CHUYỆN TÌNH ĐÊM GIAO THỪA
Hồi ức của Nguyễn Thanh Phong
(Đây là hồi ức của tôi ghi lại “Chuyện tình đêm giao thừa giữa thế kỷ 20″ vào đêm 30 tháng Chạp năm Kỷ Sửu 1949, ngày Dương lịch là 16 tháng 2 năm 1950).
Một nén hương lòng kính dâng hương hồn L.T.T., một Trinh nữ kiều diễm, đài các, giàu sang và trí thức, đã vô tình trải thảm nhung cho tôi êm ái bước vào một cuộc tình đầy hoa mộng, nhưng là cuộc tình hoàn toàn thanh cao và trinh bạch….
***********
Tôi biết yêu vào tuổi mười sáu, nhiều lúc ngẫm nghĩ, không biết với tuổi tròn trăng biết yêu là sớm quá không? Sau nầy, qua sách vở, tôi mới biết có một thi sĩ biết yêu vào tuổi mười ba, đó là thi sĩ Hoàng Cầm.
H.C.sanh năm 1922, tên thật là Bùi Tằng Việt, quán thôn Lạc Thổ, xã Sông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Bài thơ “Lá Diêu Bông” sáng tác vào khoảng năm 1959 trong loại hồi ức những kỷ niệm xưa với một người con gái lớn hơn ông tám tuổi mà ông gọi là chị, mà sóng đời tình cờ đưa đẩy nàng về sống ở quê Bắc Ninh của ông. Cái tình ngây thơ được H.C. mô tả rất sống động và rất thực. Cậu bé thương cô gái lớn tuổi bằng một mối tình đơn phương và chân phương. Cô gái có thể biết, nhưng giả vờ không biết, vì biết rằng không thể kết hợp được. Tuy ở tuổi 14, 15, tâm hồn như trang giấy trắng, nhưng cô đa tình, đa cảm và cũng giàu tưởng tượng, nên mới đặt ra cái trò thách đố đi tìm một loài lá tưởng tượng là “Lá Diêu Bông”. Cái khó ấy là để thử lòng cậu bé coi cô là thần tượng. Có điều cô không ngờ, thế mà có một cậu bé tin là thật đi tìm cho được Lá Diêu Bông, và trọn đời bị ám ảnh bởi chiếc lá “Huyền thoại” nầy. Lá Diêu Bông từ đó tiêu biểu cho một thứ tình yêu ngây thơ nhất, câm nín nhất và cũng chung thủy nhất,(tài liệu Hoàng Yên Lưu)
LÁ DIÊU BÔNG
Hoàng Cầm (1959)
Váy Đinh Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ…
Chị bảo :
– Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày sau
Em tìm thấy lá
Chị chau mày
– Đâu phải lá Diêu Bông
Muà Đông sau
Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười
Xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt
Chị không nhìn
Từ thuở ấy…
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
– Diêu Bông hời
Ới ! Diêu Bông…!!!
Bài thơ nầy đuợc phổ nhạc “Sao em nỡ vội lấy chồng”.
Theo tiểu sử, H.C. sanh năm 1922, biết yêu vào năm 13 tuổi tức năm 1935, mải đến 24 năm sau, ông mới thố lộ tâm tình qua bài thơ trên. Còn tôi, chuyện tình của tôi giữ kín trên nửa thế kỷ, tôi mới thố lộ tâm tình, vì hiện giờ nàng đã vĩnh viễn lìa xa trần thế hơn 4 tháng nay. Chuyện tình giữa tôi và nàng rất âm thầm kín đáo, chỉ có 3 người được biết, nhưng các nguời ấy vẫn giữ kín và cũng không bao giờ hạch sách tôi, sự kiện nầy khiến tôi rất đổi ngạc nhiên, vì 3 người ấy là Bà Nội và Ba Má tôi.
Như tựa đề, câu chuyện chỉ là hồi ức, vì vậy tôi không dài dòng đưa thêm vào những đoạn đời ít liên quan đến tiêu chí. Gia đình tôi trú quán tại làng Tân Vĩnh Hòa, tỉnh Sađéc. Năm 1947, Ba tôi rời gia đình lên Saigon tìm theo vết chân một người tình mà chứng nhân lịch sử đến nay vẫn còn hiện hữu, nên tôi xin miễn nêu tên hầu tránh làm thương tổn đến hương hồn của Ba tôi, và làm vẩn đục danh giá của người tình ở tuổi xế chiều.
Cuối niên học năm 1948, tôi thi đỗ bằng Sơ học, còn gọi là bằng C.E.P.C.I., tôi phải lên Saigon ở với Ba tôi để tiếp tục vào trường Trung học. Kịp lúc nhân duyên giữa Ba tôi và người tình cũ đã đi vào đoạn kết, Ba tôi mướn một căn nhà – nói là căn nhà cho ra vẻ – thực ra nó chỉ là một nhà chứa củi, chiều dài lối 4 mét rưỡi và chiều ngang lối 2 mét rưỡi, xung quanh là vách ván ọp ẹp chỉ cao khoảng 1 mét rưỡi, đứng trong nhà có thể nhìn bao quát bên ngoài. Nhà ngăn ra bởi một tấm vách chia ra 2 phòng, phía trước Ba tôi đặt chiếc ghế bố là nơi nghỉ ngơi của Ba tôi. Phần trong buồng, lót 1 chiếc chõng bằng tre là nơi tôi ngủ. Một cánh cửa sau thông ra nhà bếp lợp lá, rộng vừa đủ đặt một cái bàn nhỏ, trên để 2 hỏa lò dùng nấu ăn.
Từ ngày lên chung sống với Ba, tôi trở thành người nội trợ đắc lực và đảm đang, nào vừa học, vừa đi chợ, nấu ăn, chẻ củi, xách nước giếng, giặt gỵa, thời gian rảnh rỗi của tôi dường như biến mất. Mỗi sáng, sau khi Ba tôi đạp xe đi làm, tôi phải ăn một bát cơm nguội còn dư chiều hôm trước, rồi đạp xe đến trường, đoạn đường từ Bà Chiểu (Gia Định) ra đến trường dài ngót 5 cây số. Buổi trưa tôi phải nhịn đói, để rồi buổi chiều tan học, tôi phải bươn chãi ra chợ mua thức ăn về nhà nấu đợi Ba đi làm về ăn.
Dòng đời vẫn âm thầm đều đặn trôi chảy với tâm trạng bi quan, nhưng tôi không bao giờ than vãn, vẫn một lòng kính mến người cha và lo làm tròn bổn phận đứa con hiếu thảo. Lúc bấy giờ, nền hành chánh còn thuộc người Pháp điều hành, vì nước Việt Nam còn thuộc quyền đô hộ của Pháp. Ba tôi là công chức làm việc tại sở Trường Tiền còn gọi là Travaux Publics, sau nầy đổi lại là Công Chánh. Là công chức, nên chánh phủ Pháp ưu đãi đến đời sống, nào cấp thẻ mua lương thực, vải vóc với giá chánh thức. Thị trường lúc bấy giờ có 2 giá : 1 giá trợ cấp và 1 giá chợ đen, còn gọi là “Marché noir”. Ba tôi được cấp 1 thẻ mua bánh mì, mỗi ngày 1 ổ rưỡi, do lò bánh mì người Pháp làm, hiệu Poitou rất ngon. Ba tôi giao thẻ nầy cho tôi, để mỗi buổi sáng sớm, đạp xe ra mua rồi đem đến một tiệm café bán lại kiếm lời được 5 đồng. Ba cho tôi để đi học ăn quà, nhưng với điều kiện là phải mua sữa bò pha café cho Ba tôi uống mỗi sáng.
Ngày nắng gió, đêm trăng sao, vu trụ vẫn đều đều tiếp diễn theo chu trình của năm tháng.Với cuộc sống tựa hồ kẻ yếm thế, thật ra, nhiều lúc nằm một mình ở nhà, giữa khoảng không gian trống vắng, tôi cảm nhận mình đang lạc loài giữa dòng đời nghiệt ngã. Từ thuở còn thơ, sống chung với mái gia đình, nay ôm vào lòng nỗi buồn xa quê hương, nơi còn một mẹ già với bầy em thơ dại!!!.
Tưởng rằng cái buồn chán vẫn mải đeo đuổi, bỗng một hôm, Ba bảo tôi sửa soạn để Ba đưa đi thăm gia đình một người thân, nhà tọa lạc gần cổng vườn Tao Đàn hướng ra đường Verdun, nay là Lê Văn Duyệt. Lần đầu đến nhà người lạ, tôi rất bỡ ngỡ, mà Ba giới thiệu là bà con. Trong nhà ngoài người giúp việc, còn lại chỉ có hai mẹ con mà thôi. Và cái người mẹ Ba tôi gọi bằng “Bà”, còn cô con gái, Ba tôi gọi bằng “Dì”, tuy rằng tuổi nàng chỉ mới hai mươi mốt.
Sau lần diện kiến với gia đình nầy, nhứt là người con gái tôi phải gọi bằng “Bà”, tôi suy nghĩ mãi sợi dây liên hệ bà con giữa 2 gia đình, mà đến nay, trải qua suốt trên năm mươi lần Xuân hồng Hạ trắng, tôi cũng chưa truy ra nguồn gốc thân tộc nầy. Mẹ nàng tôi gọi bằng “Bà Sáu”, còn nàng tôi gọi bằng “Bà Hai”, Nàng mồ côi cha, và khi lọt lòng mẹ, nàng mới được 7 tháng. Vì thế, thể trạng nàng trông có vẻ yếu ớt, nhưng cái yếu ấy không hẳn là cái yếu của người bệnh, mà cái yếu trong dáng vẻ một tiểu thơ đài các, sống trên nhung lụa của một gia đình thượng lưu.
Mẹ nàng trông bệ vệ như mệnh phụ, nghe nói bà có chồng là quan đốc học có quốc tịch Pháp tên Coulet, nên danh xưng của bà là bà Đốc Lê. Còn nàng là cựu nữ sinh trường Marie Curie, một trường Pháp dành cho con cháu của người Pháp theo học. Tuy tuổi hai mươi mốt, nhưng nàng là con người tháo vát, có óc chỉ huy, mọi việc trong nhà đều do một tay nàng quán xuyến. Nàng có nét đẹp dịu hiền, dáng đi khoan thai, giọng nói thanh thoát, êm ái như ru hồn người vào mộng. Trông nàng quý phái lắm, vẻ ra con người có cốt cách một vị công chúa Tây phương.
Kể từ khi được biết gia đình nàng, mỗi ngày tôi đều đến nhà buổi trưa để nghỉ, chứ không về cái nhà chứa củi thê lương ảm đạm ấy. Và với thời gian gần gũi, nàng tỏ ra thân mật, hay gợi chuyện để cho tôi bớt vẻ rụt rè. Biết buổi trưa tôi phải nhịn đói, nàng bảo tôi phải đến nhà ăn cơm. Ban đầu còn ngại ngùng, nhưng với sự ân cần, sốt sắng của nàng, tôi dần dần trở nên là một thành viên tin cẩn của gia đình nàng.
Thói thường, hễ ăn cơm vua thì vùa việc nước, tôi ăn nghỉ ở nhà nàng, nên tôi tự mình kiếm những việc làm, như quét dọn, lau chùi, hoặc giúp nàng tươm tất những việc gì nàng nhờ đến. Nhà nàng, và đa số các nhà kế cận, tường nhà thường đóng bằng ván gỗ, luôn cả trên trần nhà cũng vậy. Có một hôm tôi nhìn lên trần, thấy mấy cọng cỏ rác nhô ra, tôi vội bắt thang leo lên để xem thử. Ôi, thật không ngờ, trên ấy chứa cả gần hết khung trần bằng cỏ và cành khô, do bầy sáo tha về làm tổ. Tôi bèn đem giỏ tre lên hốt đống rác đó, từng hồi đến dọn sạch hết. Vì việc làm nầy mà cả nhà, nhứt là nàng rất thương tôi, và nói rằng, tôi là đứa bé rất tháo vát, kỹ lưỡng và siêng năng.
Ở lâu mới biết tánh người, gia đình nàng rất kỹ lưỡng, sạch sẻ và ngăn nắp. Áo, khăn, quần, đều phải giặt riêng mỗi thứ. Thậm chí, sợi dây lưng quần cũng phải rút ra đem giặt riêng, rồi ủi thẳng, ghim một cây kim tây vào, treo trong ngăn tủ, mỗi lần mặc thì luồn vào quần. Kỹ đến độ – nói ra không phải tò mò – tôi chưa hề nhìn thấy chiếc quần lót phơi chung trên dây cùng với quần áo, mà người làm công phải đem vào một góc khuất trong phòng tắm để phơi.
Thời gian dài chung sống với gia đình nàng, tôi trở nên quen thuộc. Nàng thường vò đầu tôi mỗi khi tôi thốt một lời nói ngu ngơ, thế rồi nàng cười, nụ cười hồn nhiên, như ẩn một vẻ trìu mến. Nàng gọi tôi là “Bé Ba” và nàng bảo tôi gọi nàng bằng “Cô”, vì kêu bằng “Bà” nghe có vẻ…già quá. Mà thực như vậy, nàng chỉ lớn hơn tôi 5 tuổi, nếu đứng trước một vị khách nào mà nghe tôi gọi nàng bằng “Bà”, trông có vẻ hơi khôi hài, vậy gọi nàng bằng “Cô”, có lẽ thanh và trẻ trung hơn.
Nàng rất thông thạo tiếng Pháp, và bạn nàng thỉnh thoảng đến chơi, đều đàm thoại bằng ngôn ngữ ấy. Mỗi tuần vào thứ tư, tôi hay đi mua cho nàng một tạp chí “Nous deux” để nàng xem. Chủ trương tạp chí nầy hướng về văn phong của câu chuyện tình yêu. Khi nào nàng xem có chuyện nào hay – nói về hệ lụy của tình yêu – thì nàng thuật lại cho tôi nghe.
Có một chuyện mà đến nay mỗi lần hồi tưởng, tôi mỉm cười nhớ lại cái khờ khạo, ngu ngơ của mình. Một hôm, nàng trao tôi mảnh giấy và tiền, bảo tôi đến nhà thuốc La Thành, đưa ra tấm giấy nầy để mua một món hàng. Người bán hàng là một thiếu nữ trẻ, xem tấm giấy nầy rồi ngước lên nhìn tôi nhoẽn cười, dường như trong nụ cười ẩn chứa sự chế nhạo. Thì ra món hàng mà nàng nhờ tôi đi mua, chỉ là một hộp băng vệ sinh. Về nhà, tôi thuật chuyện lại cái cười chế nhạo của cô thiếu nữ ấy, nàng cười ngặt nghẽo, rồi vò đầu tôi vuốt ve, tỏ vẻ an ủi, hầu xoa dịu cái bộ tịch “ngáo ộp” của tôi trước trò đùa tinh nghịch nàng bày ra để mà…cười.
Gần gũi trò chuyện với nàng lâu dần, tôi bỗng thấy lòng mình chợt nhớm chút “thích thích” và “thương thương”. Thật ra, thích, thương, hay “yêu”, tôi chưa định nghiã. Nhưng, những khi vì bận việc, không đến nhà nàng một ngày. là một ngày tôi thấy lòng mình bâng khuâng, luyến nhớ. Tôi bỗng nhớ đến đoạn thơ của Xuân Diệu :
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…
Như đã nói, vốn nàng bị sanh thiếu tháng, nên có một thể trạng yếu. Vì thế, thỉnh thoảng đang làm một việc gì đó, bỗng nàng cảm thấy mệt, rồi vội vã lên giường nằm nghỉ. Phòng nàng kê 2 chiếc giường đồng sáng loáng, nệm dầy phủ tấm “Drap” trắng thật sang trọng. Lúc bấy giờ rụt rè, nhẹ bước, tôi đến bên giường nàng và hỏi :
– Cô thấy trong người ra sao?
Nàng mỉm cười, rồi bảo tôi rót cho nàng một ly nuớc lã. Sau đó, nàng bảo tôi đến tủ lấy lọ dầu thơm cho nàng thoa lên mũi, vì hễ mỗi lần nàng cảm thấy mệt, thì nàng hay xức dầu thơm cho khỏe. Và chính cái mùi dầu thơm hiệu “Jackie” nầy, mà về sau mới xảy ra một thiên tình sử…
Nhìn nàng nằm im lìm với hơi thở dồn dập, chiếc mền đắp ngang bụng, hai tay chắp lại che phũ lên ngực, tôi thấy lòng mình nao nao. Tôi nói :
– Tôi quạt cho cô nhé?
Nàng gật đầu. Thế là tôi quỳ cạnh bên nàng, tay cầm quạt phe phẩy, mong làn gió nhẹ của chiếc quạt thoảng qua, đem lại cho nàng sự thư thái trong cơn mệt.
Được tình nguyện hầu cạnh bên nàng, tôi cảm thấy sung sướng trong lòng, và dường như trước cử chỉ ân cần của tôi, nhìn ánh mắt nàng, tôi thấy tỏa ra một niềm vui pha chút cảm động. Mẹ nàng rất nghiêm nghị và nề nếp, nhưng trong nhà mọi quyền hành đều giao hết cho nàng. Tuy vậy, dù có tác phong oai vệ, nàng không bao giờ thốt lời nặng nhẹ với ai. Trang phục nàng thật giản dị, thường là áo cổ “Bà lai” tay xòe, hoặc áo vạt xéo cài khuy bên hông, quần thì lụa màu ngà ống hơi rộng. Thỉnh thoảng nàng cũng mặc đồ bộ, mà tôi thích nhất là loại vải voan dún màu rượu chát, điểm toàn hình mắt mèo trông thật sang trọng. Cho đến nay, nghĩ nhớ về nàng, tôi vẫn còn hình dung dáng nhỏ của nàng trong bộ đồ mắt mèo ấy.
Là một thiếu nữ đài các, nhưng tôi không thấy nàng trang điểm, kẽ mày, hoặc tô hồng đôi má. Chỉ khi nào đi đâu, thì nàng mới phớt nhẹ một làn son mỏng trên môi. Nàng thích nuôi mèo, lúc rảnh, nàng thường ôm nó vào lòng nựng nịu. Gia đình nàng chuyên buôn bán kim cương, nên thường có khách đến trao đổi sự việc. Tôi sợ nhứt là khách ở miệt hậu giang hay lục tỉnh lên chơi, mà mỗi lần lên nhà, thì ở đôi ba bữa. Những lúc ấy, là lúc tôi cảm thấy cô đơn vì không có dịp gần gũi chuyện trò với nàng, và bận khách, nàng cũng chả tiếp xúc với tôi. Vì vậy, khoảng thời gian – tuy gần mà xa – tôi ví mình như một món hàng quá hạn bị bỏ rơi vậy.
Sanh sống bằng nghề buôn kim cương, nên nàng rất sành trong việc định chuẩn món hàng. Có lúc thư thả rảnh rang, tôi hỏi nàng về cách nào để nhận định giá trị viên kim cương. Nàng giải thích thế nào là hột còn non, là có bọt, có than là hột già. Còn các “nước”, thì tốt nhứt là trắng xanh (Blanc bleu), hột “Lài” màu dầu hôi, dù phản chiếu đèn, nhưng mất giá. Ngoài các điểm trên, còn phải xem vết cắt, “Bông cúc” hay “Lá tre”, mặt trăng nhỏ hay lớn, nhỏ thì chiếu nhiều. Hột phải dầy và không bị “Tim” đít, nghiã là đít thật nhọn không có vết cắt vv…
Từ nhà bếp thông ra bên phải là phòng ăn, cách nhau một khoảng trống rộng lối 1.50 m. Từ cổng rào phiá trước, muốn vào nhà phải đi theo khoảng đường nầy vào, vì cửa trước thường khép kín. Phòng ăn đặt cái bàn và 6 chiếc ghế cạnh cửa sổ. Phía trong để một bộ ván nhỏ vừa cho một người nằm, nơi nầy cũng là chỗ tôi thường nghỉ trưa sau buổi học. Còn nhớ một lần tôi ngủ trưa, lúc thức dậy, thấy trên ngón tay có một chiếc nhẫn xoàn hột thật to, tôi ngạc nhiên quá. Bước lên phòng thấy nàng đang ngủ, tôi phải ngồi đợi cho nàng thức dậy để hỏi cớ sự. Thời gian trôi qua với tâm trạng lo âu, nghĩ mình còn trẻ lòng non dạ, tại sao một vật quý giá từ đâu lại dính chặt trên tay mình ? Vậy mà lúc thức dậy, tiếp xúc với tôi, nàng thản nhiên với vẻ mặt nghiêm nghị, nàng nói :
– Đó là của nàng tiên trên trời xuống tặng cho Bé Ba đó…
Tôi trả lời : “Không có chuyện huyền thoại như vậy đâu cô”.
Thế rồi bỗng nàng cười thích chí và nói rằng : “Lúc Bé Ba ngủ, có người đến giao nhẫn nầy cho cô, tiện thể, cô đeo vào tay Bé Ba, chớ cô làm biếng mở tủ cất vào, vì cô tin Bé Ba nên cô làm vậy, chớ vật quý giá – 5 ngàn đó – nếu ai khác, cô đâu dám gởi giữ giùm”.
Phía trước là phòng khách, có lót một chiếc “Divan” bằng gỗ, chạm 4 chân thật đẹp. Chính giữa, cái bàn thờ cẩn ốc xà cừ. Bên hông cạnh cửa sổ, là chiếc ghế trường kỷ và một cái bàn viết đặt cạnh tường nơi cửa trước, trên bàn có chưng khung ảnh chụp hình con mèo, vì nàng tuổi Đinh Mão sanh năm 1927, một nghiêng mực và bút. Nàng thích dùng mực màu xanh lá mạ, loại mực nầy sản xuất từ bên Pháp, và chỉ có bày bán tại một cửa hàng của Pháp tọa lạc tại đường Catinat, bây giờ là đường Tự Do. Nàng có nét chữ viết cứng, đẹp, nhưng trông uyển chuyển như dáng người con gái. Một đặc điểm lạ, là chữ “G”, nét sổ xuống nàng xoay ngược vòng 2 lần, thành hình tam giác, chứ không kéo nét vòng lên, để tạo hình tròn, và chữ “N”, thì hình dáng như chữ “U”.
Ngày tháng lặng lẽ trôi qua theo mùa trời thay đổi kéo dài ngót 2 năm, tấm tình yêu nàng tôi vẫn giấu kín tận đáy lòng. Để rồi giữa đêm giao thừa ngày 16 tháng 2 năm Kỷ Sửu, mối tình thầm lặng trong phút chốc, bỗng biến thành hiện thực, để rồi từ đó, hai chúng tôi thả hồn trôi theo giòng cảm xúc êm ái và dịu hiền như nắng sớm đầu Xuân…
Mọi năm vào dịp giáp Tết, là Ba tôi và tôi đều về quê ăn Tết, nhưng năm nay, chỉ mình Ba về, còn tôi – đang vương vấn chút tình đầu “Non trẻ” – tôi xin Ba được ở lại với lý do trông nom nhà cửa. Đêm 30 tháng chạp đó, tôi ra ngủ tại nhà nàng. Tôi đem ghế bố đặt nơi khoảng trống giữa nhà bếp và phòng ăn để ngủ. Bà Sáu – mẹ nàng – theo lệ, cứ vào đêm giao thừa đến hết ngày mùng 1 Tết, bà “tịnh khẩu”, tức không nói chuyện. Đêm ấy, nằm một mình để ru giấc ngủ, nhưng nào có ngủ được đâu, lòng ngổn ngang trăm mối, nửa nhớ quê nhà, nửa bận bịu tình yêu – một tình yêu đơn phương – nhưng êm ái như rót mật vào lòng.
Đến đây mới là đoạn thú tội của tôi. Còn khoảng độ 1 giờ nữa là giao thừa, bỗng cửa bếp soạt mở. Bàng hoàng, tôi vội ngồi phắt dậy, thì ra là nàng đang lách mình bước ra, rồi đến ngồi trên ghế bố cạnh tôi. Cử chỉ thản nhiên như ngày thường, nàng kéo gối kê đầu rồi nằm xuống. Ngạc nhiên trước thái độ bất ngờ ấy, tôi im lặng không dám nằm, chỉ ngồi cạnh bên nàng. Nàng nói :
– Đúng giao thừa, Hoàng Đế Bảo Đại sẽ đọc thông điệp gởi toàn dân. Bà Sáu đang tịnh khẩu, cô cũng không ngủ đuợc, nên ra đây nói chuyện với Bé Ba cho đỡ buồn.
Nghe nhắc đến tiếng buồn, tôi đâm ra buồn thật, rồi liên tưởng đến đêm giao thừa, cả gia đình sum họp đang quây quần đón Xuân, tôi chạnh lòng rồi sụt sùi khóc. Thấy vậy, nàng bèn hỏi :”Tại sao tôi lại khóc?”. Tôi trả lời :”Tôi nhớ nhà“. Nàng nói :”Nếu nhớ nhà sao không theo Ba về quê?”. Tôi lặng thinh. Bỗng nàng nắm tay tôi :
– Thôi, Bé Ba nín đi đừng khóc nữa, giao thừa sắp đến, vui lên để nghe vua Bảo Đại chúc Xuân.
Lần đầu tiên trong đời, tôi được một thiếu nữ nắm tay an ủi, lòng thấy khoan khoái lạ thường. Mùi dầu thơm “Jackie” thoang thoảng, như giục tôi mạnh dạn để bước vào con đường tình, mà gần 2 năm âm thầm lặng lẽ trôi qua, tôi chưa một lần dám đặt chân đến ngưỡng cửa.
Một phút chần chờ trong suy tính, tôi bỗng mạnh dạn hỏi xin nàng :
– Cô dùng dầu loại gì mà thơm dịu quá, cô cho tôi cầm tay để ngửi được không?
Nàng gật đầu, chìa tay ra cho tôi nắm. Trời ! Bàn tay nàng sao mềm dịu quá. Hai tay tôi “ôm” bàn tay nàng vuốt ve bằng một cử chỉ trìu mến, nhẹ nhàng, tôi từ từ đưa lên mũi. Nói là tiếng “ngửi”, chứ thật ra “ngửi” và “hôn”, chỉ cần một động tác nhẹ, là bàn tay dịu mềm sẽ nằm ngay nơi mũi. Cái gan ban đầu đã dám thốt ra, thì tội tình gì không mạnh dạn làm gan giẫm chân lên vết hằn của bánh xe trước, tôi bèn hỏi : “Cô cho tôi hôn bàn tay cô nhé?”.
Nàng gật đầu, và kể từ giờ phút nầy, nàng thuộc về sở hữu của tôi. Thôi thì hôn, hít, nựng nịu, tình yêu bấy lâu dồn nén, nay được dịp, mặc tình thưởng thức. Say đắm trong lượn sóng tình, tôi chẳng còn để ý nghe lời chúc Xuân của vua Bảo Đại nữa.
Tay trong tay, 2 người vẫn lặng thinh, mặc cho thời khắc dần trôi, không còn nghĩ gì đến việc bàn giao từ năm cũ sang năm mới giữa 2 con vật Trâu và Cọp. Lâu lắm, lâu lắm, tôi không còn xác định cái giây phút hiện tại của đêm giao thừa, đang nhường bước cho cái đắm đuối, say mê giữa 2 tâm hồn đang lặn ngụp trong cơn xoáy của ái tình vừa chớm. Có lẽ nàng cảm nhận câu châm ngôn “Khi vui không nên hưởng hết, hãy để cho nó thòm thèm”, rồi nàng chợt ngồi dậy nói :
– Thôi! Bé Ba hãy buông tay cô ra cho cô đi nghỉ, giờ cũng khuya lắm rồi…
Đao phủ “đáng sợ” nhất nước Mỹ
Bài hát “ Ngọc Lan” và mối tình đầu không thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Tôi dìu nàng bước xuống, nhưng đôi tay còn như luyến tiếc cái âu yếm say sưa, do sự va chạm giữa 2 làn da thịt, tôi vẫn còn cố níu kéo cái giây phút thần tiên thêm phút nào hay phút ấy. Nhưng rồi một giọng nhỏ nhẹ, như ẩn chứa lời van xin :
– Thôi để cho cô đi vô…
Đến lúc nầy, tôi mới thực sự rời tay nàng, và tiếc rẻ, nhìn theo nàng dần khuất vào sau khung cửa.
Nàng đi rồi, nhưng cái dư vị vẫn còn vương vấn đâu đây. Mùi nước hoa lẩn mùi da thịt của nàng vẫn luôn chờn vờn trong con tim non nớt, lần đầu hưởng được cái hương vị của yêu đương, khíến suốt đêm, tôi không hề chợp mắt. Dường như để đền bù cái khoảnh khắc tựa hồ ngắn ngủi của đêm qua, sáng sớm hôm sau, nàng đến bên rủ tôi đạp xe chở nàng đi chơi. Đầu tiên, hai chúng tôi đèo nhau trên xe đạp về thăm nhà, mà suốt đêm qua bỏ ngỏ. Vào nhà, nàng vội nằm lên chiếc ghế bố của Ba tôi. Đây là lần đầu nàng vào căn nhà củi, tôi thấy hơi ngượng cho cuộc sống quá đạm bạc như thế nầy. Tôi khép hờ cửa lại rồi đến ngồi cạnh nàng và hỏi :
– Bộ cô mệt hay sao?
Nàng không trả lời, nhưng lại nắm tay tôi và bảo tôi nằm xuống cạnh bên nàng. Trước cử chỉ táo bạo mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến, mặc dù đêm qua, bạo dạn lắm, chỉ là cái nắm tay, kèm theo cái âu yếm ngoài da thịt, bỗng nhiên tôi bối rối lạ thường. Nhưng mà lòng ham muốn được kề cận bên nàng đã trỗi lên, xua tan cái rụt rè cố hữu của một đứa con trai vừa bước qua tuổi 16.
Nàng nằm đó, đôi mắt nhìn lên mái nhà, hai tay khoanh trên ngực. Tôi nằm cạnh bên, lòng vừa bỡ ngỡ, bồi hồi, vừa xao xuyến, rạo rực. Nhưng cái phút rụt rè buổi sơ khai mình đã đánh đổ, thì còn ngại ngùng gì không mạnh dạn dấn bước theo cái đà đương nhiên và tất nhiên của nó ? Nghĩ vậy, tôi xoay mình choàng tay ôm lấy tấm thân êm ấm của nàng. Ôi! Không biết trong con tim người con gái tuổi vừa hàm tiếu như đóa hoa khoe sắc buổi bình minh, nàng đã cảm nhận thế nào cái va chạm giữa 2 người khác phái ? Tôi nắm bàn tay nõn nà, vô tình để tay chạm vào ngực nàng. Không thấy nàng phản ứng, tôi nhỏ nhẹ và đột ngột hỏi :
– Cô cho tôi sờ ngực cô được không?
Nàng gật đầu, thế là tay tôi lần lần mở khuy áo, và đưa tay vờn nhẹ trên 2 trái đồi hoa mộng. Nàng vẫn nằm im, hơi thở dồn dập. Đối với tôi, lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng tôi được nàng ban cho cái ân huệ tuyệt vời đó, chớ lòng tôi không dám tiến xa đến việc “Bẻ cành cấu cuống” hay “Mở khóa then cài”. Dù nghĩ vậy, nhưng trước tình thế nguy hiểm, linh hồn tôi bỗng bừng tỉnh, đánh thức cái lương tri vốn “Bản thiện” của “Nhân chi sơ”, nên tôi vội lấy chiếc mền ngăn cách giữa 2 người.
Nằm đó mà lòng thì chợt nhớ đến câu “Không thiện không ác, vốn là bản thể của tâm. Sanh ra có thiện có ác là động tác của ý. Biết rõ thiện ác là lương tri. Bỏ điều ác làm điều thiện là “Cách vật” vậy“. Có người liều lĩnh, cuồng nhiệt, rồi biện minh lý lẽ của con tim. Nhìn nàng, một trinh nữ ở tuổi hoa niên, mà vai vế tôi phải gọi bằng “Bà”, tôi tự trách mình vì hành vi tội lỗi. Tôi bèn xoay mình nằm ngửa, gác tay lên trán, đầu óc mang một ý nghĩ mông lung. Có lẽ hiểu ý, nên nàng bảo :
– Thôi chúng ta vô Chợ Lớn ăn cơm chay
Tôi bước xuống đỡ nàng ngồi dậy rồi sửa soạn ra đi. Vào đến Chợ Lớn, nàng đưa tôi đến tiệm ăn chay “Phật Hữu Duyên” ăn trưa. Ngồi đối diện với nàng, tôi len lén nhìn nàng xem sắc diện có chút gì thay đổi không, nhưng tuyệt nhiên, vẫn vẻ mặt dịu hiền tự thuở nào, như lúc trước khi chúng tôi chưa lao vào vòng hệ lụy.
Thực ra, trong con người, ngoài con tim, còn có lý trí và lương tri. Chính Pascal đã nói :”Con người là cây sậy yếu nhứt trong Tạo Hóa, nhưng là cây sậy có tư tưởng“. Chính vì cái tư tưởng đó, làm cho con người biết thế nào là phải, là trái. Trong xã hội loài người có 2 hạng, hạng thiên về tâm hồn, hạng thiên về vật chất, mà vật chất lại bị điều khiển bởi con tim, và con tim lúc nào cũng rất tàn nhẫn. Meilhan đã nói :”Ái tình là 1 chứng bệnh có 3 giai đoạn: khao khát, chiếm đoạt và chê chán”. Đó là cái ái tình của hạng người thiên về thuyết hiện sinh, yêu cuồng sống vội, như xã hội Việt Nam ngày nay, núp dưới cái ái tình thời thượng, phía sau có bóng dáng của hơi “Đồng”. Vừa lớn lên qua tuổi 16, ái tình đối với tôi còn xa lạ, ở ngưỡng cửa nầy, tôi như kẻ lạc bước đang dò dẫm tìm về nơi quang đãng. Nhưng cái nơi mà tôi gọi là quang đãng nầy, chỉ là trừu tượng. Mới bước vào yêu, ái tình ở xa nhìn lấp lánh như hạt kim cương, nhưng đến gần chỉ là giọt nước mắt…
Cách nay trên 40 năm, tôi còn nhớ một thi sĩ thi vị tình yêu với lời lẽ rất chân thành, dù rằng họ đang yêu :
Anh không đáp nhu cầu bằng cặp mắt
Thì ngại ngùng gì em chẳng ngó ngay anh
Cho anh thưởng thức hai mắt ngọc trong lành
Và làn mi chớp làm đôi pha lê vỡ
Anh không nói đôi ta vì duyên nợ
Như thế còn gì ý nghiã của yêu đương
Hãy sát vào đây đôi má lẫn cặp môi hường
Cho anh chọn lựa giữa hai màu rực rỡ
Anh không đo vòng ngực em bằng chiều dài hai tay vạm vở
Vì ngại hãy còn thú tánh buổi sơ khai
Mười ngón tay rừng rú phá vỡ then cài
Và dày xéo cả núi đồi hoa mộng
Anh không đáp nhu cầu bằng hai thân xác nóng
Để lúc xa nhau em hối hận nghìn đời
Và mai sau trên phố sá đông người
Quen từng kích thước mà em vẫn làm mặt lạ
Anh không muốn em bị đời sỉ vả
Mang đường nét đàn bà trên thể xác ngây thơ
Hãy cho anh yêu trong khao khát đợi chờ
Đừng khêu gợi vì anh sẽ hoàn bản thể
Đừng cống hiến nếu mai ngày hôn lễ
Dâu là em mà rể chẳng là anh
Cuộc đời em con gái chỉ một lần
Đừng nhầm lẫn trọn đường trần tủi nhục
Tôi rất yêu nàng và cũng được đáp trả, nhưng dù được nàng đáp trả, tôi chỉ dám mạo hiểm khám phá phân nửa thể xác của phần trên, đó là cái tư tưởng mà Pascal đã dạy. Dù sao, những đêm trăng tà xế bóng, cơn mưa ngoài ngõ, hay gió thổi bên rèm, nghĩ lại lúc kề vai cọ má, tôi cũng tự trách vì cái hiếu thắng, bồng bột, mà phá vỡ cái đạo đức và luân lý trong gia đình, vì theo vai vế, nàng là “Bà” của tôi!
Nhưng nghĩ là nghĩ, chứ đã bước vào yêu rồi, như kẻ nhắp rượu ngọt, càng nhắp càng say, mà vũ trụ tựa hồ thu nhỏ trong tầm tay. Chẳng thế thì làm sao hằng đêm, tôi và nàng đèo xe đi chơi. Nàng rất thích nhai Chocolat, nên mỗi lần đi chơi với tôi, nàng đều ghé tiệm mua một thẻ. Như đã kể, cái cốt cách của nàng rất oai vệ, đến trước cửa tiệm, nàng không để tôi vào mua, mà nàng đứng ngoài dõng dạc như ra lịnh người bán hàng thuộc sắc dân Ấn Độ :”Eh bien! Une tablette de chocolat à croquer Meunier” (Nầy! Cho một thẻ Chocolat Meunier). Meunier là thương hiệu của Pháp, có hai loại : loại có sữa gọi là Chocolat au lait, hơi mềm, còn loại Croquer không có sữa, nhai giòn, lúc bấy giờ chỉ có 3 đồng mà thôi.
Một đêm, hai chúng tôi ra bờ sông Saigon, gần sở đóng tàu “Ba Son” hóng mát. Hôm ấy là đêm 16, ngồi trên bờ đê thõng hai chân xuống, vai tựa kề nhau ngắm ánh trăng vàng. Nàng nói :
– Để cô hát bài “Vầng trăng sáng” cho Bé Ba nghe…Bằng một giọng êm như ru, ngọt như mật, nàng cất tiếng :
Kià vầng trăng sáng chiếu in trên hồ
Gió vờn trăng nước thoáng loang nhấp nhô
Mặt hồ lung linh lướt trên làn nước có anh cùng em
…………….
Mà giờ đây nguời yêu ta đã xa ta rồi
Cũng trên hồ ấy mây lững lờ trôi, gió vi vu hoài
Vầng trăng úa phai tơ liễu buồn đứng
Bên hồ im vắng
Tối nay đà hết riêng có mình tôi
Buồn đứng trông trăng….
Giọng oanh thỏ thẻ như ru hồn tôi vào mộng, nhưng nội dung và âm vang bài ca sao dường như ẩn chứa một cuộc chia lià thoát ý một đoạn thơ của Xuân Diệu :
Rồi một ngày mai cô sẽ đi
Vì sao ai nỡ hỏi làm chi
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì…
Ai đem phân tách một mùi hương
Hay bản cầm ca ! Tôi chỉ thương
Chỉ lặng chuồi theo giòng cảm xúc
Như thuyền ngư phủ lạc trong sương….
Rồi cũng có đêm, chúng tôi lại vào Thảo cầm viên, đến ngồi khuất bên thềm nhà chứa đồ cổ. Cảnh vật về đêm thật tĩnh mịch, tôi ngồi đó, nàng nằm ngả mình trên đùi tôi. Trong bối cảnh du dương êm đềm ấy, tấn kịch yêu đương cũng diễn như kịch bản sáng ngày mùng 1 Tết tại nhà chứa củi của tôi. Say sưa trong men yêu, đến lúc người gác cổng vào yêu cầu chúng tôi về, vì đã đến giờ đóng cửa.
Chúng tôi cố giữ kín chuyện yêu đương nầy, nhưng có một buổi trưa, nàng nằm trên “Divan” ở phòng khách, tôi quan sát chung quanh, rồi rón rén bước ra kề mũi hôn lên má nàng. Bà Nội tôi, lúc bấy giờ đang ở chơi với gia đình nầy, đi ngang qua cửa sổ chợt trông thấy hoạt cảnh, nên gọi tôi khuyên :
– Bà “Hai” là bà con, là “Bà” của cháu, cháu đừng làm vậy coi không được… Thật là ngượng ngùng
Tưởng rằng đường vắng hát chơi
Ngờ đâu đường vắng có người vãng lai !…
(Ca dao)
Và có lẽ Bà Nội nói lại với Ba, rồi Ba nói lại cho Má tôi biết, nhưng các người ấy đều giữ kín.
Tuy nàng chiều tôi mọi sở thích, nhưng lắm lúc, nàng như gián tiếp khuyên nhủ tôi một cách tế nhị, như nàng cắt một đoạn trong báo đưa tôi xem “Il ne faut pas se badiner avec l’amour” (Không nên bỡn cợt với ái tình), hay “Aimer c’est souffrir, l’amour c’est l’enfer” (Yêu là khổ đau, ái tình là địa ngục). Cũng có lần trước mặt tôi, nàng giơ ngón tay út lên nói:”Attention ! Un tout petit comme çà” (Coi chừng! bé xíu như vầy). Câu nầy tôi hiểu ngụ ý của nàng, là lời nhắc nhở tôi đừng quá đắm say đốt cháy giai đoạn, rồi nàng sẽ có “Bébé”, mà thể trạng nàng vốn yếu ớt, “Bébé” chỉ nhỏ xíu như thế nầy nầy…
Nhiều khi tôi tự hỏi, tình cảm của nàng đối với tôi có gì mâu thuẫn không ?. “Cho” đó rồi “Răn” đó. Thật ra, tâm trạng nàng có giống như tâm trạng các phi tần trong cung cấm, âm thầm lặng lẽ, mòn mỏi trong quên lãng, vì chưa một lần được thắm nhuần ơn mưa móc của quân vương?…
Đây là đoạn cuối tình yêu, nó làm cõi lòng tôi tan nát. Một buổi sáng, nàng kêu tôi nói riêng:”Bé Ba về nhà đi, cô sẽ đến có chuyện muốn nói với Bé Ba”. Tôi hơi ngạc nhiên và cũng không đoán được là chuyện gì? Thế là tôi đạp xe về trước đợi nàng. Chặp sau, nàng đến ngồi trên giường cạnh tôi, trịnh trọng nói :
– Bấy lâu nay, cô biết Bé Ba yêu cô lắm, thấy Bé Ba còn trẻ mới bước vào con đường tình, cô không nỡ làm cho Bé Ba buồn, nên cô để cho Bé Ba được trọn vẹn vui hưởng những gì Bé Ba thích, mà cô không trách. Bé Ba thử nghĩ, cô và Bé Ba có thể nào kết hợp được không? Không thể nào đâu!. Hôm nay, cô gọi Bé Ba vào đây là muốn cho Bé Ba biết một tin, có lẽ Bé Ba buồn lắm, nhưng cô phải nói, là trong vài ngày nữa, cô sẽ rời gia đình đi qua Pháp. Cô không muốn giấu, chỉ làm khổ thêm cho Bé Ba mà thôi. Làm trai, trước tiên nên tạo dựng một sự nghiệp, rồi Bé Ba sẽ lập gia đình. Cô rất thương Bé Ba, nhưng thương là một lẽ. Cô biết ở Biên Hòa, Bé Ba có ông cậu là Pharmacien, vậy cô khuyên Bé Ba hãy lên trên đó xin với ông cậu học lấy một nghề để lo cho tương lai.
Tôi buồn rầu nói :”Cô đừng đi có đuợc không?”
Nàng nghiêm nghị nói bằng một câu tiếng Pháp:”Non, c’est un voyage et une séparation inévitable” (Không, đây là cuộc hành trình và cuộc phân ly không thể tránh được). Rồi nàng cầm 200 đồng đặt vào tay tôi, với khung ảnh chụp hình con mèo mà nàng chưng ở bàn viết:
– Cô đi không có gì để lại cho Bé Ba, cô xin biếu Bé Ba 200 để chi dùng và làm lộ phí lên Biên Hòa học. Còn đây là hình con mèo mà cô rất quý, cô tặng lại Bé Ba, nhớ tưng tiu nó, giữ gìn và thương yêu nó như Bé Ba đã từng thương cô vậy.
Nghĩ đến cảnh chia ly và lời nói chân thành, tôi bỗng khóc òa. Nàng vẫn để yên cho tôi khóc, chặp sau nàng tiếp:
– Cô để cho Bé Ba khóc, những giọt nước mắt nầy sẽ làm vơi đi trong lòng Bé Ba niềm đau khổ, nhưng rồi thời gian là liều thuốc nhiệm mầu làm cho Bé Ba sẽ quên cô, Bé Ba nên cố quên cô đi, để mà lo gầy dựng tương lai cho chính bản thân và cho gia đình sau nầy.
Ngày nàng ra đi, tôi muốn xin đưa tiễn, nhưng nàng không cho “Bé Ba đưa tiễn làm chi cho lòng thêm bịn rịn!”. Tôi cũng nghĩ như vậy, biết đâu, khi cánh chim bằng lướt gió đưa nàng về một phương trời viễn xứ, biết tôi có cầm lòng được không? Hay là lúc ấy nghẹn ngào, xúc động, mấy giọt lệ thương tâm sẽ tuôn rơi, thì chuyện tình thầm kín giữa hai người, vô tình sẽ bị phát hiện, và biết đâu, cánh chim sắt chở nàng ra đi biền biệt, ví như con dao đâm thẳng vào tim tôi cắt đứt đoạn tơ lòng !… Ôi, thật đau đớn thay…..
Là nguời theo Tây học, có phải tâm trạng nàng mang một tâm trạng của Sully Prud’homme trong đoạn thơ Chiếc bình vỡ :
……………………………….
(Tay người yêu cũng có khi
Phớt qua tim để tim vì ai đau
Rồi tim tự nó rạn sau
Đóa hoa tình ái héo rầu chết đi
Mắt đời nào có thấy gì
Vết thương u uất tỉ tê lệ nhòa
Lần lần lan rộng ai ngờ
Tim kia đã vỡ, đừng sờ đến chi…)
Thế là kết thúc một vở bi hài kịch kéo dài vỏn vẹn có 2 năm. Thật đúng với câu thơ của Hàn Mặc Tử:
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.
ĐOẠN KẾT :
Hồi tưởng lại tổ tiên ông bà, không hiểu cuộc tình của tiền nhân ra sao?. Thời đó, ảnh hưởng luân thường đạo lý của học thuyết Khổng Mạnh, việc hôn nhân đều do cha mẹ định đoạt, vì “Áo mặc sao qua khỏi đầu” hay “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, tình yêu đối với họ không bao giờ có, chỉ sống thuần bằng “Nghĩa” mà thôi. Riêng tôi hơn 54 năm trôi qua, lắm lúc ngồi suy ngẫm, tôi thực sự rất thương nhớ nàng, nhưng khung ảnh con mèo mà nàng tặng tôi làm kỷ niệm, đã bị người vợ tôi ném vỡ, vì cơn ghen khi đọc dòng chữ “ Cô Hai tặng Bé Ba con mèo nầy, Bé Ba hãy yêu thương nó như Bé Ba đã thương yêu cô vậy “, ký tên L.T.T.
Nàng trở lại quê hương lúc nào tôi không biết, nhưng vào năm 1990, tôi có đến thăm nàng. Lúc bấy giờ nàng đã 63 tuổi, tóc đã điểm sương. Nàng đang ngồi dùng cơm trưa. Từ phòng khách tôi đi thẳng vào trong, vẫn chiếc giường đồng sáng loáng tự thuở nào mà tôi ngồi cạnh quạt cho nàng, khiến lòng tôi xúc động. Đến ngồi cạnh bên nàng, nét mặt nàng vẫn như ngày xưa, tuy vài vết nhăn thoáng nhẹ, hằn lên làn da mịn màng của năm xưa, mà nơi đó tôi đã ngất lịm với những chiếc hôn nồng cháy. Lòng thương còn vương vấn không tự chủ, tôi bỗng nắm chặt cánh tay nàng: “Cô có khỏe không?”. Nàng vẫn để yên cho tôi nắm tay, ôn tồn nói :” Cô bị bệnh loãng xương, già rồi, qua thời kỳ hết kinh nguyệt, người đàn bà thiếu chất “Nữ kích thích tố”, ai cũng phải bệnh, có khi còn dẫn đến ung thư nữa“. Nàng cũng hỏi thăm sức khỏe tôi và biết tôi bị cao huyết áp, nàng dạy tôi ăn kiêng và dùng loại thuốc dân gian mà nàng đã đọc được trong sách. Sau bữa cơm, ra phòng khách hai người trao đổi nhau về chuyện thời sự, chánh trị mà tôi còn nhớ câu nàng nói: “Theo một chu kỳ 60 năm, chánh trị và chế độ có thay đổi và Russie sẽ có biến chuyển“. Thấy nhà vắng vẻ, quạnh hiu, tôi hỏi :”Cô ở một mình?. Nàng đáp :”Có một đứa cháu gái ở đây lo cơm nước, giặt giũ cho cô“. Bà Sáu – mẹ nàng – chết đã lâu, và nàng vẫn còn là một “Trinh nữ” sống cuộc đời đơn côi lẻ bóng!!!…
Ngày nay, tôi đã tạo một gia đình hạnh phúc, con cháu đã thành tài, đó là do công ơn của nàng đã khuyên tôi nên theo con đường “Âu dược”. Một lần nữa, tôi thành kính dâng nén hương lòng để tưởng niệm đến nàng, một “Trinh nữ” giờ đây nàng đã hóa ra người thiên cổ, và đã mang theo xuống tuyền đài tất cả “Chuyện tình đêm giao thừa giữa thế kỷ 20″.
Mối tình đầu tôi đã trao trọn cho nàng, và tôi chỉ yêu một mình nàng thôi. La Bruyère đã nói :” Người ta chỉ yêu một lần thôi, những mối tình kế tiếp là những mối tình miễn cưỡng”.
Hỡi các con cháu – kẻ hậu sanh – của tôi, tôi dàn trải ra đây tâm sự một hồi ức, để lại cho hậu thế một kỷ niệm đượm nhiều đau thương và nước mắt, để viết nên dòng lưu niệm nầy. Rồi đây, sau khi tôi đã nghìn thu vĩnh biệt, những đêm gió gác, trăng thềm, ngày giỗ quải hay giữa đêm giao thừa, khi gia đình sum họp đón Xuân, nên đem “Hồi ức” ra đọc để tưởng niệm tiền nhân, và luôn cả cho nàng, người đã ung đúc tinh thần tôi tạo nên sự nghiệp cho gia đình và con cháu được như ngày nay. Rồi đây, kẻ dương gian người âm cảnh, biết có ai lo đắp điếm nấm mồ chơ vơ giữa nghĩa trang hoang vắng, một nén hương lòng, để sưởi ấm một linh hồn người “Trinh nữ” đã vĩnh viễn mang khối tình của tôi xuống tận chốn tuyền đài!!!…
Chút lòng tưởng nhớ nguời xưa – có thể gọi là “Người tôi yêu”…và xem đây cũng là một “Hoài niệm” của tôi vậy… Hỡi các con cháu hãy ghi nhớ : Nàng tuổi Đinh Mão, sanh năm 1927, từ trần ngày 10 tháng 8 năm 2004, nhằm ngày 25 tháng 6 âm lịch (tháng đủ) năm Giáp Thân.
Viết xong đêm Giáng Sinh năm 2004 để hồi tưởng đêm giao thừa năm Kỷ Sửu 1949.
Nguyễn Thanh Phong