Vấn đề siêu hình thế kỷ 21

Một đoạn trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du

Chu Nguyễn

Con người, kẻ nhiều người ít, là sinh vật hiếu tri. Người nông dân, “trông trời trông đất, trông mây…” để làm ruộng cho thuận lợi. Giới trí thức cặm cụi trong phòng thí nghiệm, đài quan sát hay trong thư viện… để giải đáp những vấn đề về khoa học và kỹ thuật hoặc nhân sinh.
“Dấu hỏi bao quanh trọn kiếp người!” Quá trình tìm chân lý thực vô vàn khó khăn và lâu dài, kẻ hiếu tri nếm trải không ít khổ đau về tinh thần và vật chất. Thử tưởng tượng xem, dấu hỏi (?) có khác con sên bò trong óc, chậm chạp lê mình, làm nát não bộ con người hay không? và chỉ hy vọng tìm thấy câu trả lời với hình ảnh dấu chấm than (!). Dấu than cũng gợi hình ảnh máu đào từng giọt nhỏ xuống và cũng gợi bóng dáng chiếc đinh lạnh lùng đóng vào áo quan (săng) của kẻ cuối cùng mới hy vọng tìm ra câu trả lời trước khi chết.

“Than” còn là than thở, than thở cho kiếp người quá ngắn để tìm chân lý. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã mô tả quá trình của kẻ hiếu tri đi tìm ý nghĩa nhân sinh cho tới lúc “thôi hết băn khoăn” như sau:

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người

Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”

Cũng vì nhân loại hiếu tri, tìm câu trả lời để cải thiện vận mệnh nên trong mấy thế kỷ vừa qua có hàng ngàn nhóm hiếu tri và các nhóm tín ngưỡng lớn nhỏ xuất hiện, nở rộ nhất ở Á châu và Phi châu mà nhà xã hội học gọi chung là Phong trào tân tín ngưỡng (New Religious Movement-NRM). Nhóm tân tín ngưỡng có thể dị biệt về nguồn gốc và một số tín điều nhưng nhìn chung cùng hướng tới sự phụng sự con người, giúp con người sống lương thiện hơn như nhận định của Dalai Lama, một nhà tu có trí tuệ và đức độ nổi danh trong thời đại chúng ta trong tác phẩm Mind in Comfort and Ease viết trước 2016: “Mặc dù có thể có các quan điểm và triết lý khác nhau nhưng có thể thấy mục đích đạo đức của các dòng tư tưởng này như nhau, chẳng hạn đều khơi dậy tình thương yêu, lòng trắc ẩn, kiên tâm, sự tri túc, khuyên giữ mình tuân thủ kỷ cương đạo đức.Vì thế tôi tin chắc rằng, từ khía cạnh có tiềm năng mang lại lợi cho con người và khiến con người trở thành người tốt, hầu hết các tín ngưỡng truyền thống đều nhắm đích gần như nhau, Đó cũng là lý do vững chắc là chúng ta có thể gìn giữ tín ngưỡng gia truyền. (… the spiritual traditions of the world do have different views and philosophies, whatever their differences—and some of them are quite major—we find that the ethical training is mostly the same. For example, when it comes to cultivating love, compassion, patience, and contentment, or the observance of self-discipline and ethical principles, most spiritual traditions seem to be more or less the same. This is why I feel that, from the point of view of their potential to benefit people and help them develop into good human beings, most spiritual traditions are indeed the same, and this remains my firm conviction. This is a good reason for staying with the religion we have inherited from our parents.)

Trong một cuộc phỏng vấn trước đó, Dalai Lama từng phê bình chủ trương cho rằng tín ngưỡng của mình là siêu việt hơn hẳn các tín ngưỡng khác. Thái độ coi niềm tin của người khác tà ma ngoại đạo, là ma giáo và dị đoan, còn riêng phái mình là chính thống sẽ dẫn tới chia rẽ, nghi kỵ và tranh chấp, trái với tôn chỉ đạo đức làm người và ngăn cản sự tiến bộ của nhân loại.

Một thí dụ điển hình: Mượn cớ dị đoan, vì ca tụng học thuyết của Copernicus, nhà khoa học, thiên văn học lừng danh thế kỷ 17 là Galileo bị gán tội “heresy”” (dị đoan) vì tin rằng mặt trời là trung tâm của thái dương hệ (heliocentrism) chống lại quan điểm của Giáo hội lúc đó, đại diện tín điều khoa học, khăng khăng khẳng định trái dất mới là trung tâm của các hành tinh (geocentrism).

Bám lấy chân lý, Galileo đã bị kết án tù chung thân vào năm 1663.

Một nhà thơ tiền chiến có viết một câu dí dỏm: “Sự thực ngày nay không thực đến ngày mai!”. Thực không sai. Đối với lãnh vực con người bất lực trong việc tìm hiểu, như thế giới siêu hình (lãnh vực bất khả tri) thì cần thận trọng khi phê phán ý kiến người khác là dị đoan hay tà thuyết.
Niềm tin vào ma quỷ, oan hồn, kiếp sau… gần như truyền thống của mọi dân tộc bất chấp theo tín ngưỡng nào. Đại thi hào Nguyễn Du từng viết Văn tế thập loại chúng sinh trong tiết tháng bảy, với những câu kết phô bày niềm tin vào một thế giới huyền bí chung quanh chúng ta với những oan hồn vất vưởng:

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài…

Khi xưa, ở nước ta, trong các kỳ thi hương, sĩ tử trước khi được vào trường thi, đã được nhắc nhở, họ có thể trải qua phiên tòa ân oán, một phần quyết định sự thành tựu của họ khi nghe lời xướng từ loa do lệnh Vua: Oan hồn muốn báo oán được vào trước, báo ân vào kế tiếp và sĩ từ vào sau cùng (báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập, sĩ tử thứ thứ nhập).

Tuy nhiên, đừng quá tin vào thuyết âm hồn và ân oán và cũng đừng khai thác niềm tin này vào việc trục lợi. Chính việc cuồng tín và trục lợi mới cần phê phán.
Chính niềm tin vào ân oán do việc mình tạo ra, có thể giúp cho con người tránh ác, hướng tới thiện, sống lành mạnh, đạo đức hơn như một trí thức, giáo sư Tok Thompson trong The Conversation, vào cuối năm 2018, từng đặt vấn đề “Tại sao chúng ta nên tin vào ma quỷ (Why we should believe in ghosts).
Tác giả đã nêu nguyên nhân trong bài nghị luận sau đây nhân ngày lễ Halloween:
“Tin vào hồn ma sẽ sống có đạo đức hơn?

Halloween là lúc mà ma quỷ và những hình ảnh trang trí ghê rợn được trưng bày cho mọi người thấy, nhắc nhở chúng ta về lãnh địa của người chết.
Nhưng liệu chúng cũng có thể dạy cho chúng ta bài học quan trọng về làm thế nào để sống đời sống đạo đức?

Niềm tin dân gian

Nguồn gốc của lễ Halloween ngày nay quay ngược về lễ “samhain”. Đó là dịp lễ của dân Celtic, nhằm đón chào sự khởi đầu của phần đen tối, hắc ám của một năm. Người ta tin rằng đó là khoảng thời gian mà thế giới của người sống và của người chết giao thoa, lúc con người với ma quỷ rất thường xảy ra các cuộc gặp gỡ.
Vào năm 601 sau Công nguyên, trong nỗ lực cải đạo người dân Bắc Âu sang Thiên chúa giáo, Giáo hoàng Gregory Đệ nhất ra lệnh cho các nhà truyền giáo chớ ngưng những buổi lễ mà họ cho là tà giáo ngoại đạo. Thay vào đó, Giáo hoàng muốn chúng thành ngày lễ Thiên chúa giáo.
Theo đó, dần dần theo thời gian, ngày lễ “samhain” trở thành Ngày Các Linh hồn và Ngày Các Thánh, là lúc việc nói chuyện với người chết được xem là đúng với giáo lý.
Ngày Các Thánh trong tiếng Anh cũng còn được gọi là All Hallows’ Day và đêm trước ngày lễ đó do vậy được gọi là All Hallows’ Evening (Đêm Các Thánh) hay Halloween.
Niềm tin ngoại đạo này về linh hồn của người chết không những đã tiếp tục được duy trì mà còn trở thành một phần của nhiều nghi thức lúc đầu ở nhà thờ.

Bản thân Giáo hoàng Gregory Đệ nhất cũng cho rằng những ai thấy hồn ma thì nên cầu nguyện cho chúng. Theo quan niệm này thì người chết có thể cần sự trợ giúp của người sống để được lên Thiên đường.
Trong thời Trung Cổ, các niềm tin về linh hồn được gắn vào sự chuộc tội, dẫn việc ngày càng tăng tình trạng bán xá tội cho nhà thờ – tức là các tín đồ nộp tiền cho nhà thờ để giảm hình phạt cho các tội lỗi của họ.

Niềm tin phổ biến về hồn ma khiến việc thu tiền xá tội trở thành một hoạt động béo bở của các nhà thờ.
Tin và không tin vào ma quỷ
Chính những niềm tin như thế đã dẫn đến phong trào Cải cách, tức là sự phân chia Thiên chúa giáo ra thành Công giáo và Tin Lành do nhà giáo lý người Đức Martin Luther chủ xướng.
Thật vậy, 95 Luận đề của Luther, vốn được đóng đinh lên cánh cửa Nhà thờ All Saints ở Wittenburg vào ngày 31/10/1517, chủ yếu là sự phản kháng đối với việc thu tiền xá tội.
Sau đó, hồn ma bị coi là ‘sự mê tín của người Công giáo’ ở các nước theo đạo Tin Lành.
Tuy nhiên, các cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn quanh sự tồn tại của hồn ma, và con người ngày càng tìm đến khoa học để tìm lời giải đáp cho vấn đề này.

Cho đến thế kỷ 19, Chủ thuyết Tâm linh, một phong trào mới vốn cho rằng người chết có thể nói chuyện với người sống, đã nhanh chóng trở thành học thuyết chính thống, và được thể hiện qua những hình thức phổ biến như gọi hồn, cầu cơ, chụp ảnh hồn ma và những điều đại loại thế.
Những niềm tin về hồn ma không chỉ có trong thế giới Thiên chúa giáo. Mặc dù không phải tất cả, nhưng hầu hết các xã hội đều có khái niệm về “hồn ma”. Ở Đài Loan chẳng hạn, khoảng 90% người dân ở đây nói rằng họ đã từng thấy ma.

Cùng với nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Quốc và Việt Nam, Đài Loan cũng có Tháng Cô hồn, trong đó có một ngày Cô hồn, là lúc mà người ta tin rằng các hồn ma được thả khỏi địa ngục và lai vãng trên dương thế.

Những niềm tin này thường được gắn với một sự tích trong Phật giáo được ghi lại trong Kinh Vu Lan Bồn kể về việc Đức Phật giảng giải cho Tôn giả Mục Kiền Liên cách cứu độ cho thân mẫu khi ông nhìn thấy mẹ mình phải khốn khổ tiều tụy trong thân hình quỷ đói.

Cũng giống như quan niệm ở nhiều nước khác, hồn ma ở Đài Loan được phân ra thành loại “lành” và “dữ”. Ma lành thường là hồn mà của tổ tiên, của người trong gia đình, và được rước đón vào nhà trong dịp Lễ Cô hồn. Ma dữ là những hồn ma giận dữ hoặc đói khát, đeo bám người sống.
Một học giả chuyên nghiên cứu về các truyền thuyết tại Đại học Nam California, từng nghiên cứu và giảng dạy về các truyện ma trong nhiều năm, cho rằng hồn ma nhìn chung đi “săn lùng” là vì những lý do chính đáng. Có thể là bởi các vụ giết người chưa được làm sáng tỏ, bởi việc chưa được tổ chức tang lễ tươm tất, là một vụ buộc phải quyên sinh, là từ các thảm kịch lẽ ra đã có thể tránh được, và vì những đổ vỡ về mặt đạo đức.

Hồn ma trong những trường hợp này thường muốn chui ra khỏi mộ huyệt để đi đòi công lý. Chúng có thể ra yêu sách với các cá nhân, hoặc với toàn xã hội. Ví dụ như tại Mỹ, đã có những trình báo về việc nhìn thấy nô lệ người Mỹ gốc Phi và thổ dân Mỹ bản địa.
Học giả Elizabeth Tucker, thuộc Đại học bang Binghamton ở New York, đã ghi chi tiết về nhiều vụ trình báo những gì được nhìn thấy trong khuôn viên trường, mà thường là gắn với các khía cạnh nhớp nhúa đáng buồn từng xảy ra trong quá khứ tại khu học xá này.

Theo cách này thì các hồn ma cho thấy mặt tối của đạo đức.

Những lần xuất hiện của chúng thường là lời nhắc nhở rằng đạo đức và luân lý là những vấn đề vượt qua kiếp hiện sinh của chúng ta và rằng những lỗ hổng về đạo đức có thể đem đến gánh nặng rất nặng nề về tâm linh.
Tuy nhiên, những câu chuyện ma cũng đem đến hy vọng.

Do chúng cho thấy có sự sống sau khi chết, chúng tạo ra cơ hội cho chúng ta tiếp xúc với những người đã mất và do đó là cơ hội để cứu vớt – một cách để chuộc lại những sai lầm trong quá khứ.

Chu Nguyễn

Tin tức khác...