Xưởng Tập Nghề Của Quỷ

Lời người dịch: Trong Thời Báo số này chúng tôi gửi đến quý độc giả hai truyện thật ngắn, truyện thứ nhất dựa trên bối cảnh một đất nước bị thống trị bởi chế độ độc tài, và truyện thứ nhì xảy ra ở một nơi đầy những bất ổn về chính trị. The Colonel (Ông Đại Tá) của Carolyn Forché và The Devil’s Workshop (Xưởng Tập Nghề Của Quỷ) của David Griffith.
Carolyn Forché là nhà thơ Hoa Kỳ, tác giả của nhiều tập thơ trong đó Gathering the Tribes được trao giải thi ca năm 1976 của Đại Học Yale, dành cho những tác giả trẻ khi bà mới 26 tuổi.

Nguyên tác: The Devil’s Workshop trong tạp chí Story số mùa xuân 1999.

Ngày mà quân đội tái chiếm San Quitzada từ tay quân du kích cách nơi tôi ở hai thung lũng, cha tôi sai tôi tới tiệm thuốc tây để mua kem dầu lửa. Khi về, cha cấm tôi không được tiếp tục công việc đào huyệt nữa và chỉ về phía mẹ tôi, nơi bà đang ngồi nhồi bột bánh mì bắp và nướng từng lát mỏng trên bếp nóng. Đầu những ngón tay của mẹ dầy cộm và chai cứng, không còn cảm thấy sức nóng của lửa ngọn.

Bà nắm lấy tay tôi và thoa một lớp dầu kem mỏng lên da bàn tay tôi, vào những kẽ nứt, những vết đứt từ cuốc, cày, xẻng, chĩa rơm, mã tấu. Tay tôi trầy nát và nhám nhúa, nhưng tôi lại cảm thấy mình dũng cảm. Khi tôi luồn lách bàn tay trên thân thể Anaceli, gai ốc nổi đầy, và sự thèm muốn căng phồng dưới từng gai ốc ấy xóa nhòa sự tàn bạo mà chiến tranh bỏ lại phía sau những làng mạc bỏ hoang và những ruộng ngô ngút khói.

Sau khi xoa kem, mẹ tôi quấn hai bàn tay tôi bằng những miếng vải xé từ tấm chăn nồng nặc mùi mỡ cừu. Bà tin tưởng đó là cách cứu mạng con trai cả của bà. Tôi hăm he sẽ bỏ mặc ba tôi với ruộng nương để gia nhập quân du kích. Bọn họ lẻn về làng mỗi tuần ba bốn lần với mặt bịt kín chỉ chừa lỗ hở mắt và miệng. Họ ve vãn đám trẻ trong làng về những tin tức liên quan đến chiến dịch cao nguyên.

Hai em trai và con em gái tôi, đeo mặt nạ, ẩn hiện giữa đám du kích, chỉ dẫn chúng tôi cách hành xử khi quân chính phủ tiến đến vùng đồi chúng tôi cư ngụ. Chúng nó thì thầm về đời sống trong khu kháng chiến, về vị lãnh tụ, với những cây súng trường bằng gỗ, về hầm hố, và những nơi chôn giấu đạn dược.

Dân làng nghĩ là tôi bị thương. Tôi tháo lớp băng ra cho họ coi, nhưng họ quay mặt đi. Chỉ một mình Anaceli dám nhìn và sờ vào tay tôi, rồi kéo tay tôi đặt lên đôi vú nàng và nói cho dù nhớ cái sức mạnh thô nhám của bàn tay tôi lúc trước, nàng vẫn thưởng thức được cái mềm mại chớm nở, và cái trơn mịn mỏng mềm của lớp kem thấm trên da bàn tay tôi.

Lúc tôi về nhà, mẹ tôi khám phá ra là tôi đã tháo lớp băng. Bà chửi tôi. Rồi vừa khóc vừa kể lể về sự tàn khốc của chiến tranh, bà nhắc tới con gái và hai đứa con trai qua một lô những bí danh. Bà bắt tôi ngồi cho bà thoa một lớp dầu mới trong lòng bàn tay, giữa những ngón tay, nơi những vết nhăn của khớp xương ngón tay và vòng quanh móng tay tôi.

Mẹ tôi băng hai bàn tay tôi lại, đút cháo cho tôi và lấy miếng bánh mì quệt sạch nước đậu đen dính trên cằm tôi. Tôi đi lòng vòng trong sân lắng nghe từng bước tảo thanh của quân đội, thấy mình vô tích sự hết sức.

Mười hai ngày cứ thế trôi qua—một lớp kem buổi sáng, buổi tối một lớp khác, nhàm chán, trong sự khinh miệt của hai em trai và con em gái của tôi.

Vào buổi tối ngày thứ mười ba quân đội kéo về. Khi bọn họ đập cửa nhà hàng xóm, mẹ tôi tháo băng và chùi sạch lớp dầu trơn trên hai tay tôi. Tay tôi mềm mại và mịn màng như bột nhão. Viên sĩ quan ra lệnh cho tất cả thanh thiếu niên tập trung ngoài quảng trường và xếp hàng dọc theo bức tường nơi chúng tôi sắp tượng Đức Mẹ và các vị thánh trong dịp lễ Phục Sinh trước khi đem lễ vật—bắp, rượu vang, trái táo, bánh bột bắp trộn bí và thịt heo, lại cung hiến.

Tất cả bọn con trai trong làng đều có mặt ở đó, ngay cả con trai nhà Alcalde, kẻ cả đời không bao giờ chạm tay vào một nông cụ nào, cái người mà hai bàn tay, giống hệt tay tôi, mịn màng đến không thể nào ngờ được.

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính

Tin tức khác...