Vị hiền giả thứ tư

Đến giờ này vẫn còn chuyện về Lễ Giáng sinh, phải chăng là quá trễ?
Không, ba vị Hiền giả, còn được gọi là Thuật sĩ, chúng ta quen gọi là Ba Vua, đã đến để dâng quà cho Hài đồng sau ngày Giê su ra đời. Nhưng không chỉ có ba vị, còn một vị thứ tư nữa. Vị Hiền giả thứ tư này chỉ gặp được Giê su sau một hành trình rất dài, rất xa. 
Hành trình của vị Hiền giả thứ tư được nhà văn Henry Van Dyke (1852-1933) kể lại  trong tiểu thuyết ngắn – còn được gọi là truyện ngắn dài, “The Story of the Other Wise Man”. 

“Câu chuyện của vị hiền giả thứ tư” có nhiều phiên bản. Phiên bản mà Đỗ Quân đến bạn đọc là phiên bản ngắn. 

“Tôi không biết câu chuyện nhỏ này đã từ đâu đến – có lẽ tự nhiên nó đến. Có một điều chắc chắn, nó không từng được viết ra trong bất cứ sách vở nào, cũng không được tìm thấy trong các truyền thuyết cổ đại của Đông phương. Nhưng tôi cũng không hề nghĩ rằng câu chuyện là do tôi nghĩ ra. Nó là một món quà, và hình như đối với tôi, dường như tôi biết Người Tặng Quà.” – Henry Van Dyke

Bạn đã biết câu chuyện của Ba vị Hiền giả phương Đông, và về việc họ đã đi từ rất xa để đem quà đến cái nôi máng cỏ ở Bethlehem. Nhưng bạn đã có bao giờ nghe câu chuyện về Vị Hiền giả thứ tư, người cũng đã nhìn thấy ngôi sao đang mọc lên, và đã lên đường đi theo nó, nhưng ông đã không đến trước mặt hài nhi Giê-su cùng với các huynh đệ của ông? Về ước muốn lớn lao của người hành hương thứ tư này, và cách mà ước muốn đó bị từ chối, nhưng lại đã được thành tựu chính trong sự từ chối; về những chuyến lang thang và những thử thách của linh hồn ông; về con đường tìm kiếm dài dặc của ông và cách cái cách lạ lùng mà ông đã tìm thấy Vị mà ông đi tìm – tôi sẽ kể câu chuyện đó như tôi đã nghe được những mảnh vỡ của câu chuyện trong Sảnh đường của Những Giấc Mơ, trong cung điện của Trái Tim Con Người.
I
Vị Hiền giả đó tên là Artaban. Ông là một trong những Thuật sĩ, và ông sống ở Ba Tư. Ông là một người rất giàu có, hết sức thông thái, và có đức tin tuyệt vời. Cùng với những bằng hữu thông thái khác ông đả tìm tòi trong thánh thư về thời điểm Đấng Cứu Rỗi sẽ ra đời. Họ biết rằng một ngôi sao mới sẽ xuất hiện và đã đồng ý vời nhau rằng Artaban sẽ quan sát bầu trời từ Ba Tư và những người khác sẽ quan sát từ Babylon.
Vào cái đêm ông tin rằng dấu hiệu sẽ được ban ra, Artaban đã lên mái nhà để ngắm bầu trời đêm. “Nếu ngôi sao xuất hiện, họ sẽ đợi tôi mười ngày, sau đó tất cả chúng tôi sẽ lên đường đến Jerusalem. Tôi đã sẵn sàng cho cuộc hành trình bằng cách bán tất cả tài sản của mình và đã mua ba viên ngọc, một viên ngọc bích, một viên hồng ngọc và một viên ngọc trai. Tôi dự định sẽ dâng chúng làm cống vật lên nhà vua.”
Khi ông đang quan sát bầu trời, một hòn ngọc xanh lam chợt xuất hiện trên nền trời tối, sáng lên chói lọi và tròn trịa thành một quả cầu đỏ thẫm. Artaban cúi đầu. Đây là một dấu hiệu, ông nói. “Vì Vua đang đến, và tôi sẽ đi gặp ngài.”
Con ngựa nhanh nhất trong số các con ngựa của Artaban đã được đóng yên cương sẵn và đang chờ đợi trong chuồng, nóng nẩy giậm móng trên mặt đất. Con ngựa chia sẻ sự háo hức về mục đích mà chủ nhân nó đang muốn đạt.
Khi Artaban đặt mình lên lưng ngựa, ông nói, “Xin Chúa ban phước lành để chúng ta không bị ngã và linh hồn chúng ta khỏi sự chết.”
Họ bắt đầu hành trình. Mỗi ngày, con ngựa trung thành của ông đi hết phần đường xa đã định, và vào buổi tối ngày thứ mười, họ đã đến được vùng ngoại ô của Babylon. Trong một hòn đảo nhỏ của những cây cọ sa mạc, con ngựa của Artaban đã ngửi thấy trở ngại và chậm bước. Rồi nó đứng yên, từng bắp thịt run rẩy.
Artaban xuống ngựa. Ánh sao mờ chiếu lên một người đàn ông đang nằm trên đường. Màu da của ông ta mang dấu ấn của một cơn sốt nặng. Trong lòng bàn tay gầy của ông ta đã có cái lạnh của thần chết. Khi Artaban quay đi, từ môi của người bệnh phát ra một tiếng thở dài.
Artaban cảm thấy ân hận vì ông không thể ở lại để chăm sóc cho người lạ sắp chết này, nhưng đây là giờ phút mà toàn bộ cuộc đời của ông đã nhắm đến. Ông không thể từ bỏ phần thưởng của những năm học tập và tin tưởng để chỉ làm một hành động của lòng thương xót của con người. Nhưng rồi, làm thế nào mà ông lại có thể để một người đồng loại chết trong đơn độc?
“Hỡi Thiên Chúa của sự thật và lòng thương xót,” Artaban cầu nguyện, “xin hướng dẫn tôi đi theo con đường trí tuệ mà chỉ mình Ngài biết.” Rồi ông biết rằng ông không thể ra đi. Các Thuật sĩ cũng đồng thời là y sĩ và nhà thiên văn học. Ông cởi áo choàng và bắt đầu công việc chữa bệnh. Vài giờ sau người bệnh tỉnh lại. Artaban đưa cho ông ta tất cả số bánh mì và rượu còn lại của mình. Ông cũng để lại một lọ thảo dược chữa bệnh và các hướng dẫn điều trị cho người bệnh.
Mặc dù Artaban đã hối hả thúc ngựa phi nước đại trong suốt quãng đường còn lại, nhưng ông chỉ đến được điểm hẹn sau khi trời đã sáng. Các bạn của ông chẳng còn thấy đâu nữa. Cuối cùng, mắt ông bắt gặp một mảnh giấy da được cố ý đặt ở một chỗ để cho ông dễ thấy. Tờ giấy da nói rằng, “Chúng tôi đã đợi đến nửa đêm và không thể trì hoãn thêm nữa. Chúng tôi đi tìm vì Vua. Hãy băng qua sa mạc theo chúng tôi.”
Artaban ngồi xuống trong tuyệt vọng, ông lấy tay che mặt. Làm thế nào tôi có thể băng qua sa mạc mà không có thức ăn và với một con ngựa đã qua kiệt sức? Tôi phải trở về Babylon, bán đi viên hồng ngọc của mình để mua lạc đà và các thức cần thiết cho cuộc hành trình. Tôi có thể sẽ không bắt kịp các bạn của tôi. Chỉ có Thiên Chúa nhân từ mới biết tôi sẽ đạt được mục đích của mình hay không chỉ vì tôi đã lần lữa để làm việc bác ái.”
Vài ngày sau khi Artaban đến được Bethlehem, đường phố đã vắng tanh. Có tin đồn rằng vua Hê-rô-đa đang điều quân lính đến, có lẽ để thu một loại thuế mới, và những người dân của thành phố đã đưa đàn gia súc của họ đi sâu vào những ngọn đồi để nhà vua không thể tìm ra được.
Có một cánh cửa của một ngôi nhà đang mở và Artaban có thể nghe tiếng hát ru con của một người mẹ. Ông bước vào và tự giới thiệu. Người phụ nữ nói với ông rằng hôm nay đã là ngày thứ ba kể từ hôm ba nhà hiền giả xuất hiện ở Bethlehem. Họ đã tìm thấy Giuse và Maria và đứa trẻ, và đã đặt những món quà của họ dưới chân Ngài. Sau đó, họ đã ra đi một cách bí ẩn như họ đã đến. Cùng đêm đó, Giuse đã bí mật đưa vợ và hài nhi đi trốn. Người ta thì thầm rằng với nhau rằng họ sẽ đi thật xa, vào tận Ai Cập.
Khi Artaban nghe người mẹ nói, đứa bé đưa bàn tay bụ bẫm của nó lên chạm vào má ông và mỉm cười. Trái tim của ông ấm lên với sự va chạm. Rồi đột nhiên, bên ngoài vang lên những âm thanh ồn ào hỗn loạn. Tiếng phụ nữ kêu rú. Sau đó, một tiếng kêu tuyệt vọng vang lên, “Bọn quân lính của Hê-rô-đa đang giết trẻ con.”
Artaban bước đến ngưỡng cửa. Một nhóm quân sĩ đang đổ xuống. Tên chỉ huy tiến đến gần cửa định đẩy Artaban sang một bên, nhưng Artaban không nhúc nhích. Khuôn mặt ông bình thản như thể ông vẫn đang ngắm các vì sao. Cuối cùng, trên bàn tay chìa ra của ông lộ ra viên hồng ngọc khổng lồ. Ông nói, “tôi đang chờ để trao viên ngọc này cho vị chỉ huy khôn ngoan, người sẽ tiếp tục lên đường và để yên cho ngôi nhà này.”
Viên chỉ huy, sửng sốt trước sự lộng lẫy của viên đá quý, đã chụp lấy nó và ra lệnh cho các quân lính của anh ta, “Đi tiếp đi, ở đây không có đứa trẻ con nào cả.”
Rồi, Artaban cầu nguyện, “Lạy Thiên Chúa, xin tha thứ cho tội lỗi của tôi, tôi đã đem cho con người món quà dành cho Thượng đế. Tôi có còn xứng đáng được nhìn thấy dung nhan của vì Vua hay không?
Nhưng trong bóng tối phía sau ông, có tiếng nói của người mẹ, nghẹn ngào vì vui sướng, bà khẽ khàng, “Ngài đã cứu mạng đứa con bé bỏng của tôi. Xin Chúa ban phước cho ngài, gìn giữ ngài và ban bình an cho ngài.”
Artaban, vẫn lần theo vì Vua, đi vào Ai Cập và tìm kiếm khắp nơi dấu vết của cái gia đình nhỏ đã chạy trốn trước ông. Trong nhiều năm, chúng tôi lần theo Artaban trong cuộc tìm kiếm của ông. Chúng tôi trông thấy ông tại các kim tự tháp. Chúng tôi thấy ông ở Alexandria đang hỏi thăm một giáo sĩ Do Thái, người đã chỉ bảo ông rằng để tìm được vì Vua, cần phải tìm ở giữa những người nghèo khó, chứ không phải giữa những người giàu.
Ông đi qua các xứ sở nơi nạn đói hoành hành, và người nghèo khóc than vì thiếu bánh. Ông trú ngụ trong các thành phố đầy dịch bệnh. Ông đến thăm những người bị áp bức và những người vất vả trong các nhà tù. Ông tìm kiếm trong những khu chợ nô lệ đông đúc. Mặc dù ông không tìm được ai để ông cho tôn thờ, ông đã tìm thấy nhiều người để cho ông phục vụ. Nhiều năm trôi qua, ông cho người đói ăn, cho người trần truồng áo mặc, ông chữa lành người bệnh và an ủi người bị giam cầm.
Ba mươi ba năm đã trôi qua kể từ khi Artaban bắt đầu cuộc tìm kiếm của mình. Tóc ông đã bạc trắng như tuyết. Ông biết cuộc đời của mình đã sắp kết thúc, nhưng ông vẫn tha thiết với hy vọng rằng mình sẽ tìm thấy vì Vua. Ông đi đến Jerusalem lần cuối cùng.
Đó là mùa lễ Vượt qua và thành phố đã đầy những người lạ. Artaban hỏi họ đang đi đâu. Một người trả lời, “Chúng tôi đang đi xem cuộc hành quyết trên đồi Golgotha bên ngoài các bức tường thành phố. Hai tên cướp sắp bị đóng đinh, và cùng bị đóng đinh với chúng là một người khác tên là Giê-su ở Nazareth, một người đã làm nhiều điều tuyệt vời trong dân chúng. Ông ấy tự xưng là Con Thiên Chúa và các thầy tư tế cùng những kỳ mục đã phán rằng ông phải chết. Philatô đã đưa ông ấy đến thập giá.
Thật kỳ lạ, những từ quen thuộc này rơi vào trái tim mệt mỏi của Artaban. Những từ đó đã dẫn dắt ông suốt cuộc đời qua đất liền và qua biển. Và bây giờ, chúng đến với ông như một thông điệp tuyệt vọng. Vì Vua đã bị từ chối và bị ruồng bỏ. Có lẽ ông ấy đã chết rồi. Ông ấy có thể là người mà ngôi sao đã xuất hiện để báo hiệu cách đây ba mươi ba năm trước không?
Tim của Artaban đập mạnh. Ông nghĩ, “Có thể là tôi vẫn sẽ tìm được vì Vua và có thể chuộc ngài khỏi cái chết bằng cách đưa kho báu của tôi cho kẻ thù của ngài.”
Nhưng khi Artaban bắt đầu đi về phía Calgary, ông trông thấy một toán lính đi đang đi xuống, kéo theo một phụ nữ trẻ đang nức nở khóc. Khi Artaban dừng lại, cô giằng ra khỏi những kẻ đang hành hạ cô và ném mình xuống dưới chân ông, hai tay ôm lấy đầu gối của ông.
“Xin hãy thương hại tôi,” cô gái khóc. “Xin hãy cứu tôi. Cha tôi cũng là một Thuật sĩ, nhưng ông đã mất. Tôi sẽ bị bán làm nô lệ để trả nợ của cha tôi.”
Artaban run rẩy khi ông lại cảm thấy sự xung đột nảy sinh trong tâm hồn. Nó giống như cái mà ông đã trải nghiệm trong khu rừng cọ ở Babylon và trong ngôi nhà tranh ở Bethlehem. Hai lần món quà mà ông đã dành để hiến cho vì Vua đã được rút ra từ tay của ông để phục vụ loài người. Bây giờ ông sẽ lại thất bại một lần nữa? Một điều rất rõ, ông phải giải cứu đứa trẻ bất lực này khỏi cái ác.
Ông lấy viên ngọc trai ra, đặt nó vào tay cô gái rồi nói, “Con gái ơi, đây là tiền chuộc. Đó là món cuối cùng trong kho báu của ta mà ta đã hy vọng giữ lại cho vì Vua.”
Trong khi ông nói, trời tối sầm lại và những cơn rung chuyển của một trận động đất chuyển động trên mặt đất. Những ngôi nhà rung chuyển. Những người lính kinh hoàng bỏ chạy. Artaban ngã mình xuống bên cạnh một bức tường bảo vệ. Còn có cái gì để ông phải sợ nữa? Còn có cái gì để ông hy vọng nữa? Ông đã cho đi cống phẩm cuối cùng để dâng lên vì Vua của mình. Cuộc tìm kiếm đã kết thúc và ông đã thất bại. Còn gì quan trọng nữa đâu?
Trận động đất rung chuyển bên dưới ông. Một viên ngói nặng, bị bung ra từ một mái nhà, rơi xuống trúng người ông. Ông nằm đó, thở dốc và tái nhợt. Rồi có một giọng nói nhỏ âm thầm vang lên trong hoàng hôn. Nó giống như tiếng nhạc từ xa vọng lại. Cô gái được giải cứu dựa vào ông và nghe ông nói, “Không phải thế sao, Chúa ơi; vì khi thấy con thấy Ngài đói con đã cho Ngài ăn. Hay khi Ngài khát đã cho Ngài uống? Khi thấy Ngài bệnh hoặc bị cầm tù con đã đến với Ngài? Ba mươi ba năm con đã tìm Ngài; nhưng con chưa bao giờ được nhìn thấy mặt Ngài, cũng chẳng được hầu hạ Ngài, vì Vua của con ơi.”
Giọng nói ngọt ngào lại vang lên, “Ta bảo thật với ngươi rằng, vì ngươi đã làm điều đó cho những người anh em của ta, ngươi đã làm điều đó cho ta.”
Một vầng sáng của sự kỳ diệu và niềm vui làm ngời sáng khuôn mặt của Artaban khi một hơi thở cuối cùng, nhẹ nhàng thoát ra khỏi đôi môi ông. Cuộc hành trình của ông đã kết thúc. Kho báu của ông đã được chấp nhận. Vị Hiền giả thứ tư đã tìm thấy vì Vua.

Đỗ Quân – dịch

Tin tức khác...