Thời Báo Vietnamese Newspaper

Những trận chiến mậu dịch trong lịch sử

Mai Loan

Dù là ủng hộ theo đảng Cộng Hoà hay Dân Chủ, đa số người dân Hoa Kỳ đều nghĩ rằng một cuộc chiến đụng độ với Trung Cộng là điều khó thể tránh, với hai lý do chính giúp cho nguy cơ này khó tránh khỏi: thứ nhất là sự vươn mình của Trung Cộng trong những thập niên gần đây để trở thành cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai, và cùng lúc đó là tham vọng của nhà cầm quyền ở Bắc Kinh muốn khôi phục lại vị thế và tham vọng bá quyền của mình.

Cuộc đụng độ về mậu dịch có lẽ đã bắt đầu vào tháng trước, khi TT Trump áp đặt tăng thuế quan trên hai thứ hãng thép và nhôm nhập cảng vào Mỹ (dù rằng Trung Cộng chỉ đứng hạng thứ 10 trong số các nước xuất cảng hai kim loại này sang nước Mỹ). Phía nhà cầm quyền Bắc Kinh đã liền trả đũa sau đó không lâu khi loan báo quyết định của họ cũng sẽ tăng thuế quan một số các hàng hóa của Hoa Kỳ xuất cảng sang Tầu với trị giá khoảng 3 tỷ Mỹ-kim, trong đó có những thứ như như thịt heo, trái cây khô, v.v…, đặc biệt là nhắm vào một số các tiểu bang ngang ngửa và có thu nhập dựa vào các ngành sản xuất nông phẩm để gây khó khăn cho nông dân và từ đó áp lực lên các vị dân cử phe bảo thủ tại các nơi này.

Chỉ vài ngày sau đó, TT Trump lại “tố” mạnh hơn nữa khi đưa ra đề nghị tăng thuế quan khoảng 50 tỷ Mỹ-kim từ hàng hóa của Tầu xuất cảng sang Mỹ. Phía Trung Cộng cũng đáp trả rằng họ sẽ không ngần ngại áp dụng thuế quan khoảng 50 tỷ Mỹ-kim trên nhiều hàng hoá của Hoa Kỳ xuất cảng sang Tầu.
Tuy các biện pháp áp đặt thuế quan này chưa được thi hành, và các viên chức chính phủ Mỹ đang tiếp xúc trong chốn riêng tư với phía Trung Cộng để mong giải quyết những khác biệt giữa đôi bên để mong đi đến những điểm đồng thuận hay tương nhượng nào đó, nhưng TT Trump không nhún nhường, khi nói rằng ông đã ra lệnh cho các phụ tá xem xét việc có thể tăng thêm khoảng 100 tỷ Mỹ-kim thuế quan trên các món hàng của Tầu xuất cảng sang nước Mỹ. Cho đến giờ này, chưa thấy là phía Trung Cộng có tiếp tục leo thang cuộc chiến hăm dọa trả đũa qua lại hay không.

Trong bối cảnh hăm hở giữa mỗi bên trước khi xảy ra những cuộc đụng độ, gần như ai nấy cũng đều lạc quan, đôi khi gần như quá lố vì những mục tiêu chính trị và tuyên truyền. Tuy nhiên, những chuyên gia và những người trong ngành truyền thông, cũng như những người thích tìm hiểu vấn đề một cách khách quan thường làm một việc duyệt xét lại, gọi là “review”, những biến cố tương tự đã xảy ra trong quá khứ để có một cái nhìn đầy đủ và khách quan, sáng suốt hơn. Các chuyên gia trong Bộ Quốc Phòng Mỹ cũng có truyền thống ghi nhận lại những diễn biến đã xảy ra trong cuộc chiến, bất kể là thắng lớn hay đại bại, bằng cách ghi nhận lại những lời kể của các nhân chứng, cùng với những kết quả trên trận địa, để từ đó rút ra những kinh nghiệm quý giá cho tương lai nếu như có phải trải qua những trận chiến tương tự.
Vì thế nên bài viết của nhà báo James Stewart được đăng trên tờ The New York Times mới đây có thể giúp cho người đọc có thể hiểu được phần nào những gì đã xảy ra trong quá khứ, với những trận chiến mậu dịch đã từng xảy ra trong lịch sử.

Cuộc chiến mậu dịch nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 nổ ra sau khi Hoa Kỳ ban hành đạo luật tăng thuế quan vào năm 1930, có tên là Smoot-Hawley Tariff Act. Hai người bảo trợ chính là nghị sĩ Reed Smooth thuộc tiểu bang Utah và dân biểu Willis Hawley thuộc tiểu bang Oregon, cả hai cũng thuộc về đảng Cộng Hoà, lúc đó đang nắm giữ đa số cầm quyền ở cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện sau chiến thắng to lớn trong cuộc bầu cử năm 1928 với ông Herbert Hoover thuộc đảng Cộng Hoà cũng đắc cử tổng thống.

Khi cuộc suy thoái kinh tế mới nổ ra vào cuối năm 1929, phe Cộng Hòa cầm quyền lúc bấy giờ đưa ra chiêu bài là dự luật tăng thuế quan này là nhằm mục đích bảo vệ các công ăn việc làm cho người dân Mỹ và giới nông gia khỏi bị cạnh tranh vì hàng hóa nhập cảng từ các nước khác có thể rẻ hơn nhiều.
Tuy TT Hoover lúc đầu lên tiếng chống đối dự luật này vì cho rằng nó đi ngược lại lời hứa của ông là sẽ hợp tác với các nước khác trên thế giới, nhưng cuối cùng cũng đã ký ban hành đạo luật này dưới áp lực mạnh mẽ của các chính trị gia trong đảng. Trước đó, nhà tài phiệt Henry Ford, chủ nhân sáng lập hãng xe hơi Ford nổi tiếng hàng đầu lúc bấy giờ đã vào Toà Bạch Ốc và ở cả đêm để thuyết phục TT Hoover là hãy phủ quyết đạo luật này. Và ông Ford còn gọi dự luật đó là “một sự ngu xuẩn về kinh tế” (an economic stupidity). Còn ông tổng giám đốc ngân hàng đầu tư J.P. Morgan là Thomas Lamont thì kể lại rằng “gần như ông đã quỳ lạy TT Hoover để van nài ông là hãy phủ quyết đạo luật này”.

Đạo luật này áp đặt tăng thuế quan lên khoảng 20,000 các món hàng hoá nhập cảng vào nước Mỹ. Đúng vậy, tổng cộng đến khoảng 20,000 các món hàng của các nước khác xuất cảng vào nước Mỹ! Nên nhớ là vào thời điểm đó, tuy chưa có những tổ chức hay định chế giao dịch thương mại rộng rãi và tự do như sau này với làn sóng toàn-cầu-hoá rộng rãi khắp nơi, với những phương tiện vận chuyển và thông tin mau lẹ và tiện lợi như ngày nay, xã hội nước Mỹ cũng đã tràn lan những hàng hoá từ khắp nơi đổ về chứ không phải đợi đến ngày nay mới xảy ra hiện tượng hàng hoá ngoại quốc tràn lan khắp nơi. Có thể nói là số lượng 20,000 các món hàng bị đánh thuế quan trong đạo luật Smoot-Hawley coi như gần phủ trùm tất cả những món hàng nào không phải của nước Mỹ làm ra. Trong một chừng mực nào đó, đạo luật này coi như phản ảnh tinh thần “America First” của nhiều chính trị gia lúc bấy giờ, tức là chỉ cứu xét và bảo vệ tất cả những gì của nước Mỹ và người Mỹ mà thôi.

Sau khi đạo luật này được ban hành, những diễn biến xảy ra xem chừng như đạt được thắng lợi. Theo lời của sử gia Robert Sobel ghi nhận thì “tiền lương của công nhân trong các hãng xưởng ở Mỹ đều nhảy vọt, cac hợp đồng xây cất khắp nơi, và các kỹ nghệ trên nước Mỹ cũng gia tăng mạnh mẽ.” Tuy nhiên, những khó khăn kinh tế to lớn hơn nhiều bắt đầu ló dạng, khởi sự là dưới hình thức các nhà băng bắt đầu bị suy yếu.
Ngay sau khi đạo luật này được ban hành, Gia Nã Đại, lân bang và đồng minh ngay phía bắc của Hoa Kỳ, đã lập tức trả đũa và được sự hưởng ứng của hầu hết các quốc gia khác khi họ đồng thanh áp đặt tăng thuế quan trên nhiều các món hàng của Mỹ xuất cảng ra nước ngoài. Kết quả là số lượng hàng hoá của Mỹ bị tụt giảm hơn phân nửa chỉ trong có 3 năm sau đó.

Số lượng hàng hoá nhập cảng vào nước Mỹ bị tụt giảm rất nặng, từ số lượng 4 tỷ 400 triệu Mỹ-kim vào năm 1929 đã tụt xuống chỉ còn có 1 tỷ rưởi Mỹ-kim vào năm 1933. Điều này dĩ nhiên cũng khiến cho rất nhiều dịch vụ và hàng triệu công ăn việc làm liên hệ đến ngành xuất cảng cũng bị biến mất. Không những thế, hàng hoá của Mỹ xuất cảng ra nước ngoài cũng tụt giảm thê thảm tương tự trong cùng thời gian, từ mức 5 tỷ 400 triệu rớt xuống chỉ còn có 2 tỷ mốt.

Vì thế nên tổng sản lượng quốc gia, thường gọi là mức GDP, cũng tụt giảm nặng nề, từ con số 103 tỷ Mỹ-kim vào năm 1929 bỗng tụt giảm xuống còn 75 tỷ 800 triệu Mỹ kim vào năm 1931, để rồi rơi xuống đáy vào năm 1933 khi chỉ còn có 55 tỷ 600 triệu Mỹ-kim. Khi sản lượng kinh tế bị tụt giảm như vậy, đương nhiên nó cũng kéo theo nạn thất nghiệp gia tăng của hàng triệu người dân trên nước Mỹ cũng bị mất công ăn việc làm khắp nơi. Hậu quả sau cùng là nền suy thoái kinh tế kéo dài thê thảm hơn nữa, trở thành một cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử.
Chỉ hai năm sau đó, trong cuộc bầu cử năm 1932, đảng Cộng Hoà đã bị thảm bại khi ông Franklin Roosevelt đắc cử tổng thống và phe Dân Chủ giành lại quyền đa số tại Quốc Hội. Và đạo luật Smoot-Hawley cũng bị chính thức đẩy lui vào năm 1934 với một đạo luật mới được ban hành có tên là Reciprocal Trade Agreements Act, cho phép tổng thống được phép điều đình các chính sách giảm bớt thuế quan với các nước khác.
Từ đó đến nay các sử gia và các nhà kinh tế còn tiếp tục tranh luận về những thiệt hại của đạo luật tăng thuế quan mậu dịch này đã ảnh hưởng nặng nề ra sao đến nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, mọi người gần như đồng ý với nhận định rằng đạo luật Smoot-Hawley và cuộc chiến mậu dịch nổ ra sau đó đã khiến cho tình hình kinh tế nói chung trở nên tồi tệ hơn và còn kéo dài thêm nhiều năm sau đó. Nhiều sử gia còn cho rằng những hậu quả này cũng là điều khiến cho những phong trào Nazi và phát-xít có cơ hội được bùng lên để khai thác tinh thần ái quốc cực đoan tại nhiều quốc gia như Đức và Ý, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử là Đệ Nhị Thế Chiến khiến cho hàng chục triệu người phải chết oan uổng.
Trả lời câu hỏi rằng ai thắng ai thua trong cuộc chiến này, ông Marc-William Palen, giáo sư về sử học tại Đại học Exeter ở Anh quốc và là một chuyên gia nghiên cứu về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Anh trong thế kỷ thứ 19, đã phát biểu rằng: “Câu trả lời dễ dàng nhất là không có ai thắng trong một cuộc chiến tranh mậu dịch. Nếu nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, có thể nói là kẻ thắng là những nước nào không tham dự vào những trận chiến mậu dịch.”

Giáo sư Palen đưa ra một vài thí dụ điển hình để minh chứng cho việc này. Chẳng hạn như vào cuối thế kỷ thứ 19, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại cũng đã có chiến tranh mậu dịch, khiến cho hàng hoá của Gia Nã Đại xuất cảng sang Mỹ tụt giảm. Do đó, Gia Nã Đại đã tìm cách xuất cảng sang thị trường nước Anh, và đế quốc Anh coi như là kẻ thắng cuộc.

Cũng giống như ông Trump, cựu tổng thống Bush Con vào năm 2002 đã áp đặt thuế quân đến 30% trên một số các loại thép nhập cảng vào nước Mỹ. Liên Hiệp Âu Châu đã nộp đơn kiện lên Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO) và được cơ quan này phán xử rằng quyết định của chính quyền Bush là bất hợp lệ và mang tính kỳ thị, bất công. Từ đó, tổ chức WTO cũng cho phép các nước khác được quyền áp đặt tăng thuế quan lên đến 2 tỷ Mỹ-kim trên các hàng hoá của Mỹ xuất cảng ra nước ngoài. Liên Hiệp Âu Châu đưa ra lời hăm dọa rằng họ sẽ áp đặt tăng thuế quan trên nhiều món hàng như xe hơi hoặc trái cây như loại cam ở Florida xuất cảng ra ngoài.

Vì thế nên TT Bush Con đã quyết định rút lại biện pháp tăng thuế quan vào tháng 12/2003, với lời biện minh rằng chính sách này đã đáp ứng được mục đích vào lúc đó.

Mai Loan
Houston, TX ngày 09 tháng 04/2018

Comments are closed.

error: Content is protected !!