BỨC TƯỜNG BÁ LINH

Bạn đọc thân mến, hòa với không khí báo chí chung khắp nơi, kỷ niệm Bức tường Bá linh được phá sập cách đây ba mươi năm là một sự kiện nóng. Với chúng ta, những công dân Việt Nam chứng kiến nhiều bài học lịch sử trên giải đất hình chữ S qua những biến đổi thăng trầm; trong đó, một bức tường vô hình từng cắt đôi bờ cõi một đất nước giang sơn cẩm tú. Với người Đức chắc cũng thế. Bức tường Bá Linh đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong lòng họ, một nước Đức từng bị cắt đôi bằng một bức tường cao ngất.
Mới đó mà bức tường Bá Linh đã được phá sập ba mươi năm rồi. Với người Việt mình, Bức tường Bá Linh là một sự kiện chính trị ai cũng biết, có điều biết rõ về nó chúng ta không có nhiều cơ hội. Chúng ta chỉ nghe về một Đông Đức (từng thuộc hệ thống Chủ nghĩa Xã hội, được chứng minh đi ngược xu thế phát triển xã hội văn minh cận đại). Bằng chứng? Còn mấy nước theo Chủ nghĩa Xã hội sót lại trên thế giới? Và Tây Đức, một nước theo Chủ nghĩa Tư bản, hưng thịnh, một siêu cường; bên cạnh người anh em ruột thịt của mình là Đông Đức với đời sống dân chúng khổ sở trăm bề bởi chế độ chính trị và hệ thống bao cấp khiến kinh tế một thời kiệt quệ.
Gần đây ở Mỹ cũng có một bức tường được nhắc đến khá nhiều; đó là Bức tường Ngăn đôi Mỹ-Mễ vốn được coi là điểm son của chương trình vận động tranh cử của Tổng thống Trump năm 2016. Quả nhiên lúc đó nhiều dân Mỹ đang khó chịu và bức tường ấy được Tổng thống Trump sử dụng quả nhiên đã gãi đúng chỗ ngứa của họ.
Không ít người so sánh Bức tường Bá Linh và Bức tường Ngăn đôi Mỹ-Mễ. Xét về định nghĩa, một bức tường được dựng lên để ngăn cách, để phân chia và để bảo vệ. Tuy nhiên giữa hai bức tường này có một điểm khác biệt dễ nhận ra. Đó là Bức tường Ngăn đôi Mỹ-Mễ dựng lên để ngăn cản di dân từ Mễ và Nam Mỹ tràn vào Mỹ, còn Bức tường Bá Linh là bức tường do chính quyền Đông Đức dựng lên để ngăn cản công dân nước họ đừng bỏ đi tỵ nạn sang Tây Đức. Và thời gian trôi qua. Sử sách về những bức tường được viết lên. Và nó chứng minh một bức tường khi xây lên có thể đạt được mục tiêu ban đầu, thậm chí rất toại ý, nhưng về lâu dài, sự hiện diện của nó không cần thiết nữa. Vạn Lý trường Thành của Trung quốc là một điển hình dễ nhận ra nhất.
Vâng. Chó đá sang sông. Bãi biển nương dâu. Có điều với người đa sự, thích cãi chày cãi cối, bức tường của Tổng thống Trump cần thiết hay không (?) thực ra chỉ là dư chấn của một canh bạc chính trị. Để thu hút lá phiếu của thành phần cử tri bất mãn với nạn “việc làm bốc hơi”, Tổng thống Trump đã mượn con dao “bức tường” để tạo nên những làn sóng hậu thuẫn bằng cách cáo buộc di dân đang “xâm lăng” nước Mỹ. Và ông đã thành công khá to với bức tường ấy, dù nó từng bị quăng lên quật xuống khá trật vuột…
Từ xưa rồi, tường ngăn đôi Mỹ-Mễ đã có, chẳng phải tư tưởng mới mẻ gì. Những nơi vắng vẻ, di dân lậu dễ dàng vượt qua, người ta đã có tường. Những chỗ khó vượt qua, như sông chẳng hạn, người ta đâu cần đến tường tiếc làm gì. Nhiều chỗ người ta chỉ cần rào. Thế là đủ. Nhưng với Tổng thống Trump, bức tường vật lý không hẳn là cần thiết, nhưng giá trị biểu tượng của nó thực ra mới là điều ông nhắm đến.
Trở lại Bức tường Bá Linh, trước làn sóng khát khao được bỏ xứ ra đi của nhiều công dân chán cảnh bao cấp thiếu thốn, chính phủ Đông Đức lo lắng thực sự. Sức hút của Tây Đức quá lớn. Đi được cây cột đèn cũng sẽ đi. Để ngăn nạn chảy máu công dân, người ta buộc phải có một bức tường thật cao, thật kiên cố, để cầm chân họ lại. Vâng. Không có Bức tường Bá Linh năm 1961 ấy, Đông Đức không thể tồn tại trong lịch sử nước Đức trong khoảng thời gian 1949-1990.
Không chỉ có Bức tường Bá Linh là nhức nhối với lịch sử nhân loại. Bức tường tại vĩ tuyến thứ 38th ngăn đôi Nam Hàn – Bắc Hàn là một bức tường khác khiến người ta xót mắt. Vâng. Để ngăn chặn dân Bắc Hàn thiếu thốn quanh năm bỏ xứ, để ngăn cản những cây cột đèn đi được chúng cũng đi, một bức tường được canh phòng cẩn mật dựng lên. Không làm thế Bình Nhưỡng làm gì còn thần dân để cái ngai hoàng đế của họ Kim tồn tại?
Trong quá khứ, nghe kể lại, vỹ tuyến thứ 17 của Việt Nam từng là một bức tường nhói lòng khác. Ngày đó, theo thỏa thuận tự do di cư (thế giới biết nhiều về nó qua tên gọi Operation Passage to Freedom) khá đông dân miền Bắc muốn di cư vào Nam năm 1954 đã vấp phải nhiều khó khăn cản trở, níu kéo. Theo sử còn tìm thấy, dân miền Bắc đổ vào miền Nam rất đông so với dân miền Nam di cư ra bắc, thuật ngữ “tập kết” một thời được nói đến khi những người lính miền Nam chuyển ra miền Bắc. Những chiếc tàu há mồm, những giai thoại đi máy bay “xóc ổ gà” nhiều hơn đi tàu; tựu lại, dân rời miền Bắc di cư vào Nam đông hơn dân rời miền Nam di cư ra Bắc. Con số di cư vào Nam ước tính khoảng 600.000 cho đến 1 triệu người, trong đó có khoảng 200.000 công dân Pháp và lính Pháp, trong khi đó chỉ khoảng 14.000 đến 45.000 dân miền Nam và khoảng 100.000 lính Việt Minh chuyển ra miền Bắc.
Cuộc sống hai bên bức tường sau đó ra sao lúc này bạn đã có chút nhận định.
Vâng. Không thể nói là không khác. Chủ nghĩa Xã hội được coi là quá lý tưởng để thực hiện. Đồng thời chính sách bao cấp vô tình kìm hãm những phát triển kinh tế xã hội. Quả nhiên thế, làm sao kinh tế có thể phát triển khi đầu tư bị ngăn cản, tư tưởng làm giàu chính đáng không được khuyến khích, thị trường tự do bị bóp nghẹt, gần như chính sách tem phiếu đã đẩy những bộ óc kinh doanh giỏi vào ngõ cụt. Cuối cùng cuộc sống xã hội gần như bị hệ thống hợp tác xã, tập đoàn sản xuất chi phối, chất xám bị lãng phí, tư tưởng tân tiến bị thui chột, cuối cùng là sự kìm hãm, nếu không nói là tụt hậu.
Vẫn theo những giai thoại được kể lại, Hòn ngọc Viễn Đông, Sài Gòn, những năm thập niên 1950, 1960, 1970, Seoul của Nam Hàn hay Bangkok của Thái Lan không dám so sánh. Ngay cả Singapore cũng không dám “nói chuyện to” với bà chị cả Sài Gòn. Nhưng sau biến cố 30-04-1975, Việt Nam bị cấm vận, Sài Gòn bị bỏ rơi, Hòn ngọc Viễn Đông rơi vào cảnh tàn tạ tiều tụy mãi đến đầu thập niên 1990 mới từ từ vực lại. Vâng. Cột mốc lịch sử quan trọng đối với Việt Nam, ngày 03 tháng 02 năm 1994, Cựu tổng thống Clinton đã đưa ra quyết định xó bỏ cấm vận với Việt Nam, cho phép thế giới có cơ hội nhảy vào Việt Nam làm ăn, từ đó, Việt Nam đã có dịp hồi phục, sau đó lớn dần, trở thành một con hổ bên cạnh những con hổ khác trong vùng.
Dân Đông Đức ngày đó chắc chắn cũng đã từng khổ như dân Việt Nam hay dân Bắc Hàn. Quả nhiên thế, một khi bị cấm làm ăn với những nước có tiền, nhất là với những nước tư bản chủ nghĩa, kinh tế tại những nước này không thể cất cánh. Ai từng sống ở Việt Nam những năm cuối thập niên 70, 80, và đầu 90 còn nhớ rõ. Bị cấm vận, Việt Nam không thể xuất khẩu hàng hóa của mình tại các thị trường ngoại tệ mạnh. Khối Đông Âu và hệ thống các nước Xã hội Chủ nghĩa thì làm gì có tiền. Nên muốn bán được hàng của mình, hàng hóa nông sản, khoáng sản, nông sản cây công nghiệp, thủy hải sản… phải đi vòng, thậm chí chỉ bán được ở dạng nguyên liệu thô, sơ chế. Thế là một nước trung gian nhảy vào. Hàng hóa Việt Nam xuất ở dạng thô, sơ chế sau đó được chế biến hoàn chỉnh, rồi được dán mác nước thứ ba trước khi xuất cảng sang các thị trường có ngoại tệ mạnh.
Với các nước Đông Âu kinh tế bao cấp, hàng hóa Việt Nam xuất qua đấy chỉ đổi về “ngoại tệ yếu”. Hơn nữa họ nghèo, chỉ có thể mua những thứ hàng hóa không có giá trị kinh tế cao. Ngày đó ở Việt Nam, nhất là tại các tỉnh miền đông Việt Nam hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre lá, dân chúng còng lưng đan lát chỉ đủ sống đắp đỗi qua ngày hoặc kiếm thêm tiền chợ. Còn nông sản, thủy hải sản, muốn vào thị trường Nhật, Tây Âu, hay Úc thì phải bán cho Thái Lan, Đài Loan hay Hong Kong. Các nước này dán nhãn, mác của họ lên hàng hóa của Việt Nam. Đến khổ. Người dân Đông Đức ngày đó chắc chắn cũng thế, cũng khổ, cũng thèm thuồng những xa xỉ giàu có của một nửa đồng bào bên kia bức tường. Hàng hóa của họ làm ra không bán vào Tây Âu được (ngoại trừ Tây Đức). Năm 1988, xuất khẩu của Đông Đức chỉ lên 30.7 tỷ Mỹ kim. Trong khi đó Tây Đức năm 1987 xuất khẩu lên đến 294 tỷ Mỹ kim!
Vâng. Ba mươi năm kỷ niệm Bức tường Bá Linh được phá hủy, hẳn nhiên nhiều người trong chúng ta khó tránh những ngậm ngùi nhớ về một thời bao cấp khó khăn thiếu thốn. Và dân Đông Đức ngày ấy họ đã sống như thế nào? Muốn đi du lịch nước ngoài, rất khó, và phải thanh toán bằng đồng Bảng Anh cho công ty du lịch Anh. Xăng chỉ được bán nhỏ giọt tại những hợp tác xã mua bán vốn rải rác rất ít. Cam tươi và cà phê là thứ xa xỉ dân thường không thể với tay đến. Cảnh sát chìm (với người Đức họ là Stasi, thời cao điểm lên đến 190.000 đồng chí) xăm xoi khắp nơi. Bộ trưởng An ninh tại nhiệm tới 32 năm trời (Erich Mielke), thật kỷ lục. Văn hóa mang hơi hướng Tây Âu bị coi là phản động, đồi trụy. Không thế mà trong khoảng thời gian 1949-1961 khoảng 2.7 đến triệu công dân Đông Đức rời nước, Bức tường Bá Linh được dựng lên (khởi công ngày 13 tháng 08 năm 1961) mục tiêu chặn đứng 17 triệu người còn lại đừng ra đi nữa. Chính phủ nói xây tường là để ngăn cản ảnh hưởng Tây Âu tràn vào Đông Đức nhưng thực tế là họ sợ dân bỏ đi hết.
Ba mươi năm sau, ngày 9 tháng 11 năm 1989 nó đã bị phá hủy. Nhân ngày kỷ niệm quan trọng này, mong thay trên thế giới sẽ bớt dần những bức tường. Thay vào đó là những cây cầu, những cánh cửa cộng tác và phát triển. Khắp nơi trên trái đất dân chúng không phải rời bỏ xứ sở của mình ra đi nữa. Vì chẳng nơi nào đẹp và đáng yêu bằng nơi mình sinh ra và lớn lên. Cực chẳng đã mới phải liều mình bỏ xứ ra đi, đúng vậy không, thưa các bạn?

Nguyễn Thơ Sinh

You might also like