Hà tiện…

Người xưa nói, “đi buôn xa không qua giàu hà tiện.” Ai cũng biết người đi buôn tận gốc bán tận ngọn thì lời nhiều hơn người buôn bán qua tay, nhưng chi phí từ gốc tới ngọn của người đi buôn xa cũng nhiều hơn người buôn đầu chợ bán cuối chợ. Nhưng hai người buôn bán ấy cũng chỉ đúng với câu “phi thương bất phú” của người Tàu chứ không giàu bền vững bằng người làm giàu theo cách tích tiểu thành đại trong quan niệm Việt nam. Ông bà ta dạy, ngày làm được mười đồng thì xài bảy đồng thôi, một năm sau đã dư ra bạc ngàn; mười năm, hai mươi năm thấm thoát qua mau, chẳng bao lâu mà thành người có của ăn của để, cuộc sống ổn định, tương lai vững chắc hơn người đi buôn gần buôn xa vì buôn bán ắt có khi lỗ khi lời, ngoài tài năng buôn bán còn cần có sự may mắn là yếu tố đáng kể trong thươg trường như chiến trường. Ta cũng nghe nhiều về những người làm thươg mại nên có đồng vào đồng ra chứ không cắc củm như người đi làm ăn lương nên cơ hội vung tay quá trán dễ gặp phải, loại người này cho dù họ buôn gần hay buôn xa, may mắn đến đâu cũng khó lòng hà tiện được vì quen thói tiêu xài. Rồi họ ra sao?

Tiếp tục lý luận theo đà trên thì hà tiện đã thành kim chỉ nam cho người ta cách sống đúng đắn. Vậy hà tiện có là bẩm sinh không, hay chỉ là thói quen lập đi lập lại thành tính nết người này người khác. Nếu nhìn ở góc độ nào đó thì hà tiện không phải là một đức tính xấu khi nó tương phản với sự hoang phí. Người có điều kiện nhưng không phung phí, có của ăn của để nhưng không hẹp lòng giúp đỡ tha nhân, người chi tiêu cho bản thân thì chừng mực nhưng không ngại làm từ thiện, cứu trợ thiên tai, đóng góp vào tín ngưỡng… Vậy có thể nói hà tiện là một đức tính tốt, người hà tiện là người tốt trong chừng mực tương phản với hoang phí. Người khác không giàu có, thậm chí nghèo nên sống hà tiện cũng đáng khen vì ít nhất họ cũng không làm phiền ai phải giúp đỡ thường xuyên cho sự thiếu trước hụt sau của họ. Vậy ở người nghèo thì sự hà tiện cũng là điều nên làm trong hoàn cảnh không giàu thì liệu cơm gắp mắm đã là giúp đỡ người thân không phải bận tâm hay lo lắng cho mình.

Nhưng hà tiện là kim chỉ nam cho cách sống vạn vật trong vũ trụ thì sao bắc đẩu lại là chúa tể bầu trời đêm để soi sáng u minh trong lòng vạn vật, trong lòng người tự làm khổ mình, sống hà tiện tới mức để bản thân luôn thèm khát thứ này thứ nọ, không có từ “cho” trong tự điển cá nhân, cuộc sống luôn bất an vì toàn tâm toàn lực toàn thời gian chỉ tập trung vào khoản thu phải làm sao để được nhiều nhất có thể, nhưng khoản chi càng ít càng tốt… Ngoài vũ trụ có bụi không gian thì trong lòng người có tính bần tiện. Người bần tiện trong thiên hạ không ít như bụi không gian ngoài vũ trụ, nhưng cuối cùng sẽ đi về đâu? 

Đó là câu hỏi từ cuộc sống lập đi lập lại nên cũng ít ai để ý đến việc bản thân mình bây giờ hà tiện quá hay phung phí hơn xưa vì người ta còn bận phán xét người khác hơn là nhìn lại mình. Mỗi bản thân rất khó trả lời nếu không trải qua một biến cố lớn trong đời làm thay đổi tính cách hà tiện thành phung phí hay ngược lại là keo kiệt, bần tiện tới hết chỗ nói. Với những người may mắn có cuộc sống không biến động nhiều thì cũng dường như trước sao sau vậy. Một người bạn từ hồi còn trẻ là tay hoang đàng thì già khú mới gặp lại nhau, anh ta vẫn vậy. Trong mắt người bạn hà tiện thì tên bạn hoang đàng đang đi đến phần cuối của một đời người vung tay quá trán, và ngược lại trong mắt người hoang đàng thì tên bạn hà tiện của mình đang dần khép lại một cuộc đời không biết ngẫu hứng là gì, chưa hề có cảm giác tột đỉnh nên cũng không phải chịu hậu quả đáng tiếc nào.

Càng đi sâu vào phân tích càng mù mờ hơn là rõ ra được sự đúng đắn của quan niệm sống, cách sống như câu ca dao, “ở sao cho vừa lòng người/ ở rộng người cười ở hẹp người chê.” Nhưng đến một lúc nào đó trong đời người, người ta nhìn lại những cung bậc cảm xúc đã từng trải, niềm vui nỗi buồn đã qua… cuộc sống quả thật không có người đúng mà cũng chẳng có người sai, chỉ có số phận của mỗi người dường như được định trước, nhưng từ đâu, do ai, vẫn không ai biết! Như tôi vừa đi thăm một người bạn làm chung đang xuôi tay, tôi ước cho anh nhắm mắt được sẽ khoẻ hơn sống vì tình hình không khả quan sau cơn đột qụy khá nặng của anh. Tôi tiếc cho anh còn khá trẻ đã gặp bệnh hiểm nghèo, giở sống giở chết vì chết thì dang dở mà sống cũng dở dang hết một đời người có chí và kiên nhẫn. Ký ức về người bạn làm chung hiển hiện về. Từ hôm anh vào hãng làm đã không ai ưa, không ưa từ diện mạo bên ngoài tới tính tình riêng anh. Người xưa xếp bốn loại người nên tránh giao tiếp là: nhất lé nhì lùn tam hô tứ sún thì anh có ba, không sún răng vì anh hô lại bị hôi miệng mới tội nghiệp khi người tế nhị phải cắn răng nín thở nghe anh rỉ tai chuyện không muốn nhiều người biết, người thiếu độ lượng thì đương nhiên bẽ bàng. Có lần anh than phiền về đồng nghiệp đồng hương kỳ thị anh. Tôi chỉ nói xa nói gần về chứng hôi miệng là một bệnh, có thể bẩm sinh, cũng có thể do sức khoẻ trong một lúc nào đó thôi, nhưng bác sĩ có thể trị được. Sau đó anh giận tôi cả năm chứ không phải là anh đi bác sĩ. Anh nghĩ rằng tôi đã đứng về phe tẩy chay anh. Tôi không phải thần thánh giữa đời ô trọc này nhưng thấy một người Việt bị cả nhóm người Việt xa lánh trong hãng Mỹ, người Mỹ cũng đặt cho anh những biệt danh không hay ho gì vì thời gian đã trả lời mọi người về anh. Anh thấy ai được cấp phát đôi găng tay chỉ nhìn qua đã biết đắt tiền hay đôi giày đặc biệt để làm một công việc đặc biệt nào đó. Anh dư hiểu về yêu cầu công việc nên người đó được mà những người khác và anh không được. Nhưng cuối cùng anh vẫn có được vì sếp Mỹ không chịu nổi những người nói dai, xin ba lần người ta không cho cũng không chịu dừng lại. Anh làm cho mọi người không thích anh chứ anh làm việc giỏi, chịu học hỏi và siêng năng thì khó ai bì.

Một thời gian tôi làm chung với anh. Thỉnh thoảng lại thấy viên kẹo, hay cái bánh trên bàn làm việc chung. Anh luôn hỏi tôi, “ai cho ông vậy?” Sau vài lần ắt phải có kinh nghiên trả lời, “Ông ăn đi, tôi không ăn ngọt. Lu bu làm việc nên cũng không biết ai đã cho tụi mình.” Anh thường xấc mé là người ta cho ông chứ cho tụi mình thì phải là hai cái chứ. Anh luôn muốn biết đích xác người cho để hù doạ họ kỳ thị anh. Tôi nói vậy cũng hơi quá đáng vì anh chỉ nhắc nhở người cho là muốn cho tôi thì phải cho anh một phần vì tôi với anh làm chung. Đừng phân biệt đối xử.

Ai cũng biết khi một người trong hãng có người thân của họ qua đời thì đồng nghiệp với nhau hùn hạp vài đồng để mua vòng hoa phúng điếu. Tôi tự hào với người Việt trong hãng tôi là chỉ báo cho sếp biết nhà tôi có tang nên tôi nghỉ làm vài hôm. Nhưng hôm trở lại làm thì không nhận tiền phúng điếu vì chúng tôi dùng độc trị độc với Mỹ đen và Mễ. Cứ hết tiền xài và cơn làm biếng lên tới óc thì chúng lại nằm nhà vài hôm nhưng báo sếp nhà có tang để vừa được nghỉ ăn lương lại có tiền xài vặt. Nhưng với riêng anh, lúc nào anh cũng lẩn tránh người cầm miếng giấy đi thu tiền phúng điếu. Hôm gặp tay cứng cựa, dồn anh vô ngõ cụt, không tránh né hay thoái thác được thì anh nói ngày mai anh đóng, ngày mai của ngày mai thì ai đã chết rồi còn đợi được anh vài đồng bạc không chứ? Trớ trêu thay, hôm anh vô làm sáng sớm mà mắt đỏ hoe, tôi hỏi chuyện gì? Anh nói, cha tôi mới mất ở quê tôi. Cả nhà mong ông trăm tuổi nhưng trời cho chỉ được chín mươi sáu. Tôi nói, sao ông không nghỉ ở nhà. Hãng cho ba ngày nghỉ ăn lương đó! Tôi không ngờ anh trả lời, nghỉ ở nhà cũng được gì đâu mà mình đang làm thêm giờ… tôi tính kiếm ít tiền gởi về phụ gia đình lo tang ma cho cha tôi.

Tôi cứng họng vì anh đang sở hữu căn nhà nửa triệu đô la, cái xe anh đi làm hằng ngày cũng gần trăm ngàn. Cha chết cũng phải đi làm overtime để kiếm chút tiền gởi về phụ gia đình lo tang ma cho cha là sao? Tôi hiểu anh chỉ nói cho tôi biết tin cha anh qua đời ở Việt nam với mục đích gì? Nhưng tôi không thể cầm tờ giấy với cây viết đi ghi tên người này mấy đồng người kia mấy chục… Chẳng ai đóng tiền đâu mà thậm chí họ còn chửi tôi bởi anh tạo ra biết bao nhiêu rắc rối cho đồng nghiệp đồng hương vì cái tính nết của người bồ tát của mình lạt buộc. Chưa bao giờ anh cho ai mượn cây viết vì viết mượn không hao mực sao? Nhưng ai cho ai bất cứ thứ gì cũng bị anh xỉa xói là sao không cho anh,  nên cuối cùng là không ai chịu làm việc chung với anh. Nếu người được điều tới chỗ anh thì họ tìm cách đi chỗ khác. Nếu anh được điều tới chỗ người khác thì họ tìm cách đẩy anh đi. 

Tai nạn đến với anh thật khó nói, anh trồng đủ thứ ở vườn sau nhà anh nên nhà không phải đi chợ mua rau củ quả; anh không đi câu cá vì tiền cần câu, mồi câu, giấy phép câu cá phải mua hằng năm, lại thêm tiền xăng chạy ra hồ mới câu được cá… nên anh nói với mọi người có đi câu cá, nếu không ăn thì cũng đừng bỏ hay cho ai ngoài hồ, làm ơn mang về cho anh. Cứ mỗi chiều thứ sáu thì anh biết chắc là tôi sẽ đi câu tới sáng thứ bảy nên anh nói tôi ít nhất cũng ba lần, anh nguyền rủa mấy thằng dại gái trong hãng là đi câu về được bao nhiêu cá cũng cho gái hết chứ không cho anh. Tôi cho anh cá nhưng không phải không dại gái mà do em gái, gái chị, gái cô trong hãng hơi quá đáng, xin cá mà còn đòi làm dùm chứ không biết làm cá. Tôi cho anh cá vì anh tự làm cá nhưng trong bụng thắc mắc mà không dám hỏi là sao anh ăn cho hết vì vợ đã ly dị, đứa con gái mới mười sáu tuổi đã không sống với mẹ mà cũng chẳng sống với cha. Nhưng tôi đã hiểu trong mùa lạnh qua, thì ra anh ăn cá tươi mùa câu không hết thì xẻ khô, để dành ăn mùa lạnh – vẫn không tốn tiền chợ.

Tôi cũng không biết mình đã thay tính đổi nết rồi hay sao mà tôi lại giữ quan hệ được với anh. Có lẽ mỗi kỳ lương anh đều nhắc tôi: “Ông phải coi lại giờ làm của ông xem có đúng không, họ tính lương cho ông có đúng không? Tôi chẳng bao giờ thấy ông cảnh giác với tiền bạc…” Tôi chỉ biết cảm ơn anh là tôi sắp về hưu rồi mà trong trương mục nhà băng không có gì ngoài số trương mục, nhưng bây giờ mới cảnh giác với tiền bạc thì đã quá muộn; hơn nữa, đời có bao lâu mà hững hờ… cuối cùng rồi cũng lên đường cả thôi. Cái đường xa vạn dặm ấy có bạn bè khố rách áo ôm đi cùng chắc cũng vui và đỡ vất vả hơn tự vác cây thập tự của mình.

Tôi biết nói sao bây giờ khi đi thăm anh do anh thấy trời nắng lên nên bưng chậu ớt to ra ngoài sân cho có nắng, không ngời bão tuyết tới bất tử; anh thà chết chứ không để chậu ớt chết lạnh vì anh ăn ớt như cưỡng mà chợ bán ớt tươi tới ba bốn đồng một vỉ ớt chỉ đủ anh ăn hai bữa cơm trong ngày. Thế là anh bị đột ngột quá sức nên anh đột qụy. Bây giờ giở sống giở chết, chết sẽ tốt hơn là sống vất vưởng, nhưng phần phước mỗi người không phải muốn là được. 

Nên cuối cùng là sống hà tiện nhưng đừng bần tiện, mọi người sẽ xa lánh, bản thân cũng bất an triền miên vì nhìn đâu cũng thấy đáng ngờ, nhìn ai cũng ra kẻ cướp để cuối cùng mất mạng vì chính mình, vì anh đã cố gắng gọi nhiều người quen đến cứu anh, chở anh đi bệnh viện cho đỡ tốn tiền xe cứu thương. Nhưng cuối cùng là người hàng xóm tốt bụng đã gọi 911 để cứu anh khi bà ta thấy anh ôm chậu ớt khổng lồ ngoài sân sau. Trời tuyết…

Phan

Tin tức khác...