Một đêm Giao thừa – continued

Trịnh trọng nâng chén bằng hai tay, tôi chúc cô:
“Năm mới, con kính chúc cô mạnh khỏe, phát tài.”
Cô cười:
“Mạnh khỏe thì tui cám ơn cậu, còn phát tài thì tui làm chi mà phát tài.”
Cô một lần nữa chúc tôi thi đậu, rồi cầm một tấm bánh đậu Xanh mời tôi:
“Cậu dùng tí bánh đậu đầu năm. Đầu năm ăn đậu thế nào thi cũng đậu.”
Chuyện qua chuyện lại, tôi tìm dịp hỏi cô:
“Hồi nãy cô đối câu con đột nhiên nói ra mà cô cho là câu xuất đối rõ ràng là cách đối của người có Nho học. Con có một thắc mắc mà quả thực đã từ lâu không dám hỏi cô, lúc này đầu năm lại càng không dám.”
Cô nhìn tôi có phần ngạc nhiên:
“Chuyện chi cậu cứ nói, có chi mà quan trọng dữ rứa?”
“Dạ, không có chi quan trọng, chỉ là con nghĩ cô có cốt cách một mệnh phụ mà chẳng dám hỏi cô con nghĩ như rứa có đúng không.”
Cô nhìn xa ra cửa sổ. Bên ngoài trời tối đen, ngoại trừ thỉnh thoảng một nơi nào đó lóe lên ánh lửa với tiếng pháo muộn. Khi nhìn lại, cô hạ giọng, nói mà như thể không muốn tôi nghe:
“Cậu nghĩ đúng, tui đúng là một mệnh phụ nhưng là một mệnh phụ lỡ thời.”
Im lặng một chút, cô hỏi tôi:
“Cậu học ban C chắc không lạ gì bài Hàn Nho Phong Vị phú của Nguyễn công Trứ và bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương.”
“Dạ, con biết, Nhà trống ba gian, một thầy một cô một chó cái; Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.”
“Đúng đó, đó là hình ảnh thầy tui, một ông Đồ Nho thất chí.”
Cô nhấp một ngụm trà rồi đọc:
“Quan năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng, đó lại là hình ảnh của mạ tui, một người đàn bà có chồng thất chí, lam lũ quanh năm nuôi chồng nuôi con mong giữ chút thể diện cho chồng.”
Tôi nhìn cô, chẳng biết phải bàn góp thế nào. cô chớp chớp mắt rồi nói tiếp:
“Tui là con gái của một ông Đồ công không thành danh không toại. Thầy tôi nức tiếng học giỏi trong Quốc Tử Giám, ai cũng tưởng việc thầy tui chiếm bảng vàng tiến sĩ là chuyện đương nhiên.”
Tôi nhấp một ngụm trà. Trà Long Tĩnh chính hiệu uống vào có vị chát nhẹ nhưng để lại một vị ngọt quyến rũ dễ chịu khi nuốt qua cổ họng. Hương trà phảng phất hương Sói hòa trộn thành một cảm giác khó diễn tả thành lời. Tôi gật gù khen:
“Cám ơn cô, cô cho con thưởng thức trà ngon quá, không như trà mọi buổi sáng cô vẫn cho con uống.”
Cô mỉm cười hài lòng:
“Tui biết cậu không phải là loại bất tri kỳ vị nên lúc nào cũng đãi cậu khác với anh em trọ học khác.”
Bối rối về lời khen của cô, tôi vội trở lại câu chuyện bỏ dỡ, hỏi cô:
“Như rứa ông Cụ là con quan răng được vô Quốc Tử Giám, thưa cô?”
Cô lắc đầu:
“Không mô, thầy tôi con nhà trung nông, không quan quyền chi cả. Quốc Tử Giám dành cho con cháu hoàng tộc và các quan nhưng cũng mở cửa cho con em dân giả học giỏi thi vào.”
“Như rứa thời vua chúa Việt Nam không khép kín giai cấp như thời phong kiến phương Tây, càng không giống xã hội giai cấp Ấn độ, phải không cô?”
“Tui không học nhiều nên chẳng dám nói bên Tây bên Ấn đúng hay không, nhưng bên mình thì rứa đó, nghèo mà học giỏi vẫn một bước lên quan đổi giai cấp tức thì.”
Cô hắng giọng ngâm nho nhỏ:
“Một quan là sáu trăm đồng, Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi; Chồng tôi cỡi ngựa vinh qui, Hai bên có lính hầu đi dọc đường. Đó, rứa đó, thi đậu là có lính hầu, bất kể quá khứ là con nhà nghèo rớt mùng tơi.”
Tôi gật đầu đồng ý. Ấn độ thời trước chia dân nước họ thành bốn giai cấp, giai cấp tư tế Brahmins, giai cấp cai trị và quân đội Kshatriyas, giai cấp nghệ sĩ, thương gia, và nông dân Vaishyas, và cuối cùng là giai cấp lao động Shudras, người thuộc giai cấp nào đời này sang đời khác phải thuộc về giai cấp đó, không cách nào có thể đổi thành giai cấp khác. Tôi hỏi cô:
“Cô nói rứa nghĩa là ông Cụ học giỏi tài cao nhưng thi không đậu?
“Thầy tui thi bao nhiêu khóa đều chỉ đậu được trường Hương, tức đậu Tú tài, ba lần thi đều ba lần rớt kì thi Hội, suốt đời vì vậy thầy tui chỉ được danh là Tú Kép.”
Thời trước thi ba kỳ, Hương, Hội, và Đình. Đậu thi Hương thành Tú tài, đậu thi Hội thành Cử nhân, và đậu thi Đình thành Tiến sĩ. Đậu đầu Tiến sĩ là Trạng nguyên, đậu nhì là Bảng nhãn, đậu ba là Thám hoa. Bình dân gọi Tiến sĩ là ông Nghè, Cử nhân là ông Cống, và Tú tài là ông Tú. Ông Nghè ông Cống hay ông Tú mở trường dạy học được gọi là ông Đồ. Tú Xương có câu thơ Nào có ra gì cái chữ Nho, Ông Nghè ông Cống cũng nằm co.
Nhấp một ngụm trà, cô nói tiếp:
“Trong khi bạn lớp trên lớp dưới của thầy tui đỗ đạt thành quan thành chức thì thầy tui trở thành ông Đồ thất chí đúng câu nói nhân gian dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm. Gia đình tui ngày càng sa sút, nợ nần chồng chất đến độ mạ tui chẳng còn biết phải xoay xở cách răng. Đúng lúc đó, một quan phủ nhờ mai mối tìm một người vợ kế, và thế là tui được chọn. cậu biết rồi, thời đó cha mẹ đặt đâu con ngồi đó tui mô dám nói không.”
Đôi mắt cô lộ rõ nỗi chán chường cho dẫu đã qua bao nhiêu năm tháng. cô nói tiếp:
“Tội cho tui là không phải chồng tui cưới tui làm vợ thứ mà để làm con hầu hầu hạ mạ chồng. Ông Phủ nhà tui ở với bà lớn mô tận ngoài Nghệ ngoài Thanh trong khi mạ chồng tui ở Hạ Lang, một làng nhỏ ven sông Bồ phía bắc thành phố Huế trước khi đến Mỹ Chánh quen gọi là Cây số 17 hoặc tiếng Pháp là PK đít-xết (Poste kilomètre dix-septième). Mạ chồng tui có họ hàng gần với Đức Từ Cung tức mẹ vua Bảo Đại, nhà không thiếu gì người hầu kẻ hạ nhưng thiếu một người có thể tin cậy hoàn toàn.”
Ngoái nhìn vào nhà trong như thể đang cố tìm lại hình ảnh người chồng giờ chỉ còn là tấm bài vị trên bàn thờ, cô quay lại nhìn tôi:
“Như cô cháu mình đã bàn hồi chiều, không thể gọi tất cả đàn bà trong cung là vợ vua vì trừ các bà vợ chính, các bà còn lại chẳng ai được quyền chia sẻ điều gì với vua ngoài chuyện chung chăn gối nếu được vua triệu. Tui cũng vậy, không biết có nên tự coi là vợ của chồng tui không vì tui chẳng chia sẻ chút gì với người đàn ông tôi gọi là chồng.”
Tôi nhìn cô thông cảm, đã hiểu ra cái nhìn sâu thẳm của cô khi bàn đến chuyện nội cung trước giờ Giao thừa:
“Dạ, con hiểu.”
“Tui trở thành một thứ con dâu hờ, không hẳn là vợ của chồng tui mà cũng không hẳn là đầy tớ của mạ chồng tui. cậu biết không, mấy năm đầu mạ chồng tui khắt khe với tui vô cùng. Tui tuy dẫu là vợ hai nhưng vẫn là con dâu có cưới xin đàng hoàng, rứa mà mạ chồng tui đối xử với tui như với một con đầy tớ, làm việc quần quật từ sáng đến tối chẳng dám than trách một lời.”
Cô mỉm cười nhìn tôi:
“Mà cậu nghĩ than với ai bây chừ? Với mạ chồng tui? Với thầy mạ tui? Thầy mạ tui chẳng những không nghe mà còn la rầy dạy dỗ, nào là phải biết bổn phận làm vợ làm dâu, nào là phải biết ăn ở cho vừa lòng mạ chồng. Mà muốn than với thầy mạ cũng mô có nhiều dịp về nhà để mà than. Lấy chồng là thuộc về gia đình chồng, mỗi năm may lắm mạ chồng tui cho về thăm nhà mấy ngày sau Tết và vào lúc nguy cấp như ngày thầy tui bệnh nặng qua đời.”
“Rứa cô phải mần chi suốt ngày?”
“Sáng mặt trời chưa mọc, tui phải lội xuống ao với một người giúp việc vớt bèo hái rau muống vô nấu cho heo ăn. Nhà bếp pha trà và nấu bữa ăn sáng cho mạ chồng xong, tui phải đích thân bưng mâm lên mời mạ chồng, hôm nào đau yếu cũng phải ráng bưng lên. Đợi bà ăn sáng xong, tui bưng mâm xuống, ăn sáng cơm nguội cháo trắng qua loa rồi vội vàng rửa ráy mặc áo dài vào lên xin mạ chồng tiền đi chợ.”
Tôi chậc lưỡi:
“Trời đất, xin tiền đi chợ là răng?”
Cô nhìn tôi rồi nói tiếp:
“Mô phải lên ngửa tay xin tiền là được mô cậu, tui phải thưa gửi đàng hoàng, Thưa Mạ cho con tiền đi chợ, bữa mô quên thưa là to chuyện, thế nào cũng bị mắng là cha mẹ không biết dạy con giữ phép tắc.”
“Rứa lận răng cô?”
“Nhận tiền rồi cũng phải thưa Thưa Mạ con xin phép đi chợ. Đi chợ về đem cả giỏ thức ăn lên trình và lại phải thưa Thưa Mạ con đi chợ về.”
Tôi phì cười:
“Cái gì mà như tuồng hát rứa cô?”
“Rứa đó, bữa nào sai sót một chút là nghe chửi điếc tai.”
Cô lắc đầu nói tiếp:
“Chưa hết mô. Một năm sau, chồng tui về thăm nhà, mang theo đố cậu biết mang theo cái chi?”
“Mang quà cho Cụ và cô?”
Cô cười:
“Được rứa thì mừng. Ông nớ mang thêm một bà Ba người Bắc. Nói người Bắc là theo thói quen nhưng sự thực bà nớ mô người Thanh người Nghệ chi đó.”
Tôi xuýt xoa:
“Thiệt hết biết.”
“Bà Ba nớ có học chút tiếng Tây, theo mốt mới nên kênh kiệu vô cùng. Tui không ghen mà bà ấy ghen ngược tui, ngăn cản quan Phủ không cho gần gũi tui. Dĩ nhiên với bà Cả thì bà nớ không dám hó hé, còn nịnh nữa là khác. Với mạ chồng thì còn nịnh khủng khiếp hơn, giọng ngọt xớt dạ dạ vâng vâng, điệu bộ lúc mô cũng xun xoe ra chừng quan tâm lo lắng hết sức mình.”
“Như rứa chắc Cụ ưng bụng lắm.”
Cô lắc đầu:
“Không mô, mạ chồng tui tinh ý lắm, bảo tui Mạ chẳng ưa cái con Bắc kỳ nớ. Hắn nịnh kinh khủng.”
“Chẳng lẽ rồi cô chịu vậy?”
Cô lắc đầu:
“Tui chẳng lấy làm điều. Cậu biết có thương thì mới có ghen. Tui có chồng như không, sau mấy ngày tân hôn thì ông ấy đi biền biệt, cả năm may lắm mới thấy mặt một đôi lần. Thêm nữa, tui sợ lỡ vướng bầu sinh con không ai chăm sóc lại thêm chuyện phiền hà.”
Sau hai ba năm cô chịu khổ cực như thế, một hôm đột nhiên một người giúp việc đến khoanh tay thưa cô:
“Thưa mợ Hai, Cụ cho mời Mợ.”
Cô hết sức ngạc nhiên đến độ không tin vào tai mình. Đây là lần đầu tiên cô nghe một người giúp việc thưa gửi gọi cô bằng mợ Hai, và cũng là lần đầu tiên mẹ chồng sai người đến mời cô thay vì chỉ gọi cô như trước. Mẹ chồng bảo cô:
“Mạ cho mời con vô có chuyện cần nói.”
Cô khoanh tay đứng chờ:
“Dạ, thưa Mạ cứ dạy.”
Chỉ một chiếc ghế cạnh chiếc bàn nhỏ để trà nước trước cửa sổ, mẹ chồng cô bảo cô:
“Con ngồi xuống đi.”
Không tin là lời mời thật, cô vén áo ké né ngồi lên mép ghế. Mẹ chồng nhìn cô mỉm cười:
“Lâu ni mạ làm khó con rứa, con có giận mạ không?”
Cô nhìn mẹ chồng ngạc nhiên:
“Dạ, con mô dám.”
Mẹ chồng cô cười:
“Mạ biết, con con nhà lễ giáo, mạ làm khó chỉ để thử thách coi con có đáng cho mạ tin cậy không thôi.”
Cô bối rối:
“Dạ.”
Mẹ chồng cô cười:
“Dạ là dạ cách răng?”
Thấy cô lúng túng, mẹ chồng cô dịu giọng:
“Chừ thì mạ hoàn toàn tin tưởng con là con dâu thiệt của mạ. Người ta nói dâu là con, rể là khách, phải không con?”
Cô vội thưa:
“Nhưng thưa Mạ chị Cả mới là con dâu Mạ cưới về cho quan Phủ nhà con, mô phải con. Rồi còn cô Ba nữa.”
“Cô Cả thì ở xa mạ không dám đụng tới. Còn cái con Ba nớ thì ôi thôi con nói tới mần chi.”
Cô ngồi vân vê tà áo, chẳng biết phải nói thế nào, một chút lỡ lời sẽ làm mất lòng mẹ chồng, một lời nịnh bợ sẽ khó sống nếu có kẻ xu nịnh mách lại với bà Cả. Mẹ chồng cô nói tiếp:
“Mạ nói rứa chắc con hiểu rồi. Con hầu hạ mạ mấy năm ni, mạ cảm ơn con nhiều lắm. Với mạ từ bữa ni trở đi chỉ có mình con là con dâu.”
Cô cúi đầu không biết phải trả lời sao cho phải. Mẹ chồng đưa tay nắm tay cô:
“Kể từ bữa ni, mạ giao tay hòm chìa khóa nhà ni cho con, bao lâu mạ còn sống thì cả thằng Phủ chồng con cả mấy con vợ hắn chẳng đứa mô con phải nghe lời. Mọi thứ trên là mạ dưới là con, con hiểu chưa?”
Cô cúi đầu nhìn mẹ chồng:
“Dạ thưa Mạ con không dám, cách răng con qua mặt quan Phủ chồng con và chị Cả được, lỗi đạo chết, con không dám mô.”
“Mạ mô muốn con lỗi đạo, chỉ như ri, mỗi khi thằng Phủ hay con Cả muốn cái chi, tụi hắn phải trình qua mạ và mạ truyền lại cho con. Lần tới tụi hắn về đây, mạ sẽ nói rõ cho tụi hắn biết không một đứa mô có quyền sai phái con mần bất cứ cái chi dù nhỏ dù lớn. Đứa mô muốn cái chi, con biểu vô trình thẳng mạ, con hiểu chưa?”
“Dạ, con hiểu.”
“Riêng con Ba tuyệt đối không được hó hé, hắn hó hé con cứ vả vô miệng.”
Tôi hỏi cô:
“Chắc bà Ba hậm hực lắm, phải không cô?”
Ánh mắt cô sáng lên một chút rồi trở lại bình thường. Cô nói:
“Tui mô muốn gây rắc rối mần chi.”


Mấy năm sau quan Phủ chồng cô không may lâm bệnh qua đời. Bà Cả và bà Ba thấy đã thất thế với mẹ chồng nên tìm cách không về Huế. Mấy năm sau nữa, mẹ chồng cô bệnh nặng qua đời, để di chúc lại giao toàn bộ gia sản cho cô quản lý, ghi rõ không một ai kể cả bà Cả có quyền làm bất cứ điều gì với tài sản gia đình mà chưa được cô chấp thuận. Không may, năm 1945, thời thế đảo ngược, Việt Minh tấn công đập phá hết cơ ngơi của gia đình chồng cô mà họ gọi là của phong kiến địa chủ bóc lột. Với chút vốn liếng còn lại, cô về quê sống với mẹ ruột. Mẹ cô qua đời, cô dọn lên Huế sống tại căn nhà này cho đến ngày nay. Cô ngậm ngùi:
“Cậu thấy đó, thời trước trong cung ngoài cung thân phận đàn bà con gái là rứa đó, không mấy ai làm chủ được cuộc sống mình. Con gái thời cô cũng na ná thân phận cô Loan trong Đôi Bạn của Nhất Linh, không có mấy lựa chọn cho đời mình, đúng với câu nói phận gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu. Con gái thời hiện tại, thời cậu, có nhiều chọn lựa hơn nhiều.”
“Cô nói đúng, nhưng nhiều chọn lựa theo con chưa phải là yếu tố quyết định cuộc sống hôn nhân có hạnh phúc hay không. Theo con, chọn lựa đúng mới là yếu tố quyết định.”
Cô mỉm cười nhìn tôi:
“Cậu nói đúng, khen cho cậu còn ít tuổi mà có nhận xét sâu sắc. Hạnh phúc tùy vào chọn lựa đúng. Nhiều lựa chọn mà chọn không đúng chỉ gây thêm rối rắm phiền hà, cãi cọ rồi đi đến ly thân, ly dị. Chọn lựa đúng rồi, sướng khổ đôi bạn sẽ thấy hạnh phúc cùng nhau chia sẻ. Khổ nỗi, mới vào đời, ai đủ kinh nghiệm để chọn lựa cho đúng? Rứa cho nên ý kiến cha mẹ đóng phần quan trọng miễn là cha mẹ chỉ nên phân tích cho con cái thấy chỗ mô sai chỗ mô đúng, đừng quyết định thay cho con cái.”
Bên ngoài trời vẫn tối như mực, tối như đêm ba mươi. Pháo đã im tiếng, chỉ còn đì đùng đôi ba chùm pháo ngắn lách tách hoặc đôi ba tiếng pháo lẻ đì đẹt. Chuông đồng hồ điểm hai tiếng. Đêm trừ tịch đầu tiên của đời tôi ở Huế không ngờ lại là một đêm bình luận về số phận con gái Huế thời trước với các bó buộc lễ giáo Khổng Mạnh, về cuộc sống ham mê sắc dục vô độ của vua chúa quan quyền, về quan niệm của giai cấp đàn ông giàu có coi đàn bà như một con búp bê để vui chơi hoặc như một con mái để gầy giống, che lấp sau quan niệm trai năm thiếp bảy thê, gái chính chuyên một chồng hoặc giáo điều bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại. cô bảo tôi:
“Đi ngủ thôi cậu, quá hai giờ rồi. Mai tui xông đất phòng cậu, cậu chịu không?”
Tôi cười:
“Con làm chi có đất mà cô xông? Phòng con thì cũng là đất của cô mà.”
Sắp bước vào phòng, cô ngoái lại hỏi tôi:
“Rứa mai cậu định giờ nào xuất hành, và đi hướng mô?”
Ừ nhỉ, giờ nào xuất hành và đi hướng nào? Chẳng có giờ nào hướng nào là tốt với tôi ngoại trừ hướng nhà thờ Phủ Cam:
“Dạ mai con đi lễ đầu năm rồi chắc đạp xe một vòng ra phố xem phố Huế ngày Tết ra răng.”
Cô mỉm cười:
“Chúc cậu ngủ ngon. cậu ra phố ngày mai thì chẳng có chi hết vì phố xá đóng cửa hết rồi. Không biết mấy rạp xi nê Tinh Châu Morin có mở cửa ngày mồng Một không.”
Tôi biết, phố Huế cũng như bất cứ phố xá nào khác khắp miền Nam nước Việt chẳng ai mở cửa ngày mồng Một Tết. Nhưng dẫu sao, tôi nhất quyết phải đi một vòng để một lần trong đời biết phố Huế ăn Tết ra sao.

Trần Hữu Thuần
Grand Rapids, Michigan, 26/10/2019

Tin tức khác...