Tôi kéo xe ( chương 7-9)


Tam Lang Vũ Đình Chí

Chương 7: Một Đồng Hào Trong Nẹp Gấu Quần

Tôi cũng trả xe cùng phố anh, nhưng anh có đủ thuế không?
– Kéo từ trưa được bảy hào, giả thuế sáu hào, tôi chỉ còn thừa có một hào bạc.
– Được, bây giờ cũng đã đến hai giờ sáng. Thủng thỉnh, chúng mình về cũng vừa. Anh theo tôi, tôi trỏ chỗ cho mà ăn, ăn xong, ta cùng về chỗ trọ.
Càng xe quắp nách, sóng đôi với người bạn mới, tôi cũng bước một, theo đi. Đường vắng canh khuya, tôi chẳng quên hỏi bạn những câu chuyện nhỏ:
– Một hào chỉ, cả ăn lẫn trọ thì làm thế nào cho đủ?
– Anh có nghiện rượu không?
– Tôi không uống bao giờ cả.
– Bảy xu cơm, hai xu trọ, cả thảy chín xu. Thêm một trinh bát nước chè tươi, anh còn thừa một trinh lẻ. Mà quên, còn diêm thuốc chưa kể.
– Không, tôi không hút được thuốc lào.
– Như thế thì lo gì nữa!
Đồng hồ trong phố đánh hai giờ sáng. Chúng tôi về đến chỗ trả xe.
Qua mảnh sân con vào đến hiên trong, dưới ánh sáng lù mù một ngọn đèn Hoa Kỳ, tôi lại thấy mặt thằng cha bận áo nòng nọc buổi trưa, chừng là người phụ việc cho cai xe ở đó.
Người cai không có đấy, nhưng trên chiếc ghế vải anh ta ngồi lúc trước, tôi thấy có một người đàn bà. Mụ này cởi trần, người to lớn, đang rũ tóc quạt phành phạch như người quạt hỏa lò. Dưới mảnh yếm rộng không hơn chiếc mù soa, thỗn thện cặp vú sọ dừa to như hai chiếc ấm giỏ.
Cạnh đấy, trên một tấm giường gỗ trần, mấy thằng vén đùi nằm xen vào nhau, ngủ như chết giả.
Tiếng ngáy, tiếng mê sảng lẫn với mấy tiếng ho.
Tôi lấy trong túi áo, đưa sáu hào ra.
– Xe 102 phải không?
Thằng cha bận áo nòng nọc, mặt gân guốc mà đầu bò, vừa hỏi vừa giở sổ.
– Phải, bác giả lại thẻ cho tôi.
– Xe có thiếu gì không?
– Đủ cả.
– Hãy đợi đấy để còn ra soát lại đã.
Cùng lúc đó, một người phu xe khác bước vào:
– Bác làm phúc, hôm nay cháu thiếu mất hai hầu.
– Phúc với đức gì, không đủ thuế thì gán áo.
– Bác để cho đến mai, cháu kéo…
Không đợi người này nói hết, mụ đàn bà the thé nói vào:
– Mai mấy kia gì, áo nó đâu, bắt lấy!
– Cháu chỉ còn có một cái quần… Xe ế, nhỡ phải một hôm, bà trông lại…
Lần này thằng áo nòng nọc không nói, cúi rút chiếc càng bắt ốc trong gậm, sấn lại đánh vào lưng người kia ba cái luôn tay.
– Ôi giời ôi!
– Mày thiếu thuế còn bướng có phải không?
– Nó nỏ mồm, đánh bỏ mẹ nó đi cho bà… quai thêm cho nó mấy cái.
Mụ đàn bà búi tóc ngược, sấn sổ đứng dậy. Túm đầu người kia dìm xuống, mụ vừa tát vừa lên gối, chửi rủa một hồi.
Trên bục, mấy người nọ – chừng là phu xe cả – vẫn ngủ say.
Một thằng tỉnh ngủ hơn, ngóc cổ lên nhìn, rồi lại nằm ngủ lại.
– Mày nắn lưng nó cho bà.
Bỏ chiếc càng bắt ốc xe, thằng áo nòng nọc lần người khốn nạn ấy từ đầu xuống đến gối.
Lúc này, người ấy run lên như cầy sấy, thì vừa lúc thằng kia vừa nắn đến hai gấu quần:
– Nó giấu đồng hào trong này, có gớm không!
Vừa nói, thằng áo nòng nọc vừa giơ lên một đồng hào con, rồi thoi vào mặt người ấy một quả đấm:
– Cái gì đây? Tiên sư đồ ăn cắp!
Mụ đàn bà lại vít đầu người ấy xuống:
– Bà đánh cho mày biết, từ rày thì chừa những thói ăn gian.
Nhận trên mình chừng hơn chục chiếc càng, người khốn nạn kia ngoắt tay ôm lấy lưng, rồi gục xuống. Máu ở lỗ mũi anh ta ồng ộc đổ ra như hai vòi nước, đọng thành vũng trên gạch sân.
Tôi rùng mình….
Quay lưng lại, tôi bảo với thằng áo nòng nọc:
– Người ta thiếu có hai hào bạc!

Chương 8: Tôi Nếm Món Xáo Bò Lần Thứ Nhất

Chừng ba giờ sáng.
Chui vào một hàng cơm tối mà thấp như cái hang chuột, tôi với người bạn dọc đường lúc nãy cùng ghé ngồi xuống một tấm ghế dọc kê sát một chiếc bàn. Cái bàn mộc cáu ghét với mỡ đã lâu năm, trên có một ống đũa tre rỉ nước ròng ròng, hai cái vỏ cút rượu ti con, với một cái vịt đã cụt nửa vòi, chừng là vịt nước mắm.
Tôi thở trong một bầu không khí đầy những mùi hôi tanh nồng nặc. Cái mùi ấy gọi là mùi thớt cũng chỉ hơi đúng vì ngoài những hơi mỡ ôi, cá ươn, thịt thiu, hành sống và trăm thức đồ ăn khác, nếu phân chất kỹ, còn có cả mùi cứt gián với mùi mồ hôi kinh niên.
Con bé nhà hàng bưng đến cho tôi hai chiếc bát đàn úp một, trong có ba xu cơm.
Tôi lật chiếc bát úp, lấy đôi đũa tre trong ống sẻ đôi chỗ cơm, vừa được đầy hai bát.
Trước mặt tôi, một bát canh xáo bò bốc khói lên ngùn ngụt. Nóng sốt như thế mà tôi đoán chừng nó chẳng ngon lành gì cho lắm, vì trong bát canh đục ngầu như nước cống, mấy khoanh lòng bò lều bều nổi như những xác chết đuối dưới mấy đám hành răm. Cạnh đấy, một đĩa lòng giá trông cũng chẳng ngon gì hơn.
Ít tiền, làm gì được miếng ngon! Hai xu xáo lòng! Hai xu lòng giá!
Cầm bát cơm, chan nước xáo, và… tôi thấy dạ dày tôi nó đi một mạch từ bụng lên đến cổ. Có lẽ món ruột già nhà hàng làm không kỹ, nên và xong một miếng, tôi tưởng như tôi đã nuỗt phải cả một bãi phân bò.
Ngồi đối diện, bạn tôi vẫn chén rượu khè khà:
– Anh không uống được rượu thì ăn đi.
Cầm bát canh húp soàn soạt rầm nhà, anh ta tấm tắc khen:
– Món xáo bò ngon quá!
Tôi đành ngồi chống đũa.
Xáo ấy, lòng ấy, lại thêm cơm thổi bẳng thứ gạo hẩm đã hết cả nhựa, nước mắm thì là thứ nước hàng pha với muối mặn ăn cho đỡ tốn, tôi dù có cố nuốt, rồi cũng đến phải trả hết ra.
Ngồi chờ bạn, tôi nhìn đến gác mâng-giê để ngay ngoài nhà. Trong tấm lưới sắt thưa, một chậu thịt – thịt bạc nhạc đẽo ở xương ra – còn nằm chờ bỏ vào nồi để làm món giả cầy bán sáng.
Ba con cá diếc nhỏ bằng hai ngón tay chéo, chẳng biết rán từ năm nào mà đét lại như những con mắm nướng. Chừng nó ngã qua vào chảo mỡ cạn, rồi nhảy lên đĩa nằm chờ mãi đó mà chưa gặp được ông khách hàng. Một khúc dồi lợn buộc trên sợi dây lạt, lòng thòng như một quan tiền. Mấy bìa đậu phụ rán tự hôm kia đã sắp đổi màu vàng ra màu đất.
Bên cửa vào, trên một mảnh ván bám vào tường xếp hàng dài một dãy những chai rượu ti lớn. Trong nhà, một rổ bát ướt rườn rượt đút dưới gậm một chiếc bục, trên có manh chiếu bẩn gài chiếc màn sô cháo lòng.
Đồ ăn, thức đựng, màn, chiếu, tất cả chừng ấy cái đều như phơi dưới ánh sáng hai cây đèn búp măng. Hai chiếc thông phong buồn tình làm việc thâu đêm, thở khói lên ngụt ngụt.
Tôi nghĩ: trong cái hoàn cảnh này, còn có người cầm nổi được bát cơm mà nuốt, lại nuốt trôi một cách ngon miệng, mà nào đồ ăn thức uống có phải ngon lành? Toàn những cái đầu thừa đuôi thẹo mới đến hàng cơm: trứng ung, thịt ôi, cá ươn, gà toi… chó ốm! Đó là chưa kể những món thịt súp ở các hàng cơm Tây họ đã ninh lấy nước, hay những món khoai thừa họ đã bỏ vào nồi nước gạo rồi lại được cái bàn tay của những đứa tham lợi mò lên.
Tôi thấy tôi lợm lòng.
Ngẩng nhìn lên thì bạn tôi vẫn còn sì sụp với bát canh, mà lần này, mặt đã đỏ như vang, coi bộ khoan khoái lắm!
Ăn để sống?
Sống để ăn?

Chương 9: Trong Chiếc Hũ, Một Đêm…

Ngọn đèn xe đu dưới tay bạn tôi như một con đom đóm vật vờ. Trèo qua một con đê cao chừng năm thước ta, chúng tôi đi xuống một cái vực sâu, tối om như một cái mả.
Dãy đèn điện đường Đồn Thủy, không còn trông thấy nữa. Bị dải đê dài che lấp, nó tỏa ra trên đầu chúng tôi một vầng phớt sáng, buồn ghê…
Theo bước chân bạn, tôi cũng bước một, lần đi. Trời không sao. Quanh mình tôi vang rầm những tiếng chẫu chuộc, ĩnh ương, giun, dế.
Bãi Cơ Xá Nam đó!
Cái tổ của một bọn người nghèo khổ. Cái sọt rách chứa đầy rác rưởi dưới chân những dinh thự nguy nga!
Không một ánh sáng. Không một vết xe. Ánh sáng văn minh rọi đến đây đã bị cái tường đất ngăn đi.
Bánh xe tiến hóa lăn đến đây cũng bị dải đê dài cản lại.
Thế mà có một giống đã vượt qua, vào nổi!
Con ma thuốc phiện nó chắp trên lưng hai cái cánh màu hung đỏ đồi mồi. Cô ả phù dung, cái tên đẹp, người ta thường quen gọi.
Thì đêm ấy, tôi đã thấy ả phù dung nằm đấy, trong một gian nhà lá vách xiêu cột vẹo, chật như cái hũ, chứa đến chục người.
Tôi khom lưng xuống, chui qua một khung cửa cao không hơn một thước tây. Bạn tôi trỏ tôi cho anh Tư S., người nằm cạnh cái khay đèn, rồi vừa cởi chiếc áo xanh mặc ngoài vừa nói:
– Đây, người này muốn ngủ đỗ ở đây.
Tôi gật đầu chào, đưa hai đồng xu vừa móc ra khỏi túi.
Người nằm bên khay đèn ngóc cổ giơ tay đỡ lấy, nín thinh, lạnh lẽo, không buồn nói lấy nửa lời.
Anh ta chừng 40 tuổi, xanh mà gầy. Hai mắt trũng sâu, hai cánh tay như ống sậy. Mảnh quần nâu vén lên quá gối để phô ra hai cẳng chân cũng chẳng béo gì hơn hai cánh tay.
Chẳng được một tiếng mời, tôi cũng cứ ghé vào chiếc giường giát anh ta nằm hút thuốc phiện, mà ngồi.
Thử hết một hơi khói dài, người ấy ngồi lên, đưa hai đầu gối lên khỏi mang tai, tháo cái lọ ở chiếc xe ra, phanh ngực, vén tay áo lên đến vai, nạo xái.
Góc đàng này, trên một tấm chiếu manh, mấy người khác, toàn đàn ông, người mặc áo, người cởi trần, đang châu đầu quanh một ngọn đèn bốc khói. Rầm rầm những tiếng: rút! Lật! Bất! Mẹ nó, cha mày.
Họ quây quần nhau đánh bất, đánh đố mười.
Phu xe bóc lột phu xe; gà què ăn quẩn cối!
Một mụ đàn bà ôm con nằm trên chiếc võng khuất trong bóng tối, chốc chốc lại ngoái cổ ra, dài mồm mà hỏi:
– Anh Cá gỗ được, haaay aiii?
Người bạn xe kéo của tôi, lúc ấy cũng đã sa vào đám rút bất rồi. Còn lại một mình với anh Tư, thừa dịp, tôi tỉ tê, hỏi:
– Một ngày, ông hút hết bao nhiêu cả thảy?
Lắp xong chiếc lọ, anh ta ngẩng lên nhìn tôi:
– Bác này, dễ mới đến đây có lẫn này?
– Phải, hôm nay tôi mới đến đây vì có bác xe vừa rồi đưa lại.
– Tôi trông bác như người đã ở Hà Nội lâu thì phải.
– Không, tôi mới ở Thái xuôi được vài buổi nay.
Với chiếc điếu cày dựng ở chân chõng, anh Tư cầm rít một hơi dài. Chẳng để thì giờ cho anh ta xét đoán tôi, tôi lại hỏi:
– Một ngày, ông hút hết bao nhiêu cả thảy?
Nghiêng mình nằm xuống, anh Tư mời tôi cùng nằm chơi. Xọc mũi tiêm vào viên xái hơ lên đèn, anh Tư vừa xọc tiêm vừa nói:
– Hai hào một bữa, một ngày tôi chỉ hút một bữa về đêm thôi. Thuốc ngang hút được nhiều mà bèn xái.
– Hút như thế này thì ông đánh đến xái mấy?
– Xái ba, cũng có khi cả xái tư, chứ xái xảm thì hại mà sức tôi cũng không kéo nổi.
– Hai hào, mỗi tháng ông cũng mất đến sáu, bảy đồng vào đấy.
– Không đến, xái tôi còn nấu lại, mỗi tháng cũng đỡ được vài đồng cân.
– Hút thế này, chắc ông phải nghỉ làm đêm?
– Không, tôi chỉ mua lại xe, kéo đêm. Ban ngày nắng nôi, vất vả lắm.
– Kéo đêm thì còn lúc nào hút được?
– Hai giờ sáng đem xe trả. Tôi cũng vừa về đây trước bác được một lúc. Hút từ giờ đến sáng. Ăn xong, ngủ đến năm giờ chiều, dậy ăn bữa nữa rồi đi làm.
– Tiền thuế, tiền hút, lại tiền ăn; kéo có bảy, tám tiếng đồng hồ, ông kiếm đủ làm sao được?
Tôi hỏi chuyện, anh ta thì vừa hút vừa đáp. Cái vẻ lạnh lẽo lúc này đã mất hẳn. Nghe tôi hỏi câu ấy, anh ta chỉ cười mà không trả lời.
Thấy tôi không hỏi nữa, anh Tư đưa mắt sang bên tôi. Cạnh ngọn đèn thuốc phiện, có lẽ tôi đã lộ một vài phần chân tướng rồi vì lần này, tôi nghe rõ anh ta hỏi:
– Tôi trông người bác không đến nỗi làm cái nghề này thì phải. Bác ra làm xe đã được mấy hôm nay?
Chẳng sợ bị anh ta lột mặt nạ, tôi cứ điềm nhiên, làm ra bộ thật thà, trả lời:
– Phải? Người tôi như thế này, ai bảo tôi đến nỗi phải long đong, vất vả. Ở trên Thái, nhà tôi trước cũng có. Thủa bé, được cha mẹ nuông, tôi chẳng học hành gì cả. Nhớn lên, chơi bời vung phí, rượu chè thuốc xái, cửa nhà sa sút, cha mẹ giận mà từ. Về Hà Nội, tôi định kiếm một nghề. Nhưng chữ nghĩa không có, dở ông dở thằng, chẳng kiếm được nghề gì. Đói, đầu gối phải bò. Người ta bảo tôi đi làm xe. Tôi nghĩ dở dang như tôi, cũng chẳng còn nghề nào khác.
Đám rút bất đã tan. Trời đã gần về sáng.
Trên mấy chiếc giường tre ọp ẹp, hơn mười người xe sát phạt nhau lúc nãy cũng đã nằm lăn ra như chết, làm mồi cho đám muỗi cỏ nó bu lại đầy mình.
Bên chiếc khay đèn khốn nạn, nằm tiêm thuốc cho anh Tư hút, tôi đã thành ra một bạn thân của anh.
Qua những tiếng trẻ khóc, những tiếng ngáy ran của lũ chết giả ở giường bên, chúng tôi vẫn nhỏ to câu tâm sự.
Suốt đêm ấy, tôi không ngủ.
Nhân thấy hỏi về bước đời hơn mười năm trời làm nghề xe kéo, vui chuyện, anh Tư cũng kể cho tôi nghe:
“Đã mười hai năm nay, bấy giờ..”

Tin tức khác...