The Vietnamese Newspaper in Canada

Xin Đừng Buông Tay

Morez ào vào như cơn gió. Đôi mắt tròn của anh đã đổi hẳn sang màu vàng và chớp với tốc độ vỗ cánh của một con chuồn chuồn, giống như một cặp đèn pha nháy loạn.

– Chúng tôi đã lục soát khắp nơi, Aja ạ. Tìm thấy cả vài lít máu trong gara. Trên đất. Trên máy xén cỏ, mấy cái lốp xe, những tấm bạt. Nhưng không có dấu vết của cái xác.

– Chết tiệt, như thế có nghĩa là gì? – Aja cắn môi.

Christos đã nói chuyện qua điện thoại mười lăm phút với ông bạn của bà Chantal Letellier. Và đưa ra lý giải ban đầu. Chantal Letellier ở cả năm trên đảo, nhưng thường sống ở nhà bạn trai, cũng là người về hưu, là bác sĩ, họ gặp nhau tại câu lạc bộ cờ vây Saint Paul. Ông sống trên phố Scalaires ở La Saline, cách đây ba kilômét. Do nhà bà ít khi có người ở, nên Chantal Letellier đã quyết định đăng tin cho thuê trên một trang web bất động sản tư nhân, trừ những khoảng thời gian bà đón tiếp con cháu. Chắc Bellion đã tra cứu thông tin từ một trang cho thuê trên Internet; do lời rao đó, hẳn anh ta đã nghĩ rằng bà Chantal Letellier sống ở chính quốc và căn nhà đang bỏ trống. Nó đã từng như thế. Gần như thế.

Trước khi đến câu lạc bộ cờ vây như mỗi sáng, bà Chantal Letellier tạt qua nhà vào khoảng 8 giờ. Đó không phải là thói quen của bà, nhưng vì một người hàng xóm đã gọi đến nhà bạn trai bà để báo là bà đã quên khóa cửa gara! Điều đó khiến bà ngạc nhiên, bà còn chưa bị lú lẫn, và vẫn nghĩ là đã khóa cái cửa chết tiệt đó… Nhưng liên tưởng đến câu chuyện về kẻ giết người đang lẩn trốn, bà muốn xác minh lại.

Aja gỡ một bức ảnh trên tường xuống, ảnh hơi mờ chụp bà Chantal Letellier tạo dáng đằng trước thác nước Voan Cưới.

– Định mệnh tàn ác. Bà Chantal Letellier thật dại dột. Cánh cửa gara để mở là dấu hiệu lẽ ra đã giúp bắt được Bellion. Lẽ ra chỉ cần gọi một cú điện thoại cho cảnh sát.

Nữ đại úy đặt bức ảnh lên chiếc bàn trong phòng. Cô sẽ bảo Morez fax bức ảnh này đến tất cả các đội cảnh sát trên đảo. Phòng khi… Vì không tìm thấy thi thể của Chantal Letellier, có thể có cơ may nhỏ là Bellion chưa giết hại bà. Hắn chỉ bắt cóc bà làm con tin.

Hàng lít máu trong gara… Một cơ may rất nhỏ.

Aja vẫn chưa có kết quả phân tích DNA, dấu vân tay, các chuyên gia sẽ phụ trách việc đó, nhưng tất cả các dấu hiệu đều trùng khớp. Thậm chí họ còn tìm thấy một mẩu cần sa trong phòng tắm. Không còn nghi ngờ gì nữa: Martial Bellion và con gái đã ngủ trong căn nhà này đêm qua.

Cô đã liên hệ với đại tá Laroche mấy phút trước. Toàn bộ nhân sự của ComGend khẩn cấp đổ về Saint Gilles, bằng trực thăng.

Cụp đuôi…

Aja đã nói đúng ngay từ đầu, con cá đã bị mắc trong lờ. Để nhấn mạnh thêm, cô đã gần như gác máy trước mũi Laroche, để anh ta hiểu rõ đã phí sức lực và thời gian khi triển khai truy đuổi trên phạm vi toàn đảo.

9 giờ 29

Christos lại bước vào phòng, nụ cười hợp tình huống nở trên môi, nửa vô liêm sỉ, nửa tôi-không-quan-tâm, chính xác là thái độ mà Aja ghét nhất ở thuộc cấp. Nữ đại úy lo lắng hỏi ông:

– Vẫn không có dấu vết gì của thi thể bà Chantal Letellier à?

– Không… nhưng chú tìm thấy thứ khác.

Ông đang nhón tay cầm một chiếc túi ni lông. Đột nhiên, không nói lời nào, ông dốc túi xuống chiếc bàn thấp, ngay trước mặt Aja. Một cơn mưa tóc bay khắp phòng trong vài giây, rồi rơi xuống bàn và xung quanh, biến sàn nhà thành phòng cắt tóc nữ.

Những sợi tóc dài màu vàng. Mảnh. Gần như nhân tạo. Như thể một gã điên đã cạo sạch đầu của một trăm con búp bê Barbie. Hoặc chỉ một. Một cô bé có những lọn tóc vàng.

Ánh mắt Aja lại lướt sang những bức ảnh đóng khung trên tường, lần này cô không dừng lại ở bà già, mà ở cậu bé sáu tuổi bên cạnh, mũ lưỡi trai và áo sơmi kẻ carô, đang mải nhìn lũ cá sấu.

Cô đã hiểu.

– Chết tiệt! đột nhiên cô hét lên. Không được để họ đi qua!

Chương 28

Mơ làm lính cứu hỏa

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 29

– Đây, thưa ông cảnh sát, giấy tờ của mẹ tôi đây.

Martial mở ví và đưa ra thẻ căn cước, bằng lái xe, thẻ bảo hiểm. Viên cảnh sát mỉm cười. Đã thành thông lệ. Anh đã phải kiểm tra vài trăm xe từ sáng nay. Anh nhìn vào bên trong chiếc Nissan màu vàng. Trên ghế phụ lái, bà già đang ngủ, khăn choàng phủ trên đầu gối, cổ quấn khăn, như thể bà đang lạnh, mặc dù trời đang 300°C; ở đằng sau, một thằng bé đang giận dỗi, ngồi giữa một cái võng và những chiếc cà mèn dã ngoại của người Créole. Bây giờ cả người Zoreille cũng tham gia nữa…

Dù mệt mỏi nhưng vẫn ý thức trách nhiệm, viên cảnh sát chăm chú xem xét giấy tờ xe.

– Giấy tờ của anh đâu? – cuối cùng anh hỏi Martial.

Martial cúi đầu ra vẻ lấy làm tiếc.

– Ờ, không có… Chúng tôi chỉ đưa bà lên hít thở khí trời trên vùng Thượng. Anh thấy đấy, nếu tìm được mũ trùm đầu thì tôi tin chắc bà cũng sẽ đội luôn.

Viên cảnh sát phá lên cười, vui vẻ. Đó là một người Créole. Anh thông cảm. Anh đưa giấy tờ cho Martial.

– Tôi cũng thế, cứ cách một tuần tôi lại lên đó một lần. Nhưng tôi ít may mắn hơn anh. Tôi vẫn còn cả hai bên cha mẹ để chở đi.

Anh lại chăm chú nhìn lần nữa vào băng ghế sau. Đứa bé mặt mũi trông thật khó coi, thậm chí trông nó như vừa khóc. Viên cảnh sát nháy mắt với Martial ra chiều thông cảm.

– Với trẻ con thì càng khổ sở nhỉ. Nó thích ở vùng phá hơn, đúng không? Giống lũ con tôi! Thôi, chúc anh đi vui vẻ.

Martial bình tĩnh nhấn ga. Anh đã thoát!

Lúc đầu anh lái xe nhẹ nhàng dọc phố Saint Pierre, cho đến tận Trou d’Eau. Ít ra, chốt chặn cũng có tác dụng lọc bớt phương tiện giao thông, trên đường không có một ai và anh có thể nhanh chóng đi xa.

Anh đi dọc bờ biển trước khi đến Saint Leu, sau khi vượt qua một loạt các cửa sông Trois Bassins, Grande Ravine và Ravine Fontaine, liếc mắt nhìn qua những cây cầu vượt khổng lồ trên đường Tamarins, với tổng chiều dài dưới một ki lô mét. Tương đương với ba cây cầu cạn Milau dài chưa đầy mười kilômét… Giao thông trên đường cao tốc thông suốt. Quá thông suốt. Quá dễ bị phát giác.

Martial đột ngột rẽ ngoặt. Giữa những cây cọ lùn và đám xương rồng khổng lồ, vòng xuyến ở lối rẽ vào Saint Leu khiến anh ngạc nhiên. Thi thể Chantal Letellier, mặc dù đã được siết chặt bằng dây đai an toàn, vẫn trượt trên ghế phụ. Cái đầu nhợt nhạt chầm chậm ngả xuống tay anh.

Martial rùng mình. Bàn tay anh co quắp trên tay lái, đờ đẫn; làn da mềm nhão chạm vào tay khiến anh buồn nôn, làm bùng lên trong anh những ký ức không thể chịu nổi. Khi anh đi xe cùng Liane, dù quãng đường rất ngắn, cô đều ngủ thiếp đi sau vài kilômét, và mái tóc vàng mềm mại của cô rủ xuống vai anh.

Cũng trong tư thế trìu mến như cái xác này. Cái xác lại bắt đầu rỉ máu.

Áo anh lại ướt đẫm. Sofa khóc ở đằng sau.

Trừ vài phút ở chốt chặn, trước mặt viên cảnh sát, con bé không ngừng khóc từ khi bắt đầu đi. Tuy nhiên, Martial không có cách nào khác là tiếp tục đi, tiếp tục lái xe, dù anh biết rằng thi thể bà già bị cắt cổ, hóa trang thành bà nội mệt mỏi, ngồi ở chỗ của mẹ, sẽ ám ảnh con gái anh. Suốt đời.

Nhiều năm… Hoặc vài giờ. Ai mà biết được.

Anh không còn kiểm soát được bất cứ điều gì.

9 giờ 37

Martial ra khỏi Hồ Mặn. Vài kilômét nữa, sau Saint Louis, anh sẽ phải lựa chọn, tiếp tục đi theo bờ biển hoặc quay về trung tâm đảo, hướng Tampon. Quyết định của anh phụ thuộc vào những câu hỏi mà anh chưa biết câu trả lời. Bao lâu nữa để cảnh sát phát hiện ra việc Chantal Letellier mất tích? Để nhận diện chiếc xe? Để viên cảnh sát đã để anh đi qua ráp nối các sự việc lại với nhau? Để họ tung ra thông báo tìm kiếm. Vài phút? Vài giờ?

Anh lưỡng lự. Để đến vịnh Thác, con đường ven biển là đường ngắn nhất. Saint Pierre. Saint Joseph. Saint Philippe. Một chuỗi gần như liên tục các ngôi nhà, bùng binh, lối sang đường cho người đi bộ, đèn giao thông và ra đa. Con đường này sẽ là nơi anh dễ bị lộ nhất, giống như một cái phễu giữa núi và biển. Việc bắt anh ngay khi biết rõ anh đã ra khỏi Saint Gilles bằng đường nào sẽ chỉ là trò trẻ con đối với cảnh sát.

Hướng đi Tampon được chỉ dẫn trên đường quốc lộ RN1. Thẳng tuột. Theo bản năng, anh nhấn ga. Anh sẽ đi theo đường Entre Deux một quãng, cho đến tận bình nguyên Cafres. Sau đó, có ít nhất là ba lối đi khác nhau để đến đường Núi lửa, con đường chạy ngoằn ngoèo đến tận núi Lò Lửa.

Một con đường cụt. Anh đánh cược vào nó!

Hàng trăm du khách lên đó mỗi ngày, chụp ảnh núi lửa, rồi lại quay xuống bằng chính con đường đó. Nếu có một con đường nào mà cảnh sát không tìm kiếm anh, thì chính là con đường này.

9 giờ 42

Chiếc Nissan Micra đi những đoạn chữ chi đầu tiên trên đường Núi lửa. Những cánh đồng cỏ xanh dày mượt trên sườn dốc uốn lượn mềm mại được cắm mốc bằng cọc gỗ. Đàn bò màu trắng và be vươn cổ qua hàng dây thép gai để nhìn rõ hơn các du khách đi ngang qua. Những ngôi nhà mái nhọn mang dáng dấp nhà nghỉ mát sặc sỡ vùng nông thôn.

Một trong những quang cảnh độc đáo nhất của hòn đảo. Khó mà tưởng tượng được rằng, chỉ cách khoảng vài chục mét bên dưới, ta vừa bỏ lại hàng cây dừa, xương rồng và khí hậu nóng bức.

Martial đưa mắt nhìn gương chiếu hậu. Sofa vẫn nằm lả đi ở đằng sau.

– Con yêu, con thấy đấy, cảnh vật khác quá. Cứ như ở Thụy Sĩ ấy.

Im lặng.

Sofa xụt xịt.

Martial lại đẩy cái xác của Chantal Letellier ra, nó cứ đổ ụp vào anh mỗi lần rẽ phải. Một manơcanh bị tháo khớp và rút hết máu, chỉ còn là một thứ thây ma nhợt nhạt, gần như trong suốt, thịt chuyển dần sang xanh lơ, cùng màu với mái tóc nhuộm. Một thây ma đang thối rữa.

Cứ đến mỗi chỗ ngoặt, cái xác lại hiện ra trước mắt Sofa. Con bé không nói gì nhưng Martial thấy nó cắn môi, hai mắt đảo lộn tròng. Chấn thương tâm thần! Chết tiệt!

Lẽ ra anh nên dừng lại rồi vứt cái xác xuống vệ đường, đó là việc duy nhất nên làm để con gái nhỏ của anh không trở nên hoàn toàn điên loạn. Hoặc ít nhất là dừng lại, mang cái xác giấu vào trong cốp.

Làm thế có lẽ sẽ để lại một chỉ dẫn vô cùng quan trọng cho cảnh sát… hoặc mất đi khoảng thời gian vô cùng quý giá.

Chuốc lấy một nguy cơ lớn. Nguy cơ làm hỏng hết mọi thứ.

Không thể được. Anh phải đi đến tận cùng cơn điên loạn.

9 giờ 45

Bây giờ thì Sofa run lập cập.

Bà Chantal đã ngồi yên được vài phút. Bằng một cú hích vai mạnh hơn, Martial đã đẩy bà sát vào kính cửa phụ. Miệng bà dán vào đó, như thể bà cũng đang ngắm cảnh. Bà chỉ nhểu ra trên kính thứ dớt dãi màu xanh có lẫn những cục máu.

Lại một chỗ ngoặt nữa.

Martial nhớ con đường này, nó vẫn còn dài, ít ra là một giờ nữa, với hàng chục chỗ rẽ khác. Sofa sẽ không chịu nổi. Anh phải nghĩ ra sáng kiến nào đó. Sáng kiến nào cũng được. Cổ họng nghẹn ứ. Anh ho một tràng rồi cắt ngang sự im lặng:

– Sofa, con yêu, lúc trước con có hỏi ba một câu. Con đã hỏi con có giống anh trai con không? Con còn nhớ chứ? Alex. Anh trai con, người… người đã chết trước khi con ra đời.

Nhìn vào gương chiếu hậu. Không nhận thấy phản ứng nào từ phía con gái.

– Ba có thời gian để trả lời con, nếu con muốn. Có, con yêu ạ, con giống anh con. Con rất giống mẹ con, đương nhiên. Nhưng con cũng rất giống Alex.

Sofa đã ngẩng đầu lên. Đôi mắt trống rỗng. Nhìn đi đâu đó.

– Ba sẽ tâm sự với con một chuyện, Sofa ạ, đây là lần thứ hai ba đi trên con đường này. Lần đầu tiên là cách đây hơn mười năm một chút. Và… và Alex khi ấy ngồi đúng chỗ của con. Ở ghế sau. Anh con lúc đó cũng gần bằng tuổi con bây giờ, ít hơn hai tháng. Chỉ có ba và anh con trong xe. Ba muốn cho anh con xem núi lửa…

Sofa lắng nghe. Martial đoán thế. Anh phải tiếp tục nói chuyện để tâm trí không lang thang về phía bờ vực của sự điên rồ.

– Núi lửa lớn trên đảo, núi lửa Lò Lửa, một lần nữa lại phun trào. Khi đó, tất cả báo chí và các kênh truyền hình trên đảo đều giải thích rằng nhất thiết không nên đến gần núi lửa. Thế nhưng, toàn bộ người dân trên đảo đều làm ngược lại, họ đổ xô đến để xem cảnh tượng. Ngọn pháo hoa đẹp nhất mà con người có thể chiêm ngưỡng…

Chiếc Nissan Micra màu vàng bây giờ đang đi qua một căn chòi dã ngoại, cứ hai trăm mét lại có một căn như thế. Căn cuối cùng, ngay dưới chân của đỉnh Mũi Bò, biến mất trong làn mây khói tỏa ra từ các lò than, càng bị nhòe đi hơn bởi nước dãi của Chantal Letellier đang nhỏ giọt trên cửa kính.

– Ba muốn gây ngạc nhiên cho Alex. Ba đã không nói gì với anh con. Cả với mẹ của anh con nữa, đương nhiên. Con không biết cô ấy, nhưng cô ấy nghiêm khắc và khô khan, chắc cô ấy sẽ không bao giờ muốn thế, có thể cô ấy sẽ cho là ba vô tâm, con nghĩ mà xem, đưa một đứa trẻ sáu tuổi đi xem núi lửa phun trào, trong khi tất cả những người biết phải trái trên đảo đều tìm cách cấm chuyện đó… Con… có thể con không đồng ý với ba, Sofa ạ, nhưng có những điều mà các bà mẹ không thể hiểu được.

Không gì hết. Không sợi lông mi nào nhúc nhích.

Martial nói tiếp, mặc dù Sofa đã khép kín, đã khóa cánh cửa riêng tư hai vòng, nghe loại nhạc của riêng con bé qua đôi tai nghe MP3 tưởng tượng. Anh đang kể chuyện cho chính mình thì đúng hơn là kể cho con gái.

– Hồi đó, ba đã đọc cho Alex nghe những chuyến phiêu lưu của Ti Jean. Giống sách của con! Con biết đấy, bà Kalle và Quỷ Lớn bạn của bà ở đâu đó bên dưới lớp dung nham núi lửa, chính vì thế mà Alex hơi sợ khi đi trên đường này. Còn con, con yêu, con không sợ sao?

Martial thầm rủa mình quá ư ngu ngốc. Có cần phải thêm thắt câu chuyện ma quỷ đó vào hay không? Anh vội nói tiếp, không để sự im lặng thắng thế.

– Ba sẽ kể cho con chuyện khác, Sofa ạ. Từ khi còn rất nhỏ, Alex có một đồ chơi yêu thích mà anh con không bao giờ rời, một chiếc xe cứu hỏa nhỏ mà anh nhặt được trên bãi biển. Con biết không, Sofa, một chiếc xe nhỏ bằng kim loại, gần như bỏ lọt trong lòng bàn tay anh con? Không đẹp lắm. Hơi gỉ. Anh con mang nó đi khắp nơi, biến nó thành chiếc xe chạy được trên mọi địa hình. Trên những nếp nhăn của ga trải giường. Trong chậu cát. Trên cỏ. Trên sỏi. Trên ghế cao và mép bàn. Trên ghế xe ôtô… Con hiểu không, con yêu? Alex chỉ mới sáu tuổi nhưng chiếc xe cứu hỏa nhỏ của anh con đã chạy được vài kilômét. Khi ba và anh con đến chân núi Lũng xinh, trên đó, bãi đỗ xe ở chân núi lửa đang nhộn nhạo, không thể đi xa hơn. Đường bị chặn. Con có biết điều gì khiến Alex say mê nhất không?

Trong gương chiếu hậu, gương mặt Sofa vẫn bất động, nhưng bàn tay con bé cựa quậy, như thể khi nghe tả về đồ chơi, con bé cũng tìm một người bạn nào đó, một thứ đồ chơi, một con thú bông… Thứ gì đó để giúp con bé tống khứ lũ quỷ ám mình ra.

– Con sẽ không tin ba đâu, Sofa ạ! Không phải những chùm lửa lạ lùng của núi lửa, những tia lửa nổ tung trên nền trời đen như than là thứ khiến Alex quan tâm! Không! Mà chính là những chiếc xe! Một hàng xe cứu hỏa chắn ngang đường và hàng chục lính cứu hỏa chạy khắp nơi, giống như những cư dân sao Hỏa trong trang phục bằng amiăng! Ba và anh con nhanh chóng ra khỏi xe. Không có gì nguy hiểm cả, chỗ đó cách miệng núi lửa nhiều ki lô mét, mặc dù hơi nóng thì kinh khủng. Không phải chỉ có ba và anh con. Xung quanh đã có hàng trăm người, mang theo máy ảnh, camera, ống nhòm. Gần như không thể lại gần hàng rào để xem cho rõ hơn. Cuối cùng, một bà to béo đã để Alex vượt lên. Đó là một bà Créole đeo cây thánh giá to tướng ở cổ. “Đó là quỷ dữ đang ho đấy, nhóc ạ”, bà nói với Alex. “Cháu phải ghi nhớ cảnh này. Đó là con quỷ đang giận dữ với con người!”. Alex không quan tâm, anh con nhìn dung nham chảy dọc núi lửa giống như rắn lửa dài vô tận. Con có thể tin ba, Sofa ạ, ba chưa bao giờ thấy mắt anh con long lanh đến thế. Nhưng bà già Créole vẫn tiếp tục câu chuyện về Chúa trời. “Nhóc con, cháu có biết làm thế nào để ngăn quỷ dữ khỏi nổi giận không? Ba cháu không nói với cháu sao? Phải cầu nguyện, nhóc con ạ, cầu nguyện tất cả các thánh thần trên đảo. Quỷ dữ sợ họ.”

Martial ngừng lại rồi đưa mắt nhìn về phía đỉnh núi Lò Lửa. Phía trên miệng núi lửa Dolomieu, nền trời xanh biếc, ngoại trừ một chút sương mù do khí nóng gần như không nhìn thấy. Một ý tưởng mơ hồ hình thành trong đầu anh, hình ảnh lờ mờ về một cánh cửa trượt ở cuối đường cụt, hẹp thôi, nhưng có thể đủ để hai cha con lọt qua. Tại sao không? Anh phải suy nghĩ, anh sẽ nghĩ đến chuyện này sau, trước mắt phải tập trung vào câu chuyện, không được bỏ mặc Sofa trên đường.

– Alex không quan tâm đến các thánh thần, con yêu ạ, ít ra thì cũng giống như con không bao giờ vào nhà thờ, nhưng anh con lịch sự, còn bà già vẫn tiếp tục, cứ như thể Chúa trời đang chui ra từ miệng bà. “Bà không nói dối đâu nhóc con, hãy nghe cho kỹ, ngay giữa núi lửa và biển, có một làng nhỏ, làng Sainte Rose, và một nhà thờ nhỏ tên là nhà thờ Đức Bà. Trong lần phun trào năm 1977, núi lửa đã bao trùm tất cả, những cánh đồng mía, những ngôi nhà, những con đường. Toàn bộ dân trong làng đã trốn vào nhà thờ và cầu nguyện các thánh thần trước khi bị chết cháy. Cháu có biết điều gì đã xảy ra không, nhóc con?” Alex lắc đầu. Không, anh con không biết, anh con không quan tâm, anh con vẫn nhìn các lính cứu hỏa đang lại gần miệng núi lửa trong bộ quần áo lạ lùng như của nhà du hành vũ trụ. Bà già vẫn nói không ngừng: “Thế là, nhóc con ạ, thần thánh mạnh hơn quỷ dữ. Quỷ dữ đã phải sợ. Dung nham dừng lại ngay trước cửa nhà thờ. Không ai chết cả! Từ đó, nhà thờ được gọi là nhà thờ Đức Bà Dung Nham! Ta vẫn có thể nhìn thấy dung nham khô trào lên đến những bậc thềm đầu tiên của nhà thờ và dừng ở đó, như thể không dám vào trong. Nếu cháu không tin ta, nhóc con, cháu có thể bảo ba cháu đưa đến đó.” Alex quay lại đúng lúc ấy và hỏi bà già to béo đó: “Các thánh thần có xe tải màu đỏ để chặn dung nham không hả bà?” Con biết đấy, Sofa. Bà già Créole bị bất ngờ, bà cười, hơi ngượng nghịu: “Không, nhóc ạ, đương nhiên là các thánh không có xe.”

“Thế có mũ lấp lánh không?” Alex vẫn hỏi tiếp.

“Không…”

“Thế còn bộ quần áo của nhà du hành vũ trụ? Một khẩu súng lớn phun ra nước?”

“Không, nhóc ạ, cháu tưởng tượng xem, các thánh mà lại mặc đồ du hành vũ trụ và cầm súng cạc bin sao?”… Đằng xa, những người đàn ông mặc đồng phục đang hối hả như thể mỗi giây đều quý giá, trong khi chẳng có gì để làm ngoài việc giám sát dòng dung nham. Alex đã nhún vai rồi quay lưng về phía bà già Créole. “Thế thì làm thánh chả ích gì!” Anh con chăm chú nhìn núi lửa và nắm chặt chiếc xe tải nhỏ màu đỏ trong lòng bàn tay. “Còn cháu, khi nào cháu lớn, cháu muốn làm lính cứu hỏa.”.

Lại nhìn vào gương chiếu hậu.

Sofa không phản ứng gì. Không cười thành tiếng, cũng chẳng cười mỉm.

Chantal Letellier cũng không. Hình như bà đã tìm thấy tư thế ngồi thuận tiện nhất và ngủ thiếp đi. Thậm chí một cú xóc đã làm miệng bà ngậm lại.

Martial vẫn nói tiếp:

– Anh con lẽ ra có thể trở thành lính cứu hỏa, Sofa ạ, con tin ba đi. Lên sáu tuổi, anh con đã rất dũng cảm. Thậm chí còn hơn thế nữa, rất gan dạ. Anh con lẽ ra có thể trở thành cảnh sát cứu hỏa giỏi nhất thế giới…

Bên ngoài, những căn chòi lướt qua, tất cả đều có các gia đình Créole ngồi sẵn, và đã chất đầy những chiếc cà mèn bằng sắt tây, ghế gấp, khăn mặt treo để bảo vệ trẻ nhỏ và người già khỏi ánh mặt trời vào giờ ngủ trưa. Quang cảnh núi lửa mở ra; hồ Scories, đỉnh núi Textor và sườn núi Zézé lần lượt nhòe đi qua kính chắn gió trong một màn hơi ẩm mờ mịt.

Nước dãi của Chantal Letellier không còn là thứ duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Martial không còn kìm nổi nước mắt trào ra trên khóe mi.

Nhân một đoạn đường thẳng ngắn ngủi, anh quay lại phía Sofa. Con bé cũng khóc. Một tay giữ vô lăng, anh vươn bàn tay còn lại ra đằng sau. Cảm thấy những ngón tay nhỏ bé của Sofa nắm lấy tay mình. Năm con côn trùng mỏng mảnh mà anh nắm lấy thật dịu dàng.

– Buồn là anh con mất quá sớm. Anh con có thể sẽ cứu sống được nhiều người, rất nhiều người. Lẽ ra con có thể tự hào về anh con, con yêu ạ.

Năm con côn trùng khẽ lay động trong bàn tay ấm nóng của anh, như thể chúng vừa mọc cánh. Martial những muốn thời khắc này kéo dài mãi mãi.

Trên đầu họ, một chiếc trực thăng đang bay qua.

Chương 29

Imelda trong tủ lạnh

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 50

Đứng trên bãi xe của đội cảnh sát Saint Gilles, Quentin Patché đang nhìn xuống những ngón chân của mình giống như một học sinh bị bắt quả tang hút thuốc trong nhà vệ sinh. Tuy nhiên, anh cao một mét tám mươi, đã có đến đai nâu môn aikido và không có điều gì phải chê trách về ý thức trong suốt hai mươi mốt năm làm việc trong ngành cảnh sát của đảo. Cô gái trước mặt kém anh mười tuổi, hai mươi xăngtimét và ít nhất là ba mươi kilôgram.

Ấy thế nhưng anh không đáng kể gì.

– Chỉ có độc một gã, mẹ kiếp! – Aja hét lên. – Với một đứa bé sáu tuổi ở đằng sau. Không giấy tờ! Và anh để cho hắn đi qua!

Quentin Patché sắp lúng búng nói lời xin lỗi. Aja không cho anh có thời gian. Cô biết rõ điệp khúc đó, cái xác bà già trên ghế phụ lái, Sofa cải trang thành con trai, gã lái xe bộ dạng ngớ ngẩn không giống lắm với ảnh chụp Bellion… Thông báo qua bộ đàm tới tất cả các đội lục soát đã đến muộn mất vài phút, đa số cảnh sát có lẽ đều sẽ bị lừa, cả gã ngốc Patché này cũng như người khác. Nhưng điều đó không ngăn cản nữ đại úy tiếp tục gào thét với anh:

– Chúng ta đang nắm giữ hắn, trung úy ạ. Chỉ cần mở mắt ra…

Patché là một cảnh sát đã được rèn luyện tốt. Ở đội cảnh sát cũng như ở câu lạc bộ aikido, anh đã học được cách bình tĩnh chịu đựng. Aja còn tuôn hàng tràng trách móc trong nhiều giây nữa.

Cô cần được giải tỏa. Nhất là cần gây ấn tượng với đại tá Laroche.

Anh ta đứng cạnh họ, dưới bóng cây phi lao. Anh ta đến trước đó mười phút, trong một chiếc Ecureuil AS350 mới coóng đã gây ra một trận bão cát khi đậu xuống bãi biển được cảnh sát giải phóng vài phút trước.

Christos im lặng tham dự cảnh tượng ngay từ đầu. Cuối cùng, ông cũng quyết định can thiệp, theo cách tế nhị. Ông nghiêng đầu thì thầm vào tai viên đại úy:

– Được rồi, Aja. Chú nghĩ cháu làm thế là đủ rồi đấy. Quentin đã ở mặt trận từ gần mười ba giờ qua. Anh ta cũng chỉ có giới hạn thôi, đúng không?

Aja gật đầu.

Cô liền quay sang Laroche trong khi Quentin Patché đi xa dần. So với hình ảnh mà Aja mường tượng ra khi nghe điện thoại, viên đại tá có vẻ cao hơn. Và cũng hấp dẫn hơn. Vóc dáng của một anh chàng điển trai tuổi bốn mươi, nhẵn nhụi và sạch sẽ, với chút hài hước cần thiết trong đáy mắt khiến ta đoán chừng anh ta là một nhà ngoại giao khôn khéo cố giấu mình sau cái nếp quan liêu lạnh lùng. Một gã làm quản lý cho tổ chức phi chính phủ, chủ ngân hàng trong lĩnh vực tài chính vi mô, hoặc tư vấn xã hội chủ nghĩa. Thông minh. Nghị lực. Khiến người khác tin tưởng. Và khiến người khác căng thẳng.

Laroche chờ Patché vào trong văn phòng đội cảnh sát rồi mới lên tiếng:

– Chúng ta không sửa lại lịch sử được, đại úy Purvi ạ. Patché chỉ làm mất của chúng ta vài phút. Thông tin tìm kiếm đã được đưa ra: một chiếc Nissan Micra màu vàng mà thực tế là Bellion không có thời gian để thay biển số. Hắn sẽ không thể đi xa, chúng ta đã huy động toàn bộ trực thăng của ComGend, mười một chiếc EC145 đang quần thảo trên vùng trời của đảo. Cô đã làm tốt, Purvi ạ, tôi nói rất chân thành. Trước hết là bao vây hắn, sau đó buộc hắn phải ra khỏi hang. Hắn nhanh hơn ta chưa đầy ba mươi phút. Nhưng hắn không có cơ hội nào đâu.

Vừa nói, Laroche vừa di gót giày thành những vòng tròn nhỏ trên lớp sỏi rải ở nền nhựa đường của bãi đỗ xe. Mặc dù bề ngoài anh ta có vẻ tự tin, Aja vẫn nhận thấy vẻ căng thẳng kín đáo. Trước khi leo lên trực thăng, viên đại tá mặc chiếc quần bằng vải gai thô, áo gilê chống đạn và đi giày bảo hộ. Đủ bộ của một lính đặc công ra trận. Ngay lúc đầu, hẳn là viên đại tá cảm thấy bỡ ngỡ khi phải tháo bỏ cà vạt và quân hàm để bay bằng chiếc Ecureuil lần đầu và đến thăm những người Créole. Nhưng trong thâm tâm, chắc chắn anh ta không mong chờ gì kế hoạch Papangue như món quà chào mừng đến đảo.

Aja nhíu đôi lông mày cho đến khi chúng giáp nhau, để cho thấy rõ là cô không để mình bị vài lời khen lấy lệ dỗ dành.

– Thế trong lúc này thì sao, đại tá? Trong lúc chờ trực thăng quay lại. Chúng ta khỏa lấp sự im lặng bằng cách lôi nhạc cụ ra và chơi bài “Đoàn kỵ binh của Walkyries?”

Laroche khiến nữ đại úy ngưỡng mộ vì hàm răng hoàn hảo của mình. Một nụ cười có thể xem là thẳng thắn và chia sẻ.

– Chúng ta im lặng và cầu nguyện thánh Expédit[39], đại úy Purvi ạ. Ở đây người ta nói thế đúng không?

9 giờ 57

– Aja, chú nói chuyện với cháu được không? Nói riêng thôi.

Christos kéo tay áo Aja, dẫn cô đi cách xa những người khác một chút.

– Có quan trọng không chú?

– Có.

Christos quan sát Laroche đứng cách đó ba mét, anh ta đang bận tìm nơi tốt nhất trên bãi đỗ xe để bắt sóng cho chiếc iPhone.

– Nói riêng thôi, – Christos nhấn mạnh. – Không phải trước mặt Laroche. Cháu thì có thể hiểu được. Còn anh ta thì không… Ta vào tủ lạnh được không?

Tủ lạnh là một căn phòng nhỏ mười mét vuông không có cửa sổ, nơi tài liệu lưu trữ trong suốt ba mươi năm của đội cảnh sát được xếp xung quanh hai chiếc ghế sắt và một chiếc bàn bằng kim loại. Cảnh sát Saint Gilles đặt tên phòng này như thế bởi vì đây là phòng mát nhất của tòa nhà, nhưng chủ yếu là vì phòng không có cửa sổ nên có thể tận dụng để làm nguội vài kẻ bị tạm giữ không chịu mở miệng.

Christos đóng cửa lại. Ấn công tắc. Một cái tủ lạnh hiện đại sáng lên khi có người vào bên trong.

Một phụ nữ đã ngồi chờ sẵn trong căn phòng mát mẻ. Một người Cafre. To lớn. Khỏe mạnh. Trang điểm theo kiểu Créole có phong cách, môi son đỏ và lông mày màu chàm.

Christos đảm nhận việc giới thiệu.

– Aja, đây là Imelda. Một người bạn. Chú đã nói với cháu sáng nay. Cháu đã trả lời là cô ấy có thể đến, cháu nhớ không? Cháu nên nghe cô ấy nói, cô ấy đã suy nghĩ rất nhiều về vụ này. Với độ lùi lớn hơn chúng ta, nếu cháu hiểu ý chú… Cô ấy không…

– Cháu nhớ, – Aja cắt ngang rồi nói thẳng với Imelda. – Vậy ra chị là người phụ nữ duy nhất trên thế giới bắt được nhà tiên tri tự do Christos Konstantinov phải làm thêm giờ. Và nếu tôi nhớ không nhầm, chị là một người nghiệp dư rất giỏi trong việc suy đoán tội phạm. Kiểu Harlan Coben đúng không? Xin thứ lỗi cho tôi, thưa chị, và nhất là hãy thứ lỗi cho chú Christos, lẽ ra chú ấy phải hỏi tôi trước, hẳn tôi sẽ khẳng định với chị rằng chị không cần phải đến đây. Ít ra thì cũng không phải ngay lập tức. Martial Bellion hiện đang bị hơn chục chiếc trực thăng theo sát. Mọi chuyện có thể xảy ra chỉ trong vài giây sắp tới…

Christos nài thêm:

– Cháu thực sự nên nghe cô ấy…

– Chú làm phiền cháu quá, chú Christos.

Aja di chuyển trong phòng, máy móc xếp lại tấm bìa bị xộc xệch trên một hộp tư liệu. Cô đưa ánh mắt thương hại nhìn người phụ nữ Cafre.

– Tôi rất tiếc, Imelda, tôi không giận chị. Nhưng…

– Không có gì đâu, – Imelda mỉm cười. – Cô đừng bận lòng. Tôi hiểu, tôi đã qua tuổi bị mếch lòng rồi.

Cô đứng dậy và quay sang Christos.

– Sếp anh nói đúng, em đi thôi. Em đã nói với anh là em không có việc gì ở đây cả. Lũ trẻ đang chờ em ở nhà, em còn những ba tấn quần áo phải giặt, rồi lại còn ra Saint Paul mua rau nấu cà ri, và…

Christos ngước mắt nhìn lên trần nhà lốm đốm nốt rộp, đột nhiên ông đấm tay xuống mặt bàn. Một làn mây bụi bốc lên trong phòng.

– Rốt cuộc, khỉ thật, Aja, cô mất gì mà không nghe cô ấy năm phút chứ? Imelda là một nhân chứng, chỉ là một nhân chứng chết tiệt. Cô ấy quan sát và ghi vào trí nhớ từng tin vặt nhỏ nhất trên đảo từ lâu rồi, trước khi người ta sáng tạo ra đĩa cứng và các phần mềm tìm kiếm…

Aja thở dài, nhìn đồng hồ.

– OK, năm phút, không hơn.

Christos kéo một chiếc ghế, lấy tay lau. Bụi lại bốc lên thành một đám mây trong chốc lát, gần như vô hình vì không có ánh mặt trời. Aja bật ho. Christos hắng giọng. Trong tủ lạnh có mọi thứ trừ bia và đá lạnh.

– Nói đi, Imelda…

Imelda bước lên. Đứng dưới chiếc bóng đèn duy nhất, vóc dáng đồ sộ của cô khiến Aja chìm trong bóng tối.

– Từ đầu vụ này, tôi đã thấy thái độ của Martial Bellion không lô gích.

Theo sự di chuyển của Imelda, khuôn mặt Aja hết chìm trong bóng tối lại nhô ra ánh sáng, như thể chính cô mới đang bị hỏi cung.

– Nói rõ hơn đi, Imelda.

– À thì, ta có cảm giác như, nói thế nào nhỉ, như đang làm việc với hai người khác nhau. Theo những gì báo chí nói. Và theo những gì Christos nói với tôi.

Aja nhăn trán, đôi lông mày kéo thành một đường thẳng, giống như vạch chỉ dẫn đường cấm màu đen gạch ngang mắt, nhưng cô không ngắt lời Imelda.

– Trước hết, tất cả đều khiến ta nghĩ đây là một vụ vớ vẩn. Một trận cãi nhau. Một tai nạn. Martial Bellion hoảng hốt, gọi cảnh sát, thú nhận…

– OK, – Aja sốt ruột. – OK.

– Sau đó, quay ngoắt 180 độ. Bellion bỏ trốn. Hắn thoát khỏi tay cảnh sát. Biến thành một kẻ giết người không thể bắt giữ, có tổ chức, như thể đang theo một kế hoạch đã được lập chi tiết từ trước, hoặc ít ra, là một mục đích nhất định…

– OK, Imelda, xin lỗi tôi nói thẳng, nhưng chúng tôi đã nghĩ đến tất cả những chuyện đó.

Christos tựa người vào đống tư liệu ố vàng. Mắt ông nhìn hết người này sang người khác.

– Tôi cũng nghĩ thế, – Imelda vội xin lỗi. – Tôi cũng nghĩ thế, thưa cô. Thế nên tôi sẽ đi thẳng vào vấn dề, tóm tắt toàn bộ trong chỉ một câu hỏi: có chuyện gì xảy ra từ 16 giờ thứ Sáu ngày 29 tháng Ba đến Chủ nhật ngày 31 tháng Ba, chính xác là bốn mươi tám tiếng sau?

Sau một khoảng ngạc nhiên, Aja trả lời, giọng vỡ ra:

– Không! Không có gì cả! Sau đó mọi thứ mới ồ ạt diễn ra, khi chúng tôi muốn bắt Bellion.

Imelda không phật ý. Cô vẫn tiếp tục thể hiện, càng lúc càng hào hứng.

– Tôi sẽ giải thích với cô lập luận của tôi. Thứ Sáu, bắt đầu từ 16 giờ, ngay sau khi vợ mất tích, Martial Bellion hợp tác với cảnh sát, đề nghị cảnh sát tìm kiếm vợ hắn, thậm chí xin được bảo vệ bản thân hắn. Ngày hôm sau, mọi chuyện thay đổi…

Aja đưa mắt ngán ngẩm nhìn đồng hồ đeo tay.

– Giữa hai khoảng thời gian đó, Imelda ạ, cô cũng biết đấy, bởi vì Christos hình như không phân biệt được giữa bí mật nghề nghiệp và tâm sự trong chăn, chúng tôi đã thu thập các chứng cứ. Máu. DNA. Cái chết của Amaury Hoarau. Vũ khí gây án… Bellion bị dồn vào chân tường…

– Hắn đã bị như thế từ trước, thưa cô. Dồn sát chân tường! Bellion không ngốc, hắn đã biết trước kết quả xét nghiệm máu, DNA và dấu vân tay chắc chắn sẽ được tìm thấy trên cán dao. Tôi bảo đảm những gì tôi nói, đại úy Purvi ạ, Bellion đã thay đổi chiến thuật, một cách toàn diện, và chúng ta không biết lý do của việc đổi hướng đó. Xin nói rất thật, câu chuyện này khiến tôi nhớ đến câu chuyện của con tôi, thằng lớn nhất, Nazir, cách đây ba năm, khi trường Jean Lafosse gọi cho tôi vì nó đã lấy cắp một chiếc MP3 của bạn.

Aja căng thẳng nhìn đồng hồ nhưng Christos ra hiệu cho cô hãy kiên nhẫn.

– Lúc đầu, Nazir ngoan như một con cừu trước các giám thị của trường, thậm chí nó còn nhận đã lấy cắp. Cho đến khi một đứa bạn để lộ bí mật: Nazir đã lấy cắp không chỉ chiếc MP3. Nó còn tổ chức một đường dây buôn bán thực sự trong trường. MP3, MP4, điện thoại di động, đồ chơi điện tử, cần sa… Ngay khi biết một thằng đồng phạm đã mách lẻo, con trai tôi đã trốn đến vùng bình nguyên Makes. Lúc ấy nó mới chỉ mười hai tuổi. Cảnh sát đã mất ba ngày mới tìm thấy nó…

Aja đứng dậy, cuối cùng cô đã thấy quan tâm. Cô cố gắng tìm mối liên hệ giữa cách lập luận đó với những vùng tối trong vụ án. Đề nghị của Liane Bellion ở đội cảnh sát Saint Philippe, chuyến đi của Bellion đến sân bay và vụ đổi ngày về không thành. Cả quá khứ của Bellion nữa, gái đẹp, rượu, cần sa…

– Chị muốn nói gì, Imelda? Rằng Maltial Bellion còn giấu chúng ta điều gì khác nữa sao? Tệ hơn điều hắn đang bị kết tội? Hắn đã bỏ trốn để không bị phát hiện ư?

Christos mỉm cười, tự hào vì Aja đã bị cách lập luận thu hút, ông huýt sáo qua kẽ răng. Tệ hơn ba vụ giết người… Hay đấy, đúng không? Cũng đáng để tìm hiểu sâu hơn về quá khứ của Bellion.

Imelda giơ tay lên trời như một cử chỉ diễn kịch. Nhưng cô không có cơ hội nói thêm lời nào nữa, cánh cửa tủ lạnh đột nhiên bật mở.

Laroche hiện ra, tóc gần như rối tung. Áo gilê chống đạn cài khuy đến tận cổ.

– Ta định vị được họ rồi, Purvi!

– Sao cơ?

– Sau bình nguyên Cafres, trên đường lên núi Lò Lửa.

– Đó là đường cụt! Ta tóm được họ rồi. Tôi đến ngay.

Một chiếc ghế sắt lại đổ xuống trong đám mây bụi. Laroche để cho tiếng vang va vào bốn bức tường kéo dài mãi.

Rõ ràng là anh ta đang khó xử.

– Tất cả trục thăng đều được trưng dụng rồi, đại úy Purvi ạ. Không… không còn chỗ nào dành cho cô cả! Những người sắp đổ xuống đó đều là những người chuyên nghiệp, đơn vị hỗ trợ trên không và trung đội tác chiến vùng cao. Đội của cô phải tiếp tục công việc điều tra ở Saint Gilles. Đó là việc mấu chốt, còn không ít điểm tối trong vụ án này. Cái chết của Chantal Letellier, và còn cả…

Aja nổ tung:

– Anh không thèm đếm xỉa gì đến tôi sao?

Đằng sau Laroche, hai cảnh sát mặc quân phục, đứng chật cả cửa, ngọ nguậy như thể đang buồn tiểu.

– Đại úy Purvi, một tá trực thăng sẽ sà xuống chiếc Nissan của Bellion. Ba mươi người. Đa số là các thiện xạ bắn tỉa. Mỗi người trong số họ chỉ là một thành viên trong kế hoạch Papangue, đã được rèn luyện hoàn hảo và không hề có cái tôi. Không hề có cái tôi, cô hiểu điều đó không, Purvi? Bây giờ tôi phải đi đến đó…

Những tiếng gót giày vang lên, rồi đi xa, để lại cánh cửa tủ lạnh mở ra trống rỗng và im lặng. Christos cắn môi, Imelda lùi sát vào một hàng giá, áp lưng vào những hộp tài liệu lưu trữ. Cả hai đều chung một cảm giác buồn tiếc.

Chiếc bàn sắt trong tủ lạnh bỗng bay vụt, nảy lên, gây ra thứ âm thanh ầm ĩ khi va vào các chân kim loại của mấy chiếc giá.

– Lũ khốn kiếp!

Aja lao ra ngoài, xông vào trong phòng chính của trụ sở đội cảnh sát. Morez né người trước cấp trên, với vẻ thanh lịch của một hậu vệ không muốn phá rối. Aja không nhìn thấy sợi dây điện chạy ngang phòng, hoặc không kịp tránh nên vẫn bước tới. Ngay sau đó, chiếc máy chiếu nối vào đường dây mắc tạm thời vỡ tung trên sàn. Hàng trăm ngôi nhà màu vàng và cam của Saint Gilles biến mất vào hư không.

Tám trăm sáu mươi euro. Một phần tư ngân sách hoạt động hằng năm của đội cảnh sát.

– Thật là một lũ khốn kiếp! – Aja bình luận. Cô chạy đến tận bãi đỗ xe của đội cảnh sát.

Bão cát và sỏi.

Chiếc Ecureuil AS350 B của Laroche đậu trên bãi biển cao hơn đầu cô chưa đầy ba mươi mét, đang khuấy động những tán lá phi lao trong một trận cuồng phong kéo dài mười lăm giây.

– Lũ khốn kiếp!

Aja đưa mắt nhìn theo đường chạy của chiếc Ecureuil, hết sức căng thẳng.

10 giờ 14

Chiếc trực thăng của Laroche chỉ còn là một con ruồi ở phía chân trời. Aja đi vòng vòng, làm di chuyển số lượng sỏi tương đương với gót giày của cả một đoàn quân bị nhốt trong trường luyện ngựa. Không cảnh sát nào trong đội dám lên tiếng. Christos dựa vào cây phi lao và châm một điếu chuốc, chờ lúc thuận lợi để có chiến thuật phá vỡ sự im lặng.

Để cho cơn bão qua đi.

Được một lúc rồi, viên đại úy tiếp tục nhìn chăm chăm vào khoảng trời trống không, tuyệt vọng giống như con chim nhỏ bị đóng đinh vào tổ. Đột nhiên, Aja đưa điện thoại di động lên miệng. Cô hét lên, không chút kín đáo:

– Jipé đấy à? Ừ, Aja đây. Khẩn cấp tuyệt đối! Cậu có còn chiếc trực thăng nào dùng được bây giờ không?

Im lặng chỉ trong vài giây, rồi Aja lại hét lên:

– Cậu có một cái à! Tuyệt, cậu đúng là đáng yêu! Là… là một chuyến dã ngoại hơi đặc biệt. Đừng đi đâu, hai phút nữa tớ sẽ gọi lại.

Aja gác máy.

Christos nhìn cô, kinh ngạc.

– Anh chàng Jipé đó là ai? Người yêu cũ ư?

– Gần như thế. Người mà cháu đã bay cùng nhiều nhất trong suốt cuộc đời.

– Người tình của cháu sao?

– Không. Người hướng dẫn bay của cháu…

Chương 30

Nấm mồ lộ thiên

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

10 giờ 17

Một bó hoa đủ màu sắc, ba đã nói thế. Càng to càng tốt! Dành cho bà già tóc xanh lơ đã chết. Giống như ở nghĩa trang. Người chết rất thích hoa.

Ba đã nói tôi hái hoa dưới gốc cây, không đi quá xa nhưng cũng không ở quá gần cái hố. Còn hơn cả một cái hố nữa, đó là một thứ giếng khổng lồ như thể sâu xuống tận trung tâm trái đất. Vô cùng nguy hiểm! Hàng rào bằng gỗ phía trước đã bị gãy hỏng. Có cả những dải băng nhựa màu cam và những tam giác to tướng màu vàng.

Tôi quay lại để không bị lạc giữa những bụi cây. Ba đứng gần chiếc xe màu vàng, cách tôi ba mươi mét.

Tôi đã hiểu.

Ba đã rời khỏi con đường ngay khi nhìn thấy chiếc trực thăng. Ba đã lập tức quay xe rồi đi tiếp trên một con đường đất, vừa chú ý để luôn chui dưới tán cây. Chiếc trực thăng không thể bay theo chúng tôi, hoặc có thể nó đã phải hạ cánh, nhưng chúng tôi đã đi xa. Sau đó, ba đã dừng xe cạnh cái hố này. Ngay trước tấm biển treo trên hàng rào mục nát. Tôi nhận ra mấy chữ: Miệng núi lửa Commerson.

Chỉ có mình chúng tôi.

Chúng tôi ra khỏi xe, thực ra là ba và tôi, không phải bà già, chắc chắn rồi.

Tôi đã ngay lập tức muốn lại gần miệng hố, nhưng ba không đồng ý.

– Đây là một cái vực sâu gần ba trăm mét, – ba giải thích. – Nếu ta thả tháp Eiffel xuống đây, nó sẽ gần như không nhô ra chút nào, có lẽ chỉ trừ chóp đỉnh.

Tôi thấy khó tin, nhưng nếu không cúi xuống, thì không thể nhìn thấy gì khác ngoài miệng giếng và những vách đá đen đầy hố giống như những miếng giẻ lau bị khô kiệt.

Rồi ba bảo tôi đi hái hoa…

Bây giờ, tôi đã hái được khá nhiều, thậm chí tôi phải khó khăn lắm mới cầm hết được từng ấy cành hoa trong hai bàn tay. Tôi đi về phía chiếc xe màu vàng, vẫn chú ý luôn ở dưới bóng cây. Ba đang cởi trần. Đúng là mặc dù chúng tôi đang đi lên núi, nhưng trời vẫn rất nóng, còn nóng hơn cả ở bờ phá, vì gần như không có gió. Ba đã lôi tất cả đồ đạc ra khỏi xe. Túi, nước, bản đồ.

Thật kỳ cục.

Hình như chiếc xe đang chuyển động.

Tôi bước về phía ba, tay cầm hoa.

– Đừng đi nữa, Sofa!

– Ba làm gì thế?

Người ba đẫm mồ hôi. Hai bàn tay đang đặt trên xe.

– Ba làm gì thế, ba?

Ba ngồi xuống ngang tầm mắt tôi trước khi trả lời. Tôi rất thích ba làm thế.

– Con đã nhìn thấy những ngôi mộ trong nghĩa trang chưa, Sofa? Người ta đào hố để người chết có thể ngủ yên, không bị quấy rầy bởi tiếng động, mưa, nắng… Ngủ mãi mãi, con hiểu chứ?

Tôi lúc lắc đầu. Tôi hiểu. Chết không phải là ngủ, mà là không bao giờ tỉnh dậy nữa.

– Con yêu ạ, trên hòn đảo này, không cần phải đào đất, đã có sẵn những cái hố lớn, những cái miệng do núi lửa tạo thành. Những ngôi mộ hạng năm sao, giống như ở khách sạn, con hiểu không?

Tôi gật đầu thay cho câu vâng.

– Con lùi lại đi, Sofa…

Ba xê dịch những tam giác màu vàng, rồi lại tiếp tục đẩy chiếc xe. Ba không đẩy nó về phía rào chắn gỗ, mà thấp hơn một chút, thẳng về phía cái hố, qua những bụi cây. Bằng tất cả sức lực. Chiếc xe khẽ trượt đi…

Bà già đang ở trong xe, tôi thoáng nhìn thấy mái tóc xanh lơ của bà lướt qua.

Một tay ba giật đứt dải băng nhựa màu cam. Nỗ lực cuối cùng. Chiếc xe lật nhào.

Thật buồn cười, lúc đầu không có tiếng động nào, như thể đúng là cái hố không đáy, giống như khi Alice rơi vào trong hang thỏ, suốt nhiều giờ liền.

Và rồi đột nhiên, tất cả nổ tung. Cũng mạnh như tiếng sấm khi nó nổ sát bên tai, một lúc sau khi chớp lóe, đúng lúc ta không ngờ tới nhất. Tôi có cảm giác dường như các vách đá sẽ tách ra và cái hố tự bít lại do đất rung.

Tôi lùi ra sau hai bước. Tôi kém dũng cảm hơn Alice nhiều.

10 giò 22

Martial kéo Sofa lùi tiếp đến tận dưới rặng cây thấp và ngước mắt nhìn lên trời. Bây giờ, anh nhìn thấy rõ ba chiếc trực thăng, ở khá xa; hai chiếc bay phía trên đỉnh Lò Lửa, còn một chiếc, ngược lại, hướng về phía đỉnh núi Tuyết. Anh tưởng tượng cảnh sát đang cúi xuống khoảng không, mắt dán vào ống nhòm, tìm kiếm bất cứ dấu vết nhỏ nào để định vị hai cha con anh trong rặng cây hoặc khu rừng Tamarins. Một chiếc xe, hai kẻ chạy trốn, đâu đó giữa sườn núi lửa và sông Remparts: vòng tìm kiếm của cảnh sát đã thu hẹp lại đáng kể.

Đó chính là kế hoạch của anh!

Thu hút đám trực thăng giống như lũ ruồi khi cùng chiếc Nissan đi lộ liễu ngược lên đường Núi lửa. Vung vẩy một mảnh vải đỏ để khiến họ phấn khích. Rồi, giống như ở Saint Gilles, đột ngột làm chiếc xe biến mất, làm rối các hướng điều tra, tiếp tục đi bộ… Chạy sang bên kia núi lửa, nhằm hướng đỉnh Sainte Rose, đại dương, vịnh Thác.

Martial mỉm cười với Sofa rồi nhét đồ đạc vào trong túi, vừa cố nhớ từng chi tiết trên tấm bản đồ của IGN, những đoạn dốc, khoảng rừng, khe nước, buộc bản thân phải hình dung ra mô hình 3D từ những đường bình đồ.

Ngay khi rời khỏi rừng cây bụi trên miệng núi lửa Commerson, họ sẽ vấp phải hai vấn đề lớn. Trước hết là phải đi qua bình nguyên Cát, hai kilômét đường tro đen, dưới ánh mặt trời, không một bóng râm, một công suất phản chiếu kỷ lục, hấp thụ gần như toàn bộ tia nắng mặt trời mà không phản chiếu lại. Một cái lò than có kích thước bằng năm trăm sân bóng, đủ rộng để nướng xúc xích cho tất cả dân trên đảo trong một thế kỷ. Hai cha con sẽ phải đi lộ liễu trên bình nguyên Cát, có thể bị định vị dễ dàng như lũ kiến trên một tấm vải trắng.

Nếu nhờ phép mầu mà họ qua được, hai cha con sẽ phải dấn thân vào sườn núi lửa cho đến khi xuống tới biển.

Mười lăm cây số. Một nghìn bảy trăm mét đường dốc… Sofa sẽ không bao giờ theo kịp anh…

10 giờ 25

– Giờ thì lại gần đây nào, con gái. Bó hoa của con đẹp quá.

Tôi ngần ngại. Tôi ôm sát những cuống hoa vào ngực. Tôi có cảm giác cái hố vẫn còn rung rinh.

– Lại gần đây, con yêu, con không bị chóng mặt chứ?

– Không…

– Đưa tay cho ba. Con sẽ ném hoa xuống đáy hố để bà già tóc xanh lên thiên đường.

Tôi muốn nói với ba rằng nếu ba không giết bà già, chúng tôi đã không phải làm tất cả những trò này, nào thiên đường, nào hoa, nào đẩy xe, nhưng tôi không muốn ba lại nổi cáu.

Tôi bước đến. Chân tôi cách cái hố mười xăngtimét. Bàn tay ba ẩm ướt.

Cái hố giống như một cái miệng lớn. Một cái miệng đói khát muốn nghiến ngấu không chỉ bó hoa của tôi, mà cả tôi nữa, giống như những chiếc răng ngựa to tướng nhe ra khi người ta đưa cỏ qua hàng rào cho chúng.

Chúng muốn cả các ngón tay. Bàn tay. Cánh tay.

Tôi dựa vào vách đá sát miệng hố, tôi muốn hoa của tôi rơi tận xuống đáy.

– Ba giữ con chắc nhé, ba!

Nếu mẹ mà ở đây thì mẹ không bao giờ để tôi làm như thế này.

Tôi cúi xuống, gần như ngay trên miệng hố. Ba giữ tay trái của tôi, trong khi tay phải tôi vẽ thành một vòng tròn, rồi đột ngột tôi ném bó hoa xuống.

Hoa tan tác như mưa.

Chúng rơi xuống, không tiếng động. Tôi cúi đầu, muốn nhìn theo càng xa càng tốt, cho đến tận trung tâm trái đất.

Tôi chỉ nghe tiếng gió thổi trong lá, và tiếng đám côn trùng kêu vo vo, cao tít trên trời; hoặc có thể đó là những chiếc trực thăng.

– Ba ơi, đừng buông tay con, nhé!

Tin liên quan