Chuyện dọc đường

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Tôi đón chuyến xe sớm nhất để giã từ Ðồng Hới vô Huế. Có những lúc chúng ta muốn kết thúc nhanh một sự việc vì e ngại, vì sợ hãi, hoặc do một thôi thúc nào đó không rõ rệt. Tôi lên đại một chuyến xe chạy suốt Sài Gòn. Xe Huế dễ biết, nhỏ con hơn xe Sài Gòn Hà Nội, mang số hiệu 75H. Nhưng lúc này thì không phải lúc đợi chờ chọn lựa. Trời còn tối, trong xe lờ mờ mấy người khách.
Xe lăn bánh, tôi nhìn lại dòng sông quen thuộc mấy hôm nay. Vô tình mà tên con sông khơi dậy trong tôi những cảm xúc mơ hồ: Nhật Lệ. Một nỗi buồn vu vơ dằng dặc trong lòng, tôi không vỗ về cũng không xua đuổi. Quốc lộ 1 ôm theo dòng sông qua Quán Hàu, lên Mỹ Trung.
Tuy gốc gác Quảng Bình nhưng tha hương từ nhỏ nên nhiều địa danh tôi chỉ nhớ theo thói quen nhiều người gọi mà không để ý đến ý nghĩa. Ða số dân Quảng Bình nói Quan Hàu, Cổng Bình Quan, nay mới biết Quán Hàu, Quảng Bình Quan. Quán Hàu bến phà qua sông Nhật Lệ lên huyện Lệ Thủy nay đã có cầu, xưa kia là nơi tập trung nhiều quán bán hàu, cũng như Cồn Hến (Huế). Quảng Bình Quan là cửa vào Quảng Bình có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
Chuyến xe đầu ngày không được “no” nên chốc chốc dừng để đón khách. Anh chủ xe nói giọng Ðồng Hới đặc sệt:
– O đi mô…, Phan Thiết 70.
– Sáu chục được không?
– 70 chục rẻ rồi trả chi nữa hè.
Vừa nói, anh đưa tay kéo người đàn bà lên. Một đoạn khác, mấy người đi Long Khánh, trả rẻ, anh ra lệnh cho tài xế chạy, vừa chưởi thề : “Ð.mạ, Long Khánh mà năm chục”. Xe chạy quá Quán Hàu một đoạn rồi quay đầu lại. Khách trên xe thở ra chán nản. Một người lằm bằm: “Cứ lộn lui hoài ri, biết đời mô tới nơi”. Lối chạy xe xứ mình là vậy, khách đầy mới chạy chứ không chạy theo giờ giấc ấn định. Nhiều khi trong bến thì theo giờ mà ra ngoài thì chạy lòng vòng đón khách. Lên đến Mỹ Trung, ngay giao lộ qua huyện Quảnh Ninh, có một tốp nam nữ, tuổi còn trẻ, đứng đón xe. Người nào hành trang cũng gọn gàng y như đi nghĩa vụ quân dịch. Bọn họ cười nói oang oang, họ ôm nhau lúc chia tay, ra điều bịn rịn lưu luyến. Với đám khách này xe như gần đủ “sở hụi” nên chạy thẳng, thỉnh thoảng bốc vài ba khách dọc đường.
Ðám thanh niên lên xe là bắt đầu ca hát, họ hát những bài hát ca ngợi lao động hoặc cổ vũ tinh thần chiến đấu. Nghĩa là những bài hát tôi chỉ hiểu hơi nhạc chứ không nghe rõ lời. Khách trên xe tỏ vẻ không hào hứng. Giá mà được một nữ ca sĩ hát những bản tình ca thì còn có lý, đằng này trời vừa nóng, xe chật chội, mà thêm tiếng gào thét thì chỉ làm khổ người nghe.
Chủ xe bắt đầu thu tiền, anh thu từ phía đầu xe. Lúc anh lần đến đám thanh niên thì có tiếng quát tháo. Anh chủ xe la to:
– Ð.mạ, nói rồi, đi Phan Thiết 70, tập thể tính cho 65, chừ bớt chi nữa.
Một thanh niên cũng lớn tiếng:
– Chú chịu 60 tụi tui mới đi. Chừ đòi lên.
Anh chủ xe xô cậu thanh niên ngả ra sau vừa quát:
– Ð.mạ mi, ai chịu? Không tiền thì đi xuống. Dừng xe cho tụi này xuống.
Tôi vội đứng dậy can:
– Anh không nên nóng, từ từ giải quyết. Có khi mấy em nghe nhầm.
Tôi định bụng nếu gay cấn quá, tôi sẽ bù khoản thiếu cho các em. Tất cả chưa tới 10MK. Về sau, mọi chuyện cũng êm, ban hợp ca từ đó im luôn. Tôi hỏi nhỏ người khách bên cạnh:
– Mấy em này đi Phan Thiết làm gì mà đông vậy?
– Ði làm cá. Trong đó người ta cần trai trẻ để đi biển.
Xem ra tuổi chưa hết bậc trung học mà đã bỏ xứ đi lao động kiếm sống. Cùng tuổi ấy ở các đô thị thì lại ăn chơi thả giàn.
Xe vào đến huyện Gio Linh, dừng ăn cơm trưa. Mọi người trên xe có vẻ bất mãn. Sáng giờ chạy cà gật, mới 9 giờ 30 đã dừng. Tôi nghĩ, có lẽ đây là quán người nhà, hoặc hai bên đã có mặc cả với nhau. Thường thường, chủ quán bao giờ cũng có cái gì đó cho tài xế để họ đỗ xe nơi quán mình. Khách phản đối bằng cách ngồi ngoài sân không vào quán. Chủ quán ra xua đuổi:
– Bà con vào quán ngồi, không ăn uống gì cũng vô trong, không được ngồi ngoài.
– Mời vô trong quán.
Tôi chẳng hiểu luật này ở đâu, nhưng chẳng có ai tuân. Bà con cứ từng nhúm ngồi rải rác trên khoảng sân rộng, có nhiều xe ba bánh bán dạo. Xe có mái che, trong xe đủ các thứ bánh kẹo, đồ lưu niệm, hai bên treo khăn, mũ… họ trang bị chiếc xe y như một cửa hàng tạp hóa.. Người của quán chỉ xua đám khách dân dã chứ những ai ăn mặc đàng hoàng thì không dám. Mang chiếc máy ảnh đi loanh quanh, tôi để ý có một người đàn bà và ba cô bé, tuổi từ 13 dến 18, đang ngồi gỡ ăn từng hạt bắp, tưởng như họ sợ gặm thì trái bắp sẽ hết ngay. Có một điều lạ là người nào cũng có 3 chấm trắng bằng đầu ngón tay trên mặt. Hai bên thái dương và giữa hai chân mày, như dán thuốc cao. Da mặt ngăm ngăm lại có 3 đốm trắng, trông buồn cười. Tôi tò mò đến gần, cô gái lớn nhìn tôi nói một cách tự nhiên:
– Mời chú ăn bắp chú.
– Cảm ơn cháu, chú đã ăn lúc nãy trên xe rồi. Có mấy trái quít chú mời các cháu.
Mấy cô bé vui vẻ nhận rồi tiếp tục ăn bắp. Tôi hỏi:
– Này, tại sao chú thấy người nào cũng dán ba chấm trắng chi vậy.
Cô gái lớn trả lời :
– Bịnh.
– Người nào cũng bịnh cả sao?
– Dạ, bịnh cả nhà.
– Nhưng chú thấy ai cũng tươi tỉnh, có bịnh gì đâu?
– Dạ bịnh từ ngoài quê.
– Quê cháu ở đâu?
– Dạ, Nghệ An.
– Ðây là mấy chị em?
– Dạ, bốn mẹ con.
Người con gái cho tôi biết vì ở quê nhà quá cực nên mấy mẹ con kéo nhau vô Vũng Tàu làm mướn. Bốn mẹ con giúp việc cho một quán cơm ở Vũng Tàu, Tết về thăm nhà, nay vào lại. Thấy cả nhà có vẻ thích tâm sự, tôi hỏi măn mo:
– Bốn người chung một quán rồi làm những gì?
– Dạ, mẹ nấu, mấy đứa cháu bưng dọn.
– Mỗi tháng cháu được bao nhiêu?
– Dạ 400, ăn cơm của chủ.
– Tiền để dành Tết về thăm nhà?
– Dạ.
– Ngoài quê cháu còn những ai?
– Dạ, bố mẹ và anh trai.
– Vậy cháu có hai mẹ?
– Dạ, đây là mẹ vú, ngoài nhà là mẹ đẻ.
– Cháu tên gì?
– Cháu tên Hương, cháu làm ở quán Hương Biển. Khi mô ra Vũng Tàu mời chú đến quán cháu ăn cơm.
– Có đắt không?
– Dạ cũng tùy, cơm bụi 5000.
Tôi không hiểu cơm bụi, phải nhờ giải thích. Cơm bụi là cơm dĩa, bán cho giới bình dân, dĩa cơm có đủ thứ thức ăn, cốt no chứ không ngon lắm. Một phần cơm trong quán thường từ 15 có khi 20 nghìn đồng.
– Ra Vũng Tàu làm sao tìm quán của cháu?
– Dạ, ngoài đó nhiều quán Hương Biển, quán cháu nằm trong hàng rào bến cảng.
Tôi hỏi thế thôi, ra Vũng Tàu cũng chỉ ngắm cảnh như đi du lịch chứ chẳng có gì đặc biệt để sáng tác. Nhưng nếu đi được, ghé vào Hương Biển, chắc cả nhà sẽ mừng. Tôi quay qua chiếc xe bán quà, mua một gói Mè Xửng đưa tặng mấy cô bé.
Sau hơn tiếng đồng hồ, xe chạy tiếp. Trời nắng gắt, dường như càng vào miền trong càng nóng. Xe nhét cứng người là người, không còn chỗ để nhúc nhích. Chạy được một lúc, xe lại ngừng cho một chị bán quà rong lên. Chị bán bánh kẹo, dầu gió. Người chị lùn chũn, mập thù lù. Chị bưng một rổ kẹo Mè Xửng, cứ đạp lên hành khách mà đi từ trước ra sau. Lối làm ăn rất ngang tàng, khách kêu oai oái mà chủ xe chẳng nói gì, còn cười đùa với chị. Mười hai giờ, xe vào Huế. Ðoạn đường 100km mà phải mất 5 tiếng đồng hồ. Tôi xuống ngay đầu cầu Bạch Hổ rồi ngồi xích lô về khách sạn.
Thoải mái trong lòng xe, tôi nói với anh xích lô:
– Cứ từ từ, không phải vội. Ðưa tôi về khách sạn gần trung tâm thành phố.
Anh xe dạ dạ rồi còng lưng cố đạp cho nhanh. Tôi thì muốn thong thả ngắm con đường đầy hoa phượng và dòng Hương Giang xanh trong. Con đường từ Bạch Hổ về cầu Trường Tiền, đã 10 năm qua không mấy thay đổi. Hai bên vẫn những cây phượng vỹ cành thấp là đà . Dọc bờ sông có chỗ chắn rào làm vườn cây kiểng. Những chậu kiểng màu nâu đỏ, nổi hẳn giữa rừng cây xanh. Tôi quay lui hỏi:
– Anh định đưa tôi về khách sạn nào?
– Dạ, khách sạn Bình Minh, đường Nguyễn Tri Phương.
– Ở mô?
– Dạ sau khu Morin.
Lúc ngang qua cửa Nhà Ðồ, cửa Ngăn, tôi ngạc nhiên thấy cống qua hồ sen sơn vôi trắng, tương phản với nét rêu phong cổ kính của thành. Tôi không hiểu sao lại trùng tu di tích kiểu lạ vậy. Thành phố Huế đang ráo riết sửa sang, làm mới tất cả, mới luôn cả cái cổ, để đón Festival 2002. Hôm ở Nha Trang, đã có anh bạn đùa, đọc mấy câu nhại thơ Hàn Mặc Tử:
Nhà ai lấp ló sau xa ấy,
Bổng chốc quay ra đứng mặt tiền.
Bất cứ đâu, mỗi khi có hội hè, ai cũng tìm cách trườn ra mặt đường để dễ làm ăn. Làm ăn theo kiểu dành giật chớp nhoáng.
Khu bên bờ nam sông Hương, khách sạn khá nhiều, cửa hàng san sát, dịch vụ nhắm vào khách du lịch. Tôi nhận phòng rồi đi một vòng ra phố. Hầu hết các con đường vẫn như xưa, nhiều cây bóng mát, nay bị đào tung lên để sửa, đặt dây cáp, ống nước, công việc làm rất thủ công. Xe cộ qua lại bụi mù trời. Ngày hội Festival đã gần kề, không hiểu rồi làm sao cho kịp.
Ðến chiều trở về, tôi gặp rắc rối thủ tục. Khách sạn đòi bản chính Passport và Visa. Kinh nghiệm cho hay, khi về Việt Nam những giấy tờ quan trọng nên cất một nơi an toàn. Ði, mang theo bản sao thôi. Ðể chứng minh là người ở Mỹ về, tôi đưa cho nhân viên khách sạn Driver License. Anh này không chịu nhận, bảo phải có “chứng minh nhân dân” chứ bằng lái xe không giá trị. Tôi phải hết lời dẫn giải rằng, ở Mỹ, chỉ có những công dân đầy đủ tư cách mới có bằng lái xe. Khi anh phạm pháp cảnh sát sẽ xét hỏi bằng lái xe chứ không ai hỏi bằng cử nhân tiến sĩ. Người nhân viên trẻ tuổi miễn cưỡng nhận giấy đi trình công an. Một việc nhỏ như vậy mà ngành khách sạn lại không tìm hiểu để hướng dẫn nhân viên.
Ði xa lâu ngày trở về mới thấy những cái hay, cái dở, thấy những phong tục tập quán của từng miền. Quê hương còn nghèo, đời sống còn thấp thì còn nhiều bất ổn, nhiều lo lắng, nhưng cũng nhiều cái thật thà, dễ thương. Ðiều may mắn cho chúng ta là có cơ hội chiêm nghiệm, so sánh, thấy được bao nhiêu cách biệt trong cuộc sống xứ người xứ mình, và cũng là dịp để mình thấy được thế nào là tình yêu quê hương.
Trần Công Nhung
_________________
_______________


TIN SÁCH
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
PO.Box 8391 Fresno, CA. 93747
E-mail: trannhungcong46@gmail.com
Tel: (816) 988-5040

Tin tức khác...