THỊT CHUỘT ĐỒNG

Phùng Nhân

Năm nào cũng vậy hễ tới tháng hai âm lịch vừa nát rạ đồng, thì ở trong làng Lộc Thuận nầy người ta rủ nhau đi đào chuột vậy thôi đông dữ lắm. Nhứt là ở cái xóm Giồng Đùi, đã có mấy tay tứ chiếng uống rượu trừ cơm. Vì thịt chuột là món dễ làm, món nướng, món xào lăn, món quay chảo, món kho xả ăn cơm như thịt gà chớ cũng không có gì khác biệt. Hơn nữa vào tháng nầy đi đào chừng một lát thì cả giỏ giản, hay cả rọng mặc sức mà ăn. Nói tóm lại ở trong cái xã Lộc Thuận huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre nầy, đi bắt cá, bắt cua, soi nhái, ếch, ba khía, đào chuột để kiếm miếng ăn thì chỗ nào cũng có.
Thế là cha con ông Từng Đực (trương tuần), ngày nào chí những ngày nấy. Hễ tới cử trưa thì người ta lại thấy phía sau chỗ cái sân trống của căn nhà lá lửa khói lại bốc lên, đó là những buổi đốt lửa rơm thui chuột đồng rất ư là rôm rả. Nhưng trong thịt chuột coi vậy mà nó có chất phong ngứa ngấm ngầm, người nào không hạp ăn nó vô rồi thì bị ngứa tối ngủ nằm gãi trần thân. Còn người nào hạp, ăn tới trừ cơm luôn thì cũng được. Bởi đó là lộc thực của trời cho, người nào ăn tạp, thì rất dễ nuôi nên sống ở đâu cũng được.
Riêng nhà ông Từng Đực ở cặp triền giồng, nên ông có nuôi được một cặp chó săn giống lai chó Phú Quốc. Con Vện với con Phèn, con nào cũng đánh hơi rất giỏi. Nhờ vậy mà mỗi khi chồn, hay rắn hổ hèo vừa mò về tới thì bị hai con chó nầy nó lại đánh hơi, rồi tụi nó vật đầu sáng ra thì có đồ nhậu thật là sốt dẻo.
Nhưng mấy năm nay cặp dưới con giồng đất của ông Lý Thân, đã bị phá sạch hết rồi, nên chồn cáo cộc, chồn mướp hương với rắn cũng không còn nhiều như lúc trước, nên hai cha con ông mới chịu cực xách cuốc đi vô miệt đất Thôn Tựu để đào, chớ hồi mấy năm trước đây, chỉ cần đi trịt xuống chỗ Giồng Phụng thì đào bao nhiêu mà không có…
Buổi sáng hôm nay như mọi bữa, ông Từng Đực thì chỉ có uống một cử trà. Còn thằng Tửng thì lo ăn cơm nguội, bởi cái tuổi của thằng nhỏ thì phải có chén cơm đắp đầu gối của nó mới xong, chớ còn để đói bụng thì nó đâu có làm chuyện gì cho được.
Ông Từng Đực ngồi nhìn con ăn cơm nguội, nghe cảm thấy buồn lòng. Bởi bao nhiêu sở đất rộng mênh mông, vậy mà một đời tá điền nghèo khổ cũng luôn luôn nhịn đói. Chỉ có những người chủ đất, chủ điền thì họ mới giàu có thì thôi. Họ còn cho con ăn học lên tới “đíp lom”, để sau nầy làm ông nầy bà nọ. Còn mấy người nghèo khổ như ông, chỉ biết đi làm mướn để độ nhựt qua ngày. Tới mùa khô vào tháng nầy thì lo đào chuột mà ăn, còn sa mưa giông xuống thì lo đi soi ếch, soi nhái, soi ba khía, soi cua, soi cá lên đồng để mà độ nhựt.
Nhưng nhờ những chai rượu đế, mà những người nghèo khổ như ông lại quên đi cảnh cơ hàn. Chớ còn nhớ tới thì chỉ có tủi thân, nhiều khi lại sanh ra chứng bịnh mất ngủ. Mà không phải chỉ có một mình ông nghèo đâu, cả xóm nầy cũng đang nghèo như vậy, chỉ có ông Cả, ông Chủ, ông Bồi, ông Bái thì họ mới giàu. Cho nên đã tạo ra ruộng đất không biết bao nhiêu, họ chỉ chờ tới tháng 12 âm lịch, khi lúa gặt xong, chở về tới nhà trâu đạp phơi giê khô, là họ sai gia nhân xách bao bố tời tới nhà thâu lúa ruộng. Đời ông cho tới đời cha, cho đến hôm nay thì tới đời ông Từng Đực cũng không có một sào đất để cấm dùi, mà ông chỉ làm mướn nuôi thân, vì chỉ có một mẫu đất đang làm ở ngòai đầu vàm Cả Muồng năm nào cũng thất. Cho nên nợ mẹ nó đẻ nợ con, ăn trước trả sau không biết bao giờ mới dứt nợ nữa đây, đó là một thứ nợ triền miên mà người nghèo ở đây đang mắc phải!
Từ nơi xóm Giồng Đùi, hai cha con ông đi lần lên tới nhà máy ông Bộ Trăm, rồi cặp theo bờ kinh Cả Muồng đi dài theo vô sở đất của ông Thôn Tựu. Sở dĩ ông phải dắt thằng nhỏ đi xa như vậy, là muốn đào cho nó thật nhiều, đem về rọng lại để dành ăn. Chớ còn ở trong mấy bờ ruộng gần đây, thì mấy đứa nhỏ giữ trâu, tụi nó đào phá hang tối ngày, nên một hang chỉ ở chừng vài ba cặp…
Khi đi vô tới dây đất của ông Hai Lượng, bờ lức, cây muôi, dây cóc kèn, cây bình bát, cây ô rô nó mọc um tùm. Người nào sợ sâu lức cắn ngứa thì họ dạt ra xa, chỉ có ông Từng Đực thì dắt hai con chó săn đi tới…
Quả thật đây là một bờ lức đất gò lâu năm, cho nên giấu chuột cống nhum đi ăn đêm, rồi tụi nó bói mà, đùn đất ra từng đống lớn chớ khôâng phải ít. Nhưng muốn đào chuột cống nhum ở tại chỗ nầy. thì phải là tay lão luyện ở đây. Chớ còn gặp mấy tay mơ đâu biết được hang nào là thiệt, còn hang nào giả mà đào cho được. Bởi ở vùng nầy có 2 loài vật rất khôn ngoan, đó là con cá thòi lòi, với chuột cống nhum lông đen. Tụi nó làm hang gỉa tùm lum, chớ còn hang thiệt cho tụi nó ở phải là một người sống ở đây có kinh nghiệm trần đời mới biết.
Sau một hồi quan sát, ông Từng Đực mới tìm ra được một hang chuột ở dưới gốc trâm bầu. Chẳng những dấu lết mòn lẳng miệng hang, mà cái hang đang chứng tỏ rất là nhiều chuột. Nhưng muốn đào một cái hang chuột nầy cũng không phải dễ, vì cái bờ nái nầy lâu năm, đất người ta đắp bờ đã vun cao lên tới ngực.
Ông Từng Đực quả thật đang tấn thối lưỡng nan, bỏ đi thì rất uổng. Còn đào nó thì làm sao đào cho bứt gốc cây trâm bầu nầy, nên ông ta ngồi xuống móc bì thuốc rê ra. Sau đó vấn chặc một điếu rồi đưa lên môi bập, quả thật trong khói thuốc rê linh nghiệm như thần. Ông ta liền ước lượng từ chỗ miệng hang, phải đào xắn ngách ở chỗ nào để cho phụp xuống. Sau một hồi trầm tư suy nghĩ, ông liền day qua thằng Tửng nói:
– Ê Tửng. Bữa nay hai cha con mình, đào bắt hang chuột nầy cho bà con họ ngán chơi. Bởi đã có nhiều ông đi ngang đây thấy hang chuột nầy thì thèm lắm, nhưng vì mắc gốc cây trâm bầu nầy đâu có ai dám…
Thằng Tửng nhìn ông, hỏi lại:
– Bộ cha tính đào hang chuột nầy thiệt sao, coi chừng lận đai cuốc mà cũng chưa chắc gì đào nổi đó…
Ông Từng Đực mỉm cười, đáp lại:
– Cái thằng. Bộ tao khùng sao mà đào vào cáo gốc trâm bầu nầy. Tao chỉ cần đào chận ngách ở phía trên, khi đào phụp trúng cái hang cái của nó rồi, thì kể như cha con mình phải bắt đầy một rọng…
Thôi mầy lo lấy dao chặt cho trống một khúc bờ nầy, với nhém ngách cho thật kỹ dùm tao. Không chừng cũng có chồn đèn, bới cái dấu chưn nầy, làm cho tao nghi dữ lắm…
Sau khi đi tới đi lui một hồi, thì ông nhìn thằng Tửng nói:
– Ê Tửng. Mầy coi lấy con dao phay đi lại ruồng chặt xả xuống cho sạch bụi trâm bầu nầy đi, rồi coi nhém ngách lại hết đừng để sót cái hang nào nữa hết nghen. Với mầy phạt thêm mấy bụi lác ở phía ngòai, một lát nữa đề phòng coi có con chuột nào chạy ra, để cho con Vện với con Phèn chận đầu vật nó…
Thằng Tửng nầy mới đâu 13 tuổi, vậy mà nó cũng có kinh nghiệm quá trời. Đâu đợi ông già nhắc tới tiếng thứ hai, nó lầm lì lo ruồng sạch một khúc gò, bao nhiêu cây lức, dây buôi buôi nó đều cào tấp xuống nằm dưới chưn ruộng hết. Rồi hễ thấy cái hang nào thì nó bèn lấy cục đất thịt dọng vào, với tuổi nghề đào chuột từ trước tới nay, cho nên thằng nhỏ nầy nhém ngách thì kể như mấy con chuột nầy kể như chết chắc.
Sau một hồi chừng hơn nửa giờ đồng hồ è ạch đào đất đổ lên, thì ông ta đã đào một cuốc phụp xuống chỗ cái hang từ bên bụi trâm bầu dưới mé ruộng trổ lên, thế là ông ta thở phào nhẹ nhõm. Bởi dân đào chuột đồng ông nào cũng vậy, chỉ cần đào trúng một hang cái của nó mà thôi. Tới khi đó thì cứ việc đào vô lần, đào tới đâu thì lấy đất cục nhét vô ém lại, để đề phòng mấy con chuột lứa vọt ra. Vì đó là một cách kinh nghiệm đầy mình, mà người dân sống ở vùng nầy ai cũng biết.
Đào vô thêm một khúc nữa, thì ông ta lại thấy dấu chuột lết mòn như vết xe lăn, thế là bao nhiêu sự mệt mỏi nãy giờ đều tan biến. Ông Từng Đực ngưng tay cuốc, rồi day qua thằng con dặn:
– Ê Tửng. Mầy coi lại phía bờ đất bên kia. Coi có cái nghách nào cũng đều nhém kín hết, đừng hơ hỏng mà nó phóng ra thì mất công toi. Tao tính đào một hang nầy thôi, chắc bắt cũng đầy một rọng…
Hai cha con nhìn nhau cười trong sung sướng. Bởi người nông dân họ đâu có ước vọng cao xa, mà chỉ mong sao được mạnh giỏi, tay làm hàm nhai thì cũng đủ. Từng nhát cuốc bửa xuống bờ đất vang lên tiếng phụp phụp đều đều, nhưng hang chuột áng chừng còn đi rất sâu, vì đào tự nãy giờ rồi mà chưa phụp vô nồi gọ.
Trong lúc sơ ý, ông Từng Đực để một con chuột lứa vọt ra, nên ông biết chắc rằng cũng đào sắp tới nơi nồi gọ. Ông bèn cẩn thận, vừa đào vừa nại lưỡi cuốc lừa đất xuống lấp kín cái hang, để phòng khi tới cái nồi gọ của nó rồi, nếu hơ hỏng thì chuột nái có thể phóng ra, vì thông thường trong loài vật con nào cầm đầu cũng đều khôn lanh hết trọi.
Phải nói ông Từng Đực là một tay lão luyện, lưỡi cuốc ông giơ lên vừa đủ cái tầm, rồi đào xuống vừa phụp cái hang, để cho miệng hang không bị trống. Ông ta còn đang tơ tưởng đến thịt chuột ướp gia vị nướng lửa than, hoặc xào lá cách rồi hú mấy người bạn hiền đến nhậu chơi một bữa. Thì trước mắt ông, là một cái nồi gọ có lòi ra mấy cọng rơm khô, và một cái đầu chuột cống ló ra muốn phóng khỏi miệng hang, ông liền lấy lưỡi cuốc chận xuống rồi bịt lại. Sau đó ông quay qua thằng con, nói:
– Ê Tửng. Mầy đưa cái dao phay cho cha. Tới cái nồi gọ của nó rồi. Tao chỉ cần sở đất cục nhém hang, rồi lùa tụi nó rút xuống hang cùn thì bắt hết.
Quả nhiên như lời ông nói, bao nhiêu bầy chuột lứa và chuột cha, chuột mẹ tụi nó phải rút xuống hang cùn, để chờ đợi giây phút bị bắt bẻ răng, chớ đâu có mong gì chạy thoát. Bởi gặp tay đào chuột thiện nghệ như ông Từng Đực nầy thì dễ dầu gì mà còn sống sót, trong khi đó thì con chó Vện cứ khịt mũi đứng chực hờ. Còn con Phèn thì đứng gần lại đằng sau, cùng với thằng Tửng để phòng khi có còn nào chạy ra đặng vật đầu.
Ông Từng Đực dừng tay lại, nói với thằng con:
– Ê Tửng. Mầy quấn cho tao một điếu thuốc coi, nhớ vấn cho nó chặt một chút. Đừng vấn lỏng quá, rồi khi tao đang nắm đuôi bắt nó, lửa cháy tới làm phỏng cái môi tao mầy biết hông…
Căn dặn đứa con xong, ông ta nghe một nỗi khoan khoái trong lòng. Bao nhiêu sự cực khổ từ sáng tới giờ bèn tiêu tan đi hết. Người nông dân từ trước tới giờ có một thói quen là vậy, hễ làm bao nhiêu chuyện cực khổ trong ngày, khi bập một điếu thuốc thì sẽ tiêu tan, dường như bao nhiêu cực khổ đó, sẽ theo khói thuốc bay lên trời rồi chia ra bốn phương tám hướng. Nên họ rất kính sợ ông trời, hễ năm nào nắng hạn lâu ngày, thì họ sẽ tổ chức một buổi lễ “đảo võ” cầu mưa. Mấy khi đó thì cả làng nhộn nhịp hẳn lên, người ta sẽ mở cửa đình rồi mần heo cúng thí.
Tiếng cầu mưa nghe vang dội một vùng, không biết có động lòng tới trời đất hay không, vậy mà chừng mươi bữa nửa tháng sau ông trời lại mưa ướt đất. Ông Từng Đực lim dim đôi mắt một hồi, rồi ngồi xổm xuống để quan sát cái hang. Sau đó ông đổi lại thế ngồi, để phòng hờ có con chuột nào chạy thóat thân, thì ông thộp đầu bắt lại.
Ông ta bắt đầu cầm con con phay cùn lên sở đất, khi sở tới đâu thì ông ta đùa đất vô lấp lại tới đó. Cho nên bao nhiêu chuột ở trong hang, tụi nó có muốn tìm đường chạy ra cũng không còn cơ hội.
Những con chuột cống nhum, lông đen tuyền như mực, thỉnh thoảng lại chạy qua chạy lại trong cái nồi gọ một hồi. Sau đó thì tụi nó mới chịu phép rút xuống hang cùn, nằm sắp lớp đưa cái đuôi ra ngòai như hộp cá mòi, để chờ ông nắm đầu kéo lên, rồi bẻ răng bỏ vào trong rọng mang về nhà làm mồi nhậu hoặc ăn cơm. Vì đó là một đời sống của nông dân ở trong cái xã Lộc Thuận nầy đã bao đời rồi mà không thay đổi. Có năm vì nghèo túng quá, họ phải rủ nhau đi vô Cà Mau làm mướn vét đìa, hoặc chờ mấy ông chủ đìa cất cá lóc, cá trê vàng, cá sặc rằn đem cân bán cho mấy nhà vựa chở lên Chợ Lớn Sàigòn, còn cá bổi họ bọ lại thì mấy người nầy bắt mót chở về làm mắm để dành ăn trong những ngày khô hạn.
Bởi xã Lộc Thuận huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre, là một xã nước mặn hết 6 tháng rồi, còn lại 6 tháng kia nước ngọt nhờ trời mưa, rồi nước trên thượng nguồn sông Ba Lai chảy xuống. Cho nên phần đông họ đều ăn uống tắm giặt nước giếng đào trêân mấy miếng đất giồng, khi nào mưa già xuống nổi nước mấy dây đất rọc theo triền, hoặc mấy dây đất ở dưới cánh đồng bưng, thì họ lấp lại để lấy đất trồng trọt thêm những lọai hoa màu khác để mà đắp đổi trong cuộc sống.
Ông Từng Đực nhìn thằng con, rồi âu yếm nói:
-Ê Tửng. Mầy tróc con Phèn lại thủ chỗ nầy, để phòng khi có chuột nái phóng lên. Chớ còn bao nhiêu chuột lứa, tao đã dồn tụi nó xuống tới hang cùn rồi đó.
Nói xong một câu dặn dò như vậy, rồi ông ta cầm cây cuốc lên đào tiếp. Bởi đây là một hang chuột cống nhum lâu năm, cái hang cùn của nó cũng phải còn sâu thêm mấy thước nữa. Càng đào vô sâu chừng nào, thì dấu chuột lết mòn lẳng như có thoa mỡ bò, điều đó đã chứng tỏ hang chuột nầy ít lắm thì cũng phải có lứa chị với lứa em, mà lứa nào cũng muốn rã bầy, nên chắc cũng bự bằng cổ tay trở lên chớ không có ít…
Bất thình lình, ở trong hang con chuột nái phóng ra, bị con chó Vện rượt theo chụp được. Nhưng con chó nầy đã từng lão luyện săn chuột săn chồn, nên nó chỉ cắn rồi lấy chân trước đè xuống cho không chạy thoát mà thôi, rồi nó đợi cho thằng Tửng chạy tới bắt bẻ răng bỏ vào trong cái rọng.
Phải nói con chuột nái nầy nó lớn cũng gần cả một kí lô, nên khi bỏ vô giỏ đợi nó tỉnh lại rồi, thì nó khè như con chồn đèn dính bẫy cò ke vậy đó. Ông Từng Đực ngừng tay cuốc, rồi nhìn con Phèn nói:
– Giỏi, giỏi. Một lát nữa về nhà, tao thưởng cho mầy ăn một bữa no nê. Còn để sảy, thì về nhà chiều tao bỏ đói đó biết chưa…
Sau khi nói mấy lời với con chó thân yêu, ông cúi xuống đào tiếp vô hang chuột cống. Thỉnh thoảng cũng có vài con chuột lứa phóng ra, nhưng bị con Vện chụp được rồi đè xuống để chờ thằng Tửng chạy lại bắt…
Sau khi nhém đất cục cho nó dồn xuống hang cùn, tới nước nầy thì một bầy chuột cống cũng đành chịu chết mà thôi, cho dầu có muốn quay đầu lại cũng không còn đường nhúc nhích.
Ông Từng Đực bắt đầu trổ tài bắt chuột, nó dễ như thò tay vô túi lấy tiền. Vì giống chuột khi rút xuống hang cùn, thì tụi nó chịu trận nằm chồng lên nhau không nhúc nhích.
Ông Từng Đực cứ việc nắm đuôi kéo ra, rồi đưa lưỡi dao phay vào bẻ răng nghe cái cắc. Nhưng vào lúc đó, không biết sao có con chuột nái quay đầu lại được chạy ra. Ông Từng Đực giở lưỡi cuốc lên định bữa xuống, thì con chó Phèn đưa bàn chưn trước ra chụp lại. Thế là lưỡi cuốc lại phụp xuống trúng ngay cai cẳng con Phèn, còn con chuột nái chạy xuống mé kính, rồi phóng xuống nước lặn đi mất dạng.
Nhìn con chó Phèn đang kêu la ẳng ẳng, máu dưới chưn lại chảy có vòi. Cho nên ông đâu còn lòng dạ nào để bắt nữa đâu, ông bèn nhấn lưỡi cuốc xuống chận bít kín miệng hang, rồi ôm con Phèn đi lần ra mé rạch khoác nước lên rửa sạch.
Sau một hồi đưa tay xuống móc lên mấy củ lác già, rồi ông khum người xuống vũng nước rửa cho nó sạch bùn. Nhai cho nó giập chất đắng chát chảy ra, rồi ông đắp vào vết thương con Phèn với cử chỉ rất là trìu mến.
Con chó sau một hồi rên rỉ, thì được cầm máu lại rồi. Bởi củ lác là một món thuốc thần dược cầm máu của nông dân, hễ người nào sơ ý cắt cỏ bị lưỡi liềm liếm đứt tay, thì họ móc củ lác lên nhai đắp một hồi thì híp miệng.
Nhưng tiếng rên của con Phèn làm cho hai cha con đau đớn đến tận đáy lòng, nhà nghèo chỉ có hai con chó làm bạn sớm hôm, bây giờ nhìn nó bị thương do ông gây ra tai nạn. Ông nhìn thằng Tửng nói:
– Ê Tửng. Mầy ôm con Phèn lại. Chỉ để con Mực nó đứng canh ở chỗ nầy thôi. Tao chỉ cần bắt thêm ít con nữa thì cũng đủ ăn, còn mấy cái ngách nó ăn thông lại đằng kia, thôi bỏ đó lo ôm con chó đi về nhà băng vết thương nó lại…
Trên đường về tội nghiệp cho thằng Tửng, nó phải ôm con chó lội qua mấy cái mương sâu. Vì sợ để nó tự lội một mình, làm động vết thương máu lại chảy ra thêm nữa. Trong cuộc đời nông dân nghèo khổ, đây là lần đầu tiên ông Từng Đực mới sơ ý làm con chó bị thương. Chớ từ trước tới nay, ông ta là một người cẩn thận.
Sau một hồi tắm rửa nơi thềm giếng, rồi ông ta đi hú mấy người bạn thân ở gần nhà lại, kẻ thì lo ôm rơm đặng thui chuột lột da, còn người thì đi lo xắt xả nạo dừa khô rồi bằm tương ớt. Vì món chuột đồng xào lăn, mà thiếu nước cốt dừa thì kể như không đúng sách. Nhưng bữa nay có một ông bạn già, không biết mới học ở đâu được món cháo chuột bóp gỏi xé phay, nên ông ta lo hăm hở trổ tài để làm món đó. Nhưng cái món cháo chuột đồng nầy nó rất cầu kỳ, nó không giống cháo gà cháo vịt gì đâu. Không thể thả mấy con chuột cống nhum nầy vô trong nồi cháo, mà ông ta sắp tụi nó nằm trêâ một cái vỉ, rồi bắt lên trên nồi cháo chụm lửa như hấp xửng bánh bò. Đợi chừng gần một tiếng đồng hồ sau, khi mấy con chuột cống nhum vừa chín tới, nhìn thấy màu thịt của nó trắng phau thì ông ta mới nhắc xuống. Rồi vớt ra tộ để nguội một hồi, sau đó mới xé ra như thịt gà trộn gỏi với bắp chuối hột, còn nồi cháo nhờ máu chuột và nước thịt của nó nhểu xuống cũng ngọt ngất, tới khi ăn chỉ cần múc ra tô rồi bỏ thêm nhúm hành lá xắt nhỏ. Thế là mấy ông tiên nầy sau khi nhậu một trận lên tận mây xanh, rồi mấy ổng lại có một tô cháo chuột húp vô cho giải cảm.
Qua một hồi tưng bừng tở mở, khói rơm bốc cháy phừng phừng, mấy con chuột cống bị thui cháy hết đám lông, rồi họ lột da chặt đầu rửa sạch. Một tiệc nhậu bắt đầu, ông nào ông nấy chỉ có lo uống chớ đâu có lo ăn, cho nên mấy tô mồi cũng vẫn còn đầy, chỉ có rượu đế thì sai thằng Tửng chạy đi mua về bao nhiêu cũng hết.
Rồi bãi biển lại hóa nương dâu, chỉ có hơn 30 năm sau bây giờ con rạch Cả Muồng không còn nữa. Bởi vào năm 1982 người ta đã đắp đập con rạch Cả Muồng lại rồi, cho nên đất bùn nó bồi bít kín dòng kinh, cả cánh đồng đất Thôn Tựu bây giờ không còn chuột cống nhum hay chuột cơm nầy nữa. Có còn chăng là chuột dừa nhưng cũng chẳng được bao nhiêu, người nào muốn ăn, thì leo lên cây dừa đặt bẫy may ra được vài con thì đủ nướng.
Riêng tôi sau bao năm trời lưu lạc bên xứ Úc Châu, ngày trở về tôi muốn đi tìm lại tuổi thơ của mình đã từng yêu dấu. Nhưng tôi đi tìm hoài mà chẳng thấy nó ở đâu, bởi giờ đây ở nơi đó chẳng còn dấu vết ruộng đồng, mà họ đã thay vào đó là một vườn dừa chạy dài mút mắt.
Những bầy trâu cổ năm xưa hôm nay không còn nữa, mà người dân ở nơi đây họ bắt đầu ăn gạo chợ như ở trên thành. Thỉnh thỏang tôi cũng có gặp vài con bò và mấy con trâu, nhưng đến khi hỏi ra thì mới biết bây giờ họ nuôi để mà bán thịt. Chớ đất ruộng đâu còn mà tính tới chuyện cày bừa, tôi nghe một nỗi buồn trống vắng từ nơi quê cha đất tổ vọng lên, nên nghe trên đôi mắt của mình hơi nằng nặng.
Thôi giã biệt những bầy trâu, những cánh đồng đã một thời nuôi tôi khôn lớn. Bây giờ chỉ còn lại những vườn dừa nhưng không biết của ai. Bởi cái câu châm ngôn “nhứt khoảnh điền trăm năm ngàn chủ”. Có lẽ bây giờ nó đã ứng dụng vào nơi chôn nhau cắt rún của tôi rồi, vì trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời, bây giờ những người như ông Từng Đực năm xưa chắc xương tàn cốt rụi…

Phùng Nhân

Tin tức khác...