nghĩnh. Bà ta bước những bước ngắn có lẽ vì chiếc áo kimono bó ở phần dưới. Sáu mươi gì đó, có lẽ thế. Nàng thoải mái quan sát sự xuất hiện của người đàn bà đứng tuổi mà hai bên mai tóc đã đốm bạc. Chiếc khay sơn mài đen bóng được đặt xuống bàn. Bà ta quỳ hẳn người xuống thảm, cúi đầu chào Đông Nghi. Nàng cũng vội vàng cúi đầu đáp lễ. Trong khay có một bình trà vừa phải hình tròn có lẽ bằng đất nung. Thêm một bình khác lớn hơn. Chính giữa khay có đĩa bánh, loại gì nàng chưa trông thấy bao giờ. Bà ta dùng dao nhỏ cắt bánh. Khoanh bánh màu lục non, có nhân vàng ở giữa, chắc là đậu, mặt trên của bánh rải một lớp gì giống vừng đen. Bà ta dùng một cái gàu nhỏ xíu, có cán gỗ thanh thanh múc khẽ nước sôi trong bình lớn rồi nâng từng chén trà lên, tráng kỹ, đổ sang một chiếc bát, rồi mới rót trà. Từng cử động nhỏ mà trang trọng. Lòng chén trà nông nhàn nhạt cho thấy nước trà xanh trong vắt, mùi ngai ngái, không thơm như trà ta. Không biết vị thế nào? Bà ta đặt đĩa bánh, chén trà trước mặt nàng, trước mặt ông ta, cúi đầu lần nữa rồi từ tốn rút êm.
Vẫn ông ta là người lên tiếng nói:
“Cô dùng thử chút trà cho ấm. Cả bánh nữa”.
Lúc này không tránh được nữa, Đông Nghi cầm đĩa bánh lên, ngước nhìn người đàn ông đối diện. Nàng khẽ mời:
“Mời ông…”
Ông ta nhìn thẳng vào mặt nàng. Đôi mắt nhỏ và hơi xếch trên khuôn mặt của một người đã qua tuổi 60 nhưng vẫn còn một nét gì đó rất trẻ còn sót lại. Lông mày đậm, dài, có đôi sợi bạc lạc vào bất tử. Những dấu vết của bao nụ cười còn hằn ở đuôi mắt với từng vệt như chân chim. Cái mũi cao và nhọn khinh khỉnh làm cả khuôn mặt trở nên khó chịu. Đôi môi mỏng hơi mím lại như che dấu một điều gì. Đôi mắt sắc sảo đó không ngừng tìm kiếm, lướt trên mặt nàng, lạnh lẽo nhưng tỏ lộ đầy quyền uy. Đông Nghi ghét những cái nhìn như vậy. Nàng cúi xuống cầm chén trà nhấp giọng và cố tránh không nhăn mặt vì cái mùi ngai ngái đặc biệt của chén trà xanh. Vị thanh và ngọt nhưng vẫn thế nào. Không hợp khẩu vị! Vừa ăn bánh, chiếc bánh chẳng khác gì bánh đậu của ta là mấy, nàng vừa mong thầm cho trời tạnh mưa.
Thấy người thiếu nữ dừng ánh mắt ở khoảng trống thông sang phòng bên cạnh, ông ta giải thích;
“Tôi vẽ trong phòng ấy”.
Đông Nghi ngạc nhiên:
“Ông vẽ tranh? Ông là họa sĩ?”
Cái nhếch mép cười nửa miệng của ông ta trông mới khó ưa làm sao khi trả lời:
“Người ta gọi tôi như thế! Cô sang xem những thứ tôi đang làm dở dang”.
“Những thứ đang làm dở dang”. Thật là một sự diễn tả kỳ quái! Nhưng cũng như giọng nói của ông ta, câu nói vừa qua cũng lại gợi trong nàng một sự hiếu kỳ. Nàng nhổm người đứng dậy tỏ ý muốn xem vì thực sự cũng không biết phải nói chuyện gì với người đàn ông này.
Ông ta bật đèn. Căn phòng sáng, sáng hơn phòng khách bên ngoài rất nhiều. Bức tranh đang vẽ dựng trên giá đưa vào mắt nàng một sự buồn thảm khốc liệt. Đen, trắng, dữ dội. Đông Nghi tiến đến gần hơn. Trên khung vải nền đen, một vòng tròn khuyết màu trắng, trắng toát. Chỉ có thế. Cái vành của màu trắng không đều, và nàng có cảm tưởng đây là một sự cố ý. Rồi chính sự không đều đặn đó đã tạo nên… Tạo nên cái gì –Đông Nghi đang tìm kiếm từ, nghĩa của điều mà nàng đang trông thấy.
“Cô thấy sao?”
Câu hỏi cũng thẳng thừng như cái nhìn của ông ta.
Nàng buột miệng nói, gần như reo lên:
“Sự sống! Đúng rồi!”.
Lần này ông ta không nói gì. Chờ đợi, có lẽ thế. Đông Nghi dường như không quan tâm đến những câu nệ của nãy giờ trong căn nhà lạ. Nàng tiến đến gần bức tranh trên giá vẽ hơn.
“Màu đen mới là nền và vòng khuyết màu trắng hay ngược lại?” – Không thấy ông ta trả lời, nàng tiếp tục tự nhiên nói lên những cảm quan của mình – “Hai thứ màu đang chen lấn nhau kìa! Màu trắng đang lấn sang màu đen. Cả cái mảng đen kia cũng vậy. Sự không đều tạo nên vẻ sinh động như vậy phải không ông?- Đông Nghi quay lại hỏi ông ta, trên gương mặt nàng hẳn bày tỏ nhiều hứng thú.
Nàng nghĩ ông ta sẽ cười trước những nhận xét của một cô gái chỉ đáng tuổi con mình. Nhưng không. Trông ông ta khác trước. Đôi lông mày nhíu lại nhìn Đông Nghi như nàng là một thứ sinh vật lạ.
“Cô biết về hội họa?”
“Không! Tôi thích chứ không biết”.
Ông ta ậm ừ cái gì đó trong miệng nửa như thở dài mà cũng có thể hiểu nghĩa khác. Gật gù, ông ta nhìn nàng:
“Cô cứ nói tiếp về những nhận xét của cô nữa đi!”
Bây giờ thì nàng cười, nụ cười đầu tiên suốt từ khi gặp ông ta đến giờ:
“Rồi ông sẽ cười tôi!”
“Tôi hứa sẽ không cười”. Ông ta nói câu đó với vẻ mặt nghiêm trang khác thường.
Cũng chính vì vẻ mặt nghiêm trang đó mà nụ cười trên môi Đông Nghi chợt tắt. Nàng biết ông ta nói thật. Và cũng tự dưng thấy thú vị. Nàng yên lặng nhìn màu sắc và hình thể trần trụi trước mặt.
“Tôi nhìn thấy cả niềm hy vọng và tuyệt vọng. Cả sự xung đột nữa” – Nàng giơ tay chỉ về bên trái ở phía trên nhưng bên trong vòng tròn trắng – “Mềm mại nhưng vẫn mạnh mẽ đủ để đẩy ngược màu đen đang tìm cách xâm lấn. Nhưng màu đen nhiều quá, ông có thấy vậy không? Cái vòng tròn khuyết? Tại sao lại khuyết mà không kín?”
Ông ta thở dài:
“Đó là điều mà tại sao bức tranh này mãi không hoàn tất! Nên cho nó tròn hay khuyết? Tôi chưa biết được!”
“Ông có nghĩ chính điều này làm nên sự lạc lõng, mất định hướng không?”
Nàng không còn tránh né cái nhìn của ông ta nữa. Hình như nàng đã già đi thêm mươi tuổi nữa, hay ông ta đã trẻ lại mươi tuổi? Nhưng nàng đọc được sự ngỡ ngàng và ngạc nhiên tột độ trên khuôn mặt ông ta. Đông Nghi thích thú một cách lạ thường như đang phải đương đầu với một thách đố ngoài tầm sức của mình, và chính vì vượt khả năng nên sự thách đố càng mãnh liệt.
Ông ta để mặc nàng đứng đó, bước ra phòng ngoài. Đi đâu. Nàng không biết. Đông Nghi chuyển hướng nhìn sang phía khác. Nãy giờ bức tranh đã chiếm hết sự chú ý của nàng. Nàng không thấy bức tranh nào khác trong phòng. Căn phòng cũng có cửa kính lớn nhìn ra bên ngoài. Trời đã ngớt mưa, sáng hơn. Nàng nhìn thấy rặng núi không xa lắm. Căn nhà này có lẽ nằm sát một thung lũng. Ban ngày, trời nắng có lẽ ánh mặt trời sẽ vào đầy ngập căn phòng. Sân cỏ thoai thoải. Nhiều chậu bon sai đang được tắm mưa, hạnh phúc tràn trề. Nàng nghĩ đến chuyện cám ơn ông ta rồi đi.
Vừa quay người lại, nàng giật mình! Ông ta đứng cách nàng chỉ chừng hai sải tay mà nàng không hay. Im lặng như một người thợ săn đang rình mồi. Trông ông ta buồn bã và không còn vẻ quyền uy như nàng nhận xét lúc mới vào. Nàng nói:
“Cám ơn ông”.
“Cô khoan đi! Mưa chưa tạnh hẳn”.
“Cô khoan đi”. Không nhiều chữ lắm nhưng bộc lộ sự níu kéo thiết tha. Níu kéo giữa hai người lạ, không biết tên nhau mà có lẽ cũng không cần biết để làm gì, là một sự bất thường hay bất tường? Nàng yên lặng. Và lại quay lại nhìn bức tranh.
“Cô có biết rằng chính sự “không biết”, “sự mù lòa” của cô về hội họa đã cho cô thấy những điều mà kẻ “biết” không thấy không? Có lẽ tôi đã nói sai! Đây không phải là sự mù lòa. Đấy là sự mất đi một giác quan giúp ta trông thấy sự vật nhưng lại giúp ta nghe được và thấy được trong một chiều kích khác. Giống như ta đi ngược vào bên trong mình để tìm kiếm những… -tôi phải diễn tả như thế nào đây?-.. thầm kín ẩn náu của chính mình cần được khám phá… Cô bé ơi! Tôi đang nói lung tung.. theo cái nhịp hỗn loạn của trái tim tôi. Có lẽ tôi mất định hướng như cô nhận xét thật. Đứng từ dưới đáy vực nhìn lên khoảng trời xanh bao la, tôi không ước ao với tay đụng bầu trời đó.”
Sự xúc động nảy sinh trong nàng. Nhìn lại bức tranh, nàng hình dung vòng tròn khuyết màu trắng được kín, trọn vẹn, để sự xung đột cứ tiếp diễn, mãi hoài. Ánh sáng ấm, vàng trong căn phòng khách đã thay đổi. Ngoài trời đã tạnh mưa. Những đám mây đen đã rủ nhau bỏ đi. Bầu trời chắc lại trong. Biết đâu hửng chút nắng. Nàng khẽ khàng nói với ông ta như nói với một người thân quen lâu đời:
“Đã hết mưa. Tôi phải đi. Cám ơn ông đã cho uống trà, ăn bánh và.. xem tranh”
Ông ta chẳng nói gì thêm, đưa nàng ra cửa. Đi trước dẫn lối như lúc vào.

***

“Áo lạnh đây cưng!”
Không thấy vợ nói gì. Tuyên lo âu choàng áo lên vai nàng:
“Em không sao chứ Đông Nghi?”
Nàng quay lại nhìn Tuyên, ánh mắt xa xôi đôi chút ngỡ ngàng. Nàng hỏi lại:
“Anh nói gì?”.
“Trông em lạ quá. Đi ra xe lấy chiếc áo, trở lại thấy em như ai đâu”.
Vẫn để hờ chiếc áo len khoác trên vai, Đông Nghi nhìn lại bức tranh trước mặt. Nền đen, vòng tròn trắng. Không khuyết. Có một vết nứt rất nhỏ, phải chăm chú nhìn kỹ lắm mới thấy như một vết nối. Hàng chữ nhỏ bên dưới:
“Jiro Yoshihara (1905-1972),
To Martha’s Memory, 1970, Japanese.
Oil on canvas, 73 x 92cm.”
Nàng lẩm bẩm:
“1972… 1972…”
Tuyên đỡ lời kèm với nụ cười cố hữu tinh nghịch của anh:
“1972. Lúc đó em mới có 10 tuổi”
Đông Nghi lặp lại lời của Tuyên: “Mới có 10 tuổi..”. Chung quanh nàng, những bức họa khác trên tường của phòng tranh Albright-Knox Art Gallery đang triển lãm hình như nhắc nhở nàng về thời gian hiện tại: 2002! Nàng đang ở New York, với Tuyên, trong một phòng tranh.. của tháng 2 năm 2002. Năm 2002? Chỉ có chừng 15 phút khi Tuyên ra ngoài lấy áo để nàng đứng một mình trước bức tranh? Mười lăm phút của hiện tại mà lại là cả một thời gian gặp gỡ người họa sĩ của quá khứ? Một người đã khuất! Cũng không thể gọi là quá khứ! Cái gì đã qua đi được xếp loại thành quá khứ. Nhưng những điều vừa qua đi như một giấc mộng có thật mà chỉ riêng nàng cảm nghiệm được. Đông Nghi tin chắc rằng ngày mai, ngày kia nàng trở lại đây, đứng ngay chỗ này để tìm lại một giấc mộng, một sự kiện như thế chắc chắn sẽ không xảy ra.
Đông Nghi nhìn kỹ lại bức tranh, phần trên, bên trái, vòng trong của vòng tròn trắng, một khoảng trồi ra nhiều hơn, đúng như nàng đã “thấy”. Và cái vòng tròn khuyết đã kín. Kín như nàng đã hình dung. Sự sống động và khốc liệt của bức tranh vẫn thế. Ông ta không còn nữa, không vẽ nữa, nhưng linh hồn mãi mãi không tan biến. Sự xúc động vẫn còn đọng lại trong nàng, mới tinh khôi. Nàng còn nhớ cả mùi sơn dầu thoang thoảng. Cả vị của chiếc bánh đậu vẫn còn nằm trên đầu lưỡi. Nhưng câu hỏi: “Tại sao ông lại chọn tôi?” sẽ không bao giờ có câu trả lời.

Mặc Bích

________________
Họa sĩ Jiro Yoshihara (1905-1972) là cha đẻ của trường phái Gutai (Biểu hiện) tại Nhật. Sau khi ông qua đời, nhóm 18 họa sĩ trẻ Nhật này đã tan rã. Bà Martha Jackson là người đã giới thiệu nhóm Gutai và những tác phẩm của họ đến giới thưởng ngoạn Hoa Kỳ từ thập niên 50 trong phòng tranh của bà. Bức tranh “To Martha’s Memory” ông Jiro Yoshihara vẽ riêng tặng bà, hiện nằm trong Albright-Knox Art Gallery tại Buffalo, New York. Họa sĩ Yoshihara qua đời đột ngột năm 1972, 2 năm sau khi bức họa trên đã hoàn tất.
Chỉ trừ họa phẩm và tác giả bức tranh là có thật, câu chuyện trên chỉ là hư cấu trong sự tưởng tượng của một người yêu tranh.

Tin tức khác...