Tôi Kéo Xe ( chương 1-3)

Tam Lang Vũ Đình Chí

Lời Giới Thiệu:
Thế giới của người nghèo được phơi ra từ cuộc sống vật chất cho đến tinh thần. Dưới ngòi bút hiện thực của Tam Lang, ta thấy những con người này không còn gì để mất! Họ phải bán tâm hồn mình theo thói đời bẩn thỉu, vào những trò cờ bạc, mại dâm, hút xách, trộm cướp… Ở họ chỉ còn lại tấm thân bất cần đời với nỗi ám ảnh cơm áo mưu sinh. Tam Lang cho người đọc thấy rõ kiếp sống khốn khổ của những phu xe – kiếp ngựa người. Nghề kéo xe – cái nghề mạt hạng đang tồn tại trong xã hội lúc bấy giờ. Tác giả cho thấy sự vất vả, nhọc nhằn của phu xe kéo, những “kỹ nghệ” của nghề, những thú vui trụy lạc và con đường biến chất, tha hóa của họ. Xã hội đã đẩy cuộc đời họ vào vũng bùn, lầm đường lạc lối đen tối nhất. Đó là sự suy đồi về lối sống, băng hoại về đạo đức – mối hiểm họa của cả xã hội. Như vậy, Tam Lang đã nói cho mọi người biết nỗi thống khổ của một hạng người. “Ở Hà Nội có tới ngàn rưỡi người chỉ vì bát gạo mà làm cái nghề kéo người. Bất cứ trời rét hay trời nóng, đang mưa như trút nước hay đang nắng như hun trời, đút đầu qua hai cái càng gỗ, anh em phu xe phải thúc tay co vó, chạy bở hơi tai, mình mẩy nhễ nhại mồ hôi, áo quần ướt như dúng nước. Họ khó nhọc như thế để kiếm cái gì! – Năm ba xu, một hào, một cuốc. Vừa đúng số tiền để mua ít cơm đút miệng, cái thứ cơm thổi bằng gạo hẩm trộn với ít nước hàng. Ăn để mà sống, ta không cần nói đến cái ăn! Nhưng sống nào đã được yên?” (Tôi kéo xe – Phóng sự Việt Nam 1932-1945, tập 1).

Đúng vậy, trong xã hội đáng khinh ấy, ngoài đồng tiền, không còn gì hơn thế! Nhân, đức, lễ, nghĩa… không còn nghĩa lý gì. Thực trạng xã hội ấy đi vào trang viết của Tam Lang thật sinh động. Nhà văn – nhà báo này tập trung nêu bật những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi, bức xúc, tìm ra nguyên nhân và đề nghị hướng giải quyết, cải tạo nghề kéo xe. Với Tôi kéo xe, một xã hội thành thị được lột tả qua cây bút mở đầu phóng sự Tam Lang.

Trần Thị Hồng Uyên

Chương 1: Người Đội Lên Đầu Tôi Chiếc Nón Phu Xe Kéo

Ông Bùi Xuân Học – chủ nhiệm Ngọ Báo – một hôm, vỗ vào vai tôi mà bảo:
– Anh có ngòi bút viết văn tả chân khéo, bây giờ đang là mùa các bạn đồng nghiệp của anh đi khắp bốn phương điều tra, phỏng vấn: Albert Londres sang Thượng Hải, Maurice Dekobra đi Hoa Kỳ, Geo London tới miền cương giới Tô-Nga, Louis-Charles Royer đến thành Leningrad Xô Viết…, mà anh thì chỉ lúi húi ở xó nhà với ba bài văn sầu cảm, sao không ném bút đi xem người cho sáng thêm con mắt, có hơn không?
Tôi nghĩ câu nói nửa đùa nửa thật của bạn mà thẹn, thẹn rồi mà buồn, buồn rồi lại nghĩ:
“Thằng em họ mình muốn sang làm ăn bên Cao Mên, xin căn cước đã ba hôm nay mà chưa được chữ; Thượng Hải, Nhiêu Do đều xa hơn Cao Mên cả, mình đi làm sao được, mà đi để làm gì bây giờ?
Phỏng vấn với điều tra, hai việc ấy, không phải chỉ có cái tài viết văn tả chân mà làm nổi.
Xỏ vào hai chân đôi hia đi bảy dặm, đeo lên vai một túi khôn với một túi bạc, cầm trong tay một cái gậy của kẻ vong gia, rồi hãy bàn đến những chuyện đường xa ấy”.
Cái xa chẳng được làm thì mình làm cái gần vậy.
Bắt chước Marise Choisy đổi lấy bộ áo con đòi vào ở thổ, tôi cũng mượn bộ quần áo nâu của một bạn áo ngắn, khoác vào mình rồi mạnh bạo đi làm xe.
Thế là ông Bùi Xuân Học, bạn tôi, một buổi trưa nắng gắt mùa hè, đã đội lên đầu tôi chiếc nón lá phu xe kéo.

Chương 2: Lần Thứ Nhất Giáp Mặt Cai T.

– Ông cho nhà cháu xin chiếc xe.
– Mày ở đâu, tên là gì?
Xoạc rộng cái mồm đầy hai hàm răng cáu bựa như những múi na, anh cai T. (1) nới một lỗ khuy chiếc thắt lưng da to – to ngang chiếc dây lưng đeo cát tút (cartouche) của người đi săn – tráo tợn hỏi như nhổ vào mặt người anh ta coi là lạ.
– Bẩm, cháu ở Thái Nguyên, tên là Tý.
– Thẻ đâu đưa đây xem.
Tôi lấy trong túi chiếc áo nâu cộc, đưa ra một mảnh giấy vàng có triện sứ với dấu in tay, cái mảnh giấy gấp làm tư đã bám ghét với mồ hôi lại rách sờn cả bốn cạnh.
– Mày có quen biết ai ở đây không?
– Thưa ông, cháu ở mạn ngược mới về, không có ai quen biết.
– Thế mày đến đây, thì ai đưa đến?
– Bẩm, xuống bến ô tô, cháu hỏi một người xe cháu gặp. Bác ta trỏ cho cháu đến đây.
– Mày đã “làm xe” lần nào chưa?
– Bẩm, chúng cháu chưa làm bao giờ cả.
Cai T. bỏ thẻ vào chiếc ví ở tấm dây lưng da, quay gọi một người áo cánh nòng nọc quần cháo lòng, bảo đem ra cái đệm với hai chiếc khăn xe, rồi rút ở túi chiếc ngòi chì, đứng viết vào cuốn sổ tay nhỏ hơn bàn tay ếch:
– Từ bây giờ đến ba giờ sáng, phải đem đủ sáu hào thuế về nộp; kéo xe phải đi bên tay phải; gặp ô tô, xe điện thì tránh; đúng giờ phải đem xe về trả, nghe không?
Anh ta lại ném cho tôi một bộ quần áo xanh cũ, rồi trỏ chiếc xe thứ nhất đỗ nối đuôi một dãy bên hè đường:
– Xe số 102 đấy, cái thứ nhất ấy, nghe không? Đấy, ra mà nhận.
Trong một mảnh sân xây tường kín nhưng cửa ra vào thông thống, tôi cũng theo mấy ông bạn cùng nghề mới, vắt qua vai bộ quần áo vải xanh nẹp trắng, cúi đầu vào tường rồi khom lưng xuống, lò cò một chân mà… thay quần.
Cái ngượng rồi nó cũng qua đi, mà ở đây thì nó qua rất nhanh, không đầy trong một chớp mắt.
Nhập vào đội quân quần nẹp trắng, tôi chỉ còn việc cuộn tròn bộ quần nâu cũ lại, ôm lấy chiếc đệm xe với hai mảnh xà vệt, rồi quơ lấy chiếc nón son hắc ín, bước ra khỏi cửa nhà cai xe.
Sau khi đã rung càng, thăm díp, soát đủ áo tơi cánh gà, tôi nắn xem hai bánh cao su thấy hãy còn non hơi quá. Vơ lấy chiếc bàn bơm quẳng gần đó, tôi tháo đầu van ở bánh rồi vít vào ống dây cao su. Chân giẫm lên mảnh ván gỗ cho “bàn bơm” khỏi nhích đi, hai tay nắm chặt lấy tay bơm, tôi cắm cổ rút lên dập xuống một thôi dài, thở hơi hồng hộc như bò để lấy hơi vào ruột lốp.
(1)Xin các bạn đọc cho phép chúng tôi giấu những địa chỉ và tên người để chúng tôi có thể tỏ được rằng: viết những trang ký sự này, chúng tôi không có ý khen hoặc chỉ trích ai, mục đích chỉ muốn phác họa một bức tranh tả cái cảnh sinh hoạt khổ sờ của một hạng người trong xã hội.

Chương 3: Lúc Cầm Hai Cái Tay Gỗ, Bước…

Đưa tay áo gạt ngang những giọt mồ hôi kéo ròng trên trán, tôi ngửi thấy một mùi chuồng ngựa – mà nói như kiểu người ta hay nói, thì là mùi mồ hôi sà vằn. Mùi ấy ở tay chiếc áo xanh tôi vừa mặc, bốc lên; cái mùi mồ hôi của hàng trăm người nó đã ăn chết vào những sợi vải kinh niên thỉnh thoảng mới được giũ giặt một lần, mà có giặt, chắc cũng chỉ là ngã qua vào thùng nước.
Cầm hai cái tay gỗ, ta quen gọi là hai càng xe, tôi bước đi theo bóng chiếc khung chữ nhật. Hai bàn chân rát như phải bỏng, mà con đường nhựa lúc ấy, cứ con mắt người ngồi xe trông xuống thì mát lạnh như đá vì nó vừa được thấy bóng chiếc xe ô-tô đỏ tưới đường.
Bước một, tôi tạt ra đường Bờ Sông.
Cái cảm giác thứ nhất của tôi? Không phải tôi, ai biết?
Nó thật buồn cười lắm!
Tôi thấy tôi như một thằng trần truồng đi ra phố, đang kéo một chiếc xe bò trên có dựng tấm bảng đề rõ tên họ mình và cả tên họ những người thân thuộc của mình. Rồi hai lá nhĩ tai thốt nhiên như rung động vang lên, rồi trên cái xe bò tôi tưởng tượng như tôi đang kéo ở sau lưng, lại thêm có mấy thằng ngồi đánh trống và gõ thanh la như chiếc xe của rạp hát Quảng Lạc đi cổ động.
Phố Bờ Sông, những buổi chiều đổ lửa mùa hè nó có đông đúc gì đâu, mà sao bữa ấy tôi thấy như đông người qua lại lắm. Đông như ngày hội Cát tó vào những giờ súng thần công nổ dồn hai mươd mốt phát, đông như ngày hội đình chiến có cuộc đua xe kéo mà trăm nghìn con mắt đang đổ dồn cả vào một thằng lành nghề người ngựa sắp giựt cái giải nhất hai đồng.
Cái can đảm lúc ở nhà bỏ giày bước chân ra, tôi cố giữ cứng được đến lúc này rồi đành bỏ cho nó đổ sụp ở trong đầu xuống.
Từ đầu đến chân tôi vẫn nóng mà người tôi thấy lạnh, cái lạnh của một anh chàng đang cơn sốt phải lôi vào cởi hết quần áo cho người ta giội nước trong một buồng tắm nhà thương.
Bấy giờ, thật chẳng có người đi đường nào nhìn tôi cả mà tôi cứ nghĩ nhiều người vẫn lỗ mắt nhìn. Thật ra, họ chẳng thèm biết tôi là ai mà tôi cứ nghĩ họ biết rõ tôi, rõ cả họ lẫn tên, lại rõ cả chỗ tôi ở nữa!
– Mình đi điều tra! – Tôi, bụng bảo dạ.
Nhưng bảo thì bảo, đã đi rồi, cái can đảm chẳng còn trở lại nữa; thế là tôi cứ cúi mặt xuống, nghe những tiếng thanh la, não bạt mà đi…

Tin tức khác...