Ebola sẽ bị xóa sạch?

Trong cái thế giới nơi mà loại tin tức đáng được loan truyền và chú ý hầu hết là những tin khủng khiếp, đáng sợ, những chuyện gây hoảng hốt, hoang mang, nơi đã có thành ngữ “no news is good news”, một tin tốt lành, đem lại vui mừng thật hiếm hoi.
Đầu tuần trước, các hãng thông tấn quốc tế đua nhau đưa một tin sốt dẻo thuộc loại đó.
Tạp chí mạng The Wired chạy tít: Ebola nay là bệnh chữa lành được.
Tựa tin của UNILAD, một mạng loan tin sốt dẻo thuộc nhóm LADBible, tự hào có hơn 120 triệu người theo dõi, viết: Các Khoa học gia tuyên bố sau cùng thì Ebola đã được chữa lành.
Và hãng thông tấn khả kính Reuteurs thận trọng, chi tiết hơn: Ebola ‘không còn là không thể chữa lành’ sau khi cuộc thử nghiệm ở Congo tìm được các thứ thuốc làm tăng số người sống sót.
Các tin trên được tung ra 12 ngày sau một năm Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) công bố đợt bùng phát thứ 9 của siêu vi Ebola trên đất nước này.
Tính từ ngày đó đến nay, đã có ít nhất 1.800 người ở DRC chết vì Ebola và tổng số ca bệnh được ghi nhận lên đến 2.800 ca. Ngày 1 tháng 8 cũng là ngày Rwanda, quốc gia lân bang của DRC, đóng cửa biên giới giáp ranh với thành phố Goma của DRC để ngăn không cho Ebola lây lan sang nước họ.
Hôm 12 tháng 8, các giới chức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Y tế Quốc gia Congo tuyên bố rằng hai loại thuốc Ebola thử nghiệm đã cứu được khoảng 90% bệnh nhân được điều trị sớm. Kết quả rất ấn tượng đến nỗi các loại thuốc sẽ được cung cấp cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh trong đợt bùng phát hiện nay.
Mới một tháng trước đó, WHO đã phải tuyên bố Ebola đã trở thành một trường hợp y tế công cộng khẩn cấp ở mức độ quốc tế sau khi chính phủ DRC công bố dịch virus Ebola lại bùng lên sau khi ca tử vong thứ 2 vì Ebola được ghi nhận tại Goma. Goma là thành phố có 2 triệu dân, nằm sát Rwanda và là cửa ngõ vào DRC của các du khách quốc tế.
Bản tin chi tiết cho hay 4 loại thuốc đã được thử nghiệm trong nỗ lực chống lại đợt bùng phát lớn này, và hai trong số đó tạo được tỷ lệ sống sót tăng đáng kể. Cuộc thử nghiệm diễn ra tại bốn trung tâm điều trị tại các thị trấn ở vùng đất phía đông, Beni, Katwa, Butembo và Mangina, nơi dịch bệnh bùng phát ở mức độ mạnh nhất.
Bốn loại thuốc trong cuộc thử nghiệm là ZMap, Remdesivir và hai loại thuốc kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody drug), một loại do Regeneron sản xuất, loại kia của công ty Ridoltack Biotherapeutics.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ (US NIAID), nhà đồng tài trợ cuộc thử nghiệm, cho biết hai loại thuốc kháng thể đơn dòng đã có tác dụng đáng kể hơn Zmapp, loại thuốc được sử dụng trong thời gian đại dịch Ebola ở Sierra Leone, Liberia và Guinea, và thuốc Remdesivir.
Loại do Regeneron sản xuất có tỷ lệ tử vong chung thấp nhất ở mức 29%, trong khi loại kháng thể đơn dòng 114 của Ridoltack Biotherapeutics có tỷ lệ tử vong là 34%.
Ông Jean-Jacques Muyembe, tổng giám đốc của Viện Nghiên cứu Y sinh học Quốc gia của DRC, hào hứng: “Từ nay, chúng ta sẽ không còn nói rằng Ebola là không thể chữa được”.
Hai loại thuốc đầy hứa hẹn được làm từ kháng thể Ebola – một loại protein được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch để chống sự nhiễm trùng. Sản phẩm của Regeneron là một loại cocktail gồm ba kháng thể Ebola, trong khi mAb114 – được các nhà khoa học tại NIAID phát triển, chỉ dùng một kháng thể duy nhất.
Anthony Fauci, giám đốc của NIAID Hoa Kỳ, giải thích tỷ lệ tử vong chung của những người được tiêm ZMapp trong thử nghiệm là 49% trong khi tỷ lệ tử vong của những người được cho dùng Remdesivir là 53%.
Với những người đến trung tâm điều trị ngay sau khi bị bệnh, tỷ lệ tử vong còn thấp hơn nữa. Những người được cho dùng Zmapp có tỷ lệ tử vong là 24%, Remdesivir có tỷ lệ 33%, Antibody monoclonal Regeneron có tỷ lệ tử vong là 6% và thuốc do Ridoltack Biotherapeutics sản xuất 11%.

Nạn dịch có tên “Ebola”
Năm 1976, một loạt cái chết vì một chứng bệnh chưa ai biết đến đã diễn ra ở khu vực phía bắc của quốc gia Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo), Phi châu.
Thực ra thì bệnh đã bùng phát trước đó ở Sudan.
Hầu hết trong số 318 trường hợp và 280 trường hợp tử vong là ở Yambuku, một ngôi làng nhỏ nằm ở tỉnh Mongala phía bắc của Zaire.
Bệnh được mang tên Ebola theo tên của con sông Ebola, một nhánh của sông Congo.
Ngôi làng này không có nước máy, cũng chẳng có điện. Họ có một nhà thương – Bệnh viện Truyền giáo Yambuktu do các nữ tu người Bỉ điều hành. Ở đó không có máy vô tuyến điện, không điện thoại hoặc xe cứu thương, tất cả mọi việc thông tin liên lạc đều phải dùng người chạy xe mô tô.
Các báo cáo về căn bệnh này khiến nó quá khủng khiếp. Gần 90 phần trăm nạn nhân đã chết, một cái chết ghê rợn, máu tràn ra từ tất cả các lỗ của thân thể. Thực ra thì đây là một sự cường điệu. Hầu hết các nạn nhân chết vì mất nước và các cơ phận bên trong ngừng hoạt động, và ở nhiều nạn nhân không có chuyện xuất huyết.
Ngoài ra, thứ virus ác hiểm này lại có khuynh hướng giết các nhân viên y tế – bác sĩ và y tá. Sự bùng phát ban đầu được lan truyền phần lớn bởi chính hệ thống chăm sóc sức khỏe. Người bị bệnh đầu tiên, ông Mabalo Lokela, hiệu trưởng một trường trong làng, đã bị chẩn đoán lầm là sốt rét! Bệnh viện điều trị cho ông bằng cách chích thuốc ký-ninh (quinine). Rồi những người bệnh khác sau đó cũng được chích ký-ninh bằng những cây kim tiêm không được khử trùng. (Cả đến nhiều phụ nữ có thai được cung cấp vitamin cũng được chích vitamin bằng cùng những cây kim đó!).
Ba ngày sau khi vào bệnh viện, ông Lokela qua đời. Ngay sau cái chết của Lokela, những người đã tiếp xúc với ông cũng chết. Dân chúng ở Yambuku bắt đầu hoảng loạn. Bộ trưởng Bộ Y tế Zaire và lãnh đạo nước này, ông Mobutu Sese Seko đã đặt toàn bộ khu vực, bao gồm Yambuku và thủ đô Kinshasa, trong tình trạng cô lập. Thiết quân luật không ai được phép vào hoặc ra khỏi khu vực, và đường bộ, đường thủy và sân bay. Các trường học, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội đã bị đóng cửa. Peter Piot, người đồng khám phá ra Ebola khi cùng các nhà nghiên cứu từ Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) đến để đánh giá ảnh hưởng của vụ dịch, đã nhận xét rằng “toàn bộ khu vực đang hoảng loạn”.
Trước khi các nhà điều tra bên ngoài từ châu Âu, Hoa Kỳ và Nam Phi đến, 11 trong số 17 nhân viên bệnh viện đã chết.

Virus Ebola
Virus Ebola là một nhóm siêu vi gây ra một loại sốt xuất huyết làm chết người. Có đến 5 loại virus Ebola khác nhau. Bốn trong số các chủng có thể gây bệnh nặng ở người và động vật. Virus thứ năm, Reston, đã gây bệnh ở một số động vật, nhưng không phải ở người.
Từ “sốt xuất huyết” (hemorragic fever) có nghĩa là chứng sốt gây chảy máu trong và ngoài cơ thể.
Các triệu chứng của Ebola thường bao gồm: yếu người, sốt, đau nhức, tiêu chảy, nôn mửa và đau bụng. Các dấu hiệu khác bao gồm phát ban, mắt đỏ, đau ngực, đau họng, khó thở hoặc khó nuốt và chảy máu (cả nội xuất huyết).
Thông thường, các triệu chứng xuất hiện từ tám đến 10 ngày sau khi tiếp xúc với virus, nhưng thời gian ủ bệnh có thể kéo dài từ hai đến 21 ngày.
Khi bệnh tiến triển, virus có thể làm suy giảm chức năng thận và gan và dẫn đến chảy máu bên ngoài và bên trong. Đây là một trong những loại virus nguy hiểm nhất trên Trái đất với tỷ lệ tử vong có thể lên tới khoảng 50 đến 90%. Cho đến năm 2019, người ta cho rằng bệnh không thể chữa khỏi.
Virus Ebola lan truyền qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết từ người bị nhiễm bệnh, trực tiếp hoặc qua bề mặt bị ô nhiễm, kim chích hoặc các thiết bị y tế. Người bệnh nhân không truyền nhiễm cho đến khi họ bắt đầu có dấu hiệu của bệnh.
Rất may, virus không lây lan qua không khí, có nghĩa là người ta không thể mắc bệnh nếu ở cùng phóng, chia sẻ không gian với người bị nhiễm bệnh.
Loại virus nguy hiểm này được đặt theo tên của con Sông Ebola ở DRC, một nhánh của sông Congo chảy gần khu vực của một trong những ổ dịch đầu tiên.
Một số loài dơi sống trong các khu rừng nhiệt đới châu Phi được cho là vật chủ tự nhiên của bệnh. Virus Ebola lan truyền qua tiếp xúc với chất lỏng cơ thể. Các con thú ăn trái cây rơi rụng trên mặt đất mà một con dơi bị nhiễm virus đã cắn sẽ bị lây. Và rồi con người bị lây bệnh vì tiếp xúc với máu một con thú bị nhiễm bệnh khi làm thịt con thú đó.
Một khi đã lây sang người, virus Ebola có thể dễ dàng lây truyền giữa những người tiếp xúc gần gũi với người đó.
Các nhân viên y tế và người chăm sóc người bệnh là những người đặc biệt có nguy cơ mắc bệnh vì họ tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân bị nhiễm bệnh trong giai đoạn cuối của bệnh khi virus có thể gây cả nội xuất huyết lẫn ngoại xuất huyết.
Trong đợt bùng phát lớn nhất (2014-2016), có 28 ngàn người nhiễm bệnh, 11.300 người chết. Theo WHO, chỉ riêng trong đợt dịch đó, hơn 100 nhân viên y tế đã bị nhiễm bệnh và ít nhất 50 người trong số họ đã chết, theo WHO.
Virus cũng có thể lây truyền qua quan hệ tình dục. WHO nói rằng ngay cả những người đàn ông đã phục hồi vẫn có thể truyền virus qua tinh dịch của họ trong vòng tối đa bảy tuần sau khi phục hồi.
Các đợt bùng phát dịch Ebola ở người đã được xác nhận ở Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), Gabon, Nam Sudan, Bờ biển Ngà, Uganda, Cộng hòa Congo (ROC), Guinea, Liberia và Sierra Leone.
Đợt sau cùng diễn ra từ tháng 8, 2018 ở Bắc Kivu, DRC và kéo dài đến nay.
Ebola ở Hoa kỳ
Mặc dù các đợt bùng phát virus Ebola đều xảy ra ở Phi châu, nhưng virus Ebola đã lần đến nước Mỹ. Có tất cả 11 trường hợp virus Ebola ở Hoa kỳ, 9 là những người được đưa từ các nước khác về Mỹ điều trị, và hai là các y tá điều trị cho các bệnh nhân Ebola.
Một trong hai y tá đó là cô Nina Phạm, một người Mỹ gốc Việt.
Ngày 30 tháng 9 năm 2014, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) thông báo ông Thomas Eric Duncan, một người quốc tịch Liberia 45 tuổi đang ở Mỹ thăm gia đình đã được chẩn đoán mắc bệnh sốt Ebola. Duncan được đưa vào điều trị tại Bệnh viện Texas Health Presbyterian ở Dallas. Ông Duncan qua đời ngày 8 tháng 10 vì Ebola.
Hai hôm sau, cô Nina Phạm, một y tá 26 tuổi, người đã điều trị cho Duncan tại Texas Health Presbyterian Hospital báo cáo mình bị sốt nhẹ. Cô lập tức được cách ly và sau đó, có kết quả xét nghiệm dương tính với virus Ebola. Cô Nina Phạm trở thành người đầu tiên nhiễm virus Ebola ở Hoa Kỳ. Giới chức bệnh viện cho biết cô Phạm đã mặc đồ bảo hộ khi điều trị cho Duncan trong lần ông ta đến bệnh viện lần thứ hai và tiếp xúc nhiều lần với ông ta.
Sau đó, cô Nina Phạm được chuyển đến Trung tâm Lâm sàng của Viện Y tế Quốc gia tại Bethesda, Maryland.Vào ngày 24 tháng 10, Trung tâm Nghiên cứu Y học quốc gia (NIH) tuyên bố cô Phạm đã sạch virus Ebola. Hôm đó, cô được đưa đến Bạch ốc để gặp Tổng thống Obama.
Trường hợp thứ ba cũng là một nữ y tá của bệnh viện Texas Health Presbyterian. Cô Amber Vinson, 29 tuổi. Ngày 14 tháng 10, cô Vinson báo cáo mình bị sốt, lúc đó, cô đang ở Ohio sau khi bay từ Dallas sang Cleveland và Cleveland đến Ohio. Cô được chuyển về bệnh viện Emory University Hospital ở Atlanta. Bảy ngày sau, cô được xác nhận không còn virus Ebola.
Trường hợp thứ tư là một y sĩ. Bác sĩ Craig Spencer, người đã điều trị cho các bệnh nhân ở Tây Phi, được xét nghiệm dương trính với Ebola tại bệnh viện Bellevue Hospital Center ở New York hôm 23 tháng 10 sau khi thấy mình bị sốt cao. Ông bay từ Guinea về Mỹ một tuần trước đó. Ông được cho xuất viện ngày 11 tháng 11.
Bốn trường hợp Ebola ở Hoa kỳ đã gây ra nhiều hốt hoảng cho dân chúng và rắc rối cho các cơ quan y tế. Sau cái chết của Duncan, bệnh viện Texas Health Presbyterian vắng như chùa Bà Đanh vì các bệnh nhân hủy các cuộc giải phẫu đã lên lịch và những người tìm kiếm sự chăm sóc khẩn cấp đã tránh phòng cấp cứu.
Tất cả những người đã có tiếp xúc với Duncan đều được theo dõi. Những người có mặt trên các chuyến bay của cô Vinson cũng thế, riêng 16 người tự nguyện cách ly.
Việc trị liệu cho Duncan đã làm tốn kém cho Bệnh viện Texas Health Presbyterian nửa triệu đô la. Ông này không có bảo hiểm y tế.
Trong số các trường hợp mang bệnh từ Phi Châu về Mỹ, có Bác sĩ Martin Salia, vợ một công dân Hoa kỳ, bị nhiễm bệnh từ Sierra Leone khi điều trị cho các người bệnh ở đó. Bà Salia vào bệnh viện Nebraska Medical Center ở Omaha hôm 15 tháng 11 và qua đời tại đó hai hôm sau.

Có lạc quan quá không?
Nỗi vui mừng, phấn khởi của các giới chức y tế thế giới và chính phủ DRC bị cho là quá sớm, quá lạc quan.
Cứ cho rằng đã có thuốc tốt. Nhưng thuốc tốt chưa phải là yếu tố duy nhất để quả quyết rằng Ebola đã / sẽ bị đánh bại.
Nếu nhìn vào diễn tiến của virus Ebola tại Hoa kỳ năm 2014, ngưởi ta thấy một điều quan trọng: tất cả các bệnh nhân đến bệnh viện rất sớm để xét nghiệm và điều trị, ngay khi thấy những triệu chứng đầu tiên.
Ở Phi châu, sự việc sẽ không như thế. Vì nhiều lý do, nhiều người sẽ trì hoãn xét nghiệm và điều trị, và những người khác sẽ không bao giờ đi xét nghiệm và điều trị.
Châu Phi, cái lục địa được gọi là Lục địa Đen vì màu da của con người ở đây, còn rất đen đủi theo nghĩa bóng.
Đó là nơi cái đói, nghèo, dốt nát và dịch bệnh đi chung với nhau, và trong lúc những châu lục khác tiến bộ dần, hoặc tối thiểu cũng có những thay đổi, Châu Phi vẫn không thể ngóc đầu lên được vì tranh chấp, xung đột và loạn lạc.
Trung tâm của đợt bùng phát hiện nay thuộc hai tỉnh nơi các cuộc xung đột đang diễn ra ở miền đông Congo. Phe nổi dậy đã tiến hành các cuộc tấn công vào các nhân viên y tế ở đó. Nhân viên y tế đã bị sát hại, các trung tâm điều trị đã bị đốt. Bên cạnh đó là những tin đồn về những “âm mưu” liên quan đến bệnh Ebola. Như tin virus Ebola được các giới chức chính phủ tạo ra để hy vọng làm giàu nhờ viện trợ phương Tây, tin các thuốc chủng ngừa rất nguy hiểm và thi thể của những người chết vì virus bị mổ xẻ và bán cho các học viên phù thủy.
Trong bầu không khí như vậy, các chiến thuật tiêu chuẩn – như chích vaccine cho tất cả các người có tiếp xúc với ngưởi bệnh và theo dõi hơn 21 ngày – không thể áp dụng được.
Thế nên nhiều gia đình đã giấu người thân bị nhiễm bệnh trong nhà. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân mắc Ebola tìm đường đến các trung tâm điều trị và một số, cón nhỏ hơn nữa, đã đến trước khi bệnh đến giai đoạn cuối.
Ở các nước giàu, nơi chăm sóc y tế có thể dễ dàng tiếp cận và các viên chức y tế được tin tưởng, các loại thuốc mới sẽ là tuyệt vời. Nhưng đó không phải là Phi châu, càng không phải là nơi các vụ bùng phát đang diễn ra.
Đỗ Quân (tổng hợp)

Tin tức khác...