Thế giới năm 2100

Huy Lâm

Kể từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, có thể nói trong hầu hết thời gian trên dân số nhân loại tăng rất chậm. Người ta ước tính khoảng 10,000 năm trước Công nguyên, dân số lúc đó chỉ vào khoảng 4 triệu, và sau 10 thiên niên kỷ, dân số toàn thế giới cũng chỉ đạt được 190 triệu người. Thậm chí cho đến đầu thế kỷ 19, tổng số nhân loại vẫn chỉ ở dưới mức 1 tỷ người.
Nhưng sau đó, nhờ những tiến bộ trong y khoa, con người biết sống sạch sẽ hơn, bớt bệnh tật hơn, và việc sản xuất thực phẩm mang lại năng xuất cao hơn nên dân số nhân loại bắt đầu tăng nhanh. Cho đến đầu thế kỷ 20, dân số lúc ấy là 1.65 tỷ người; đến năm 2000, dân số thế giới đã tăng lên hơn 6 tỷ. Và chỉ hai thập niên sau đó, nay dân số toàn cầu đã đạt mức 7.7 tỷ.
Nhưng không bao lâu nữa, ít nhất là nhìn vào bối cảnh lịch sử của nhân loại, dân số trên trái đất sẽ ngưng tăng trưởng. Dựa vào những con số thống kê mới nhất từ Liên Hiệp Quốc, các nhà dân số học phỏng đoán hiện tượng này sẽ xảy ra vào khoảng năm 2100. Đến lúc đó, dân số toàn cầu được phỏng chừng mấp mé ở con số 11 tỷ người.
Thực ra trước đây, nhân loại đã từng được chứng kiến hiện tượng dân số bị giảm sụt, Đó là khi một trận đại dịch hoành hành khắp châu Âu và một phần châu Á vào thế kỷ 14 và đã giết chết khoảng 200 triệu người. Nhưng hiện tượng dân số ngừng tăng trưởng vào lần tới này sẽ rất khác. Lý do dân số giảm trong lần trước là vì nhiều người chết quá, nhưng trong lần tới này là do người ta có ít con hơn, hay nói rõ hơn là người ta không muốn đẻ – hậu quả của lối sống văn minh, cuộc sống được sung túc hơn, đặc biệt là ở những quốc gia nghèo nhưng sau này phát triển khá hơn, và ngày càng có nhiều phụ nữ học hành đỗ đạt cao hơn và quan tâm đến sự nghiệp của họ nhiều hơn là gia đình.
Mặc dù những tiên đoán thường không chính xác lắm, nhưng lời tiên đoán về năm 2100 khi dân số địa cầu đạt tới đỉnh điểm có thể đáng tin là vì các nhà nghiên cứu biết rõ hiện trên thế giới có bao nhiêu người, cũng như tuổi trung bình là bao nhiêu, do đó họ có thể đoán với độ chính xác không sai lệch lắm rằng có bao nhiêu người sẽ đến tuổi sanh con trong vòng một hai thập niên tới, và điều này có nghĩa là họ có thể đoán được có bao nhiêu đứa trẻ mà các bà mẹ tương lai sẽ cho ra đời.
Thậm chí nếu tỷ lệ sinh đẻ trong tương lai có bị chệch đi một chút thì điều này cũng không làm thay đổi điều thực tế rằng trong khoảng 100 năm nữa dân số thế giới sẽ đạt tới đỉnh điểm và có lẽ sẽ chậm lại hoặc không tăng thêm nữa.
Bởi vì một số yếu tố quyết định về dân số trong 80 năm nữa là dựa vào những dữ liệu của hiện tại mà các nhà nghiên cứu có được, nên người ta cũng chỉ có thể dự đoán được sự thay đổi về nhân khẩu một cách khoáng đại thôi rằng cho tới khi dân số trên thế giới không tăng nữa và quân bình trở lại, châu Phi sẽ là lục địa có dân số đông nhất thế giới và Hồi giáo sẽ là tôn giáo có số tín đồ đông nhất thế giới.
Và điều quan trọng nhất, dân số nhân loại sẽ già hơn nhiều so với ngày nay. Các dữ liệu của Liên Hiệp Quốc cho thấy trong khoảng thời gian tám thập niên tới, từ 2020 đến 2100, số người ở độ tuổi 80 hoặc hơn sẽ tăng từ 146 triệu lên tới 881 triệu; cũng trong khoảng thời gian này, tuổi trung bình của con người trên toàn thế giới tính chung sẽ tăng từ 31 lên 42.
Khi dân số của bất kỳ quốc gia nào trở nên già hơn đi như thế thì thường đưa tới một số vấn đề xã hội cho quốc gia đó. Người đi làm sẽ phải nuôi và giúp đỡ số người nghỉ hưu ngày càng đông, ở cả hai bình diện xã hội: trên bình diện quốc gia thì người đi làm phải đóng thuế nhiều hơn để tài trợ cho những chương trình phúc lợi của người về hưu; trên bình diện gia đình thì người già cần nhờ cậy đến sự chăm sóc từ những thành viên trẻ hơn trong gia đình. Nhật Bản vẫn thường được nêu ra làm thí dụ là quốc gia hiện đang gặp phải những vấn đề trên do hậu quả của tỷ lệ sanh đẻ thấp và tuổi thọ cao.
Và khi tình trạng này xảy ra trên bình diện toàn cầu, điều này có nghĩa là một cuộc khủng hoảng chương trình hưu bổng sẽ xảy ra tại nhiều quốc gia ở những mức độ khác nhau và ở vào những thời điểm khác nhau. Khi ấy, những quốc gia này thấy rằng thu hút những di dân trẻ trung, khoẻ mạnh, có khả năng làm việc từ những quốc gia nơi có ít người già sẽ là giải pháp để giải quyết những khó khăn xã hội cho họ. Nhưng những quốc gia kia cũng muốn giữ lại nguồn nhân lực trẻ trung của họ, nên việc thu hút di dân lúc đó sẽ không dễ dàng.
Theo giáo sư Parfait Eloundou-Enyegue, dạy môn xã hội học tại Đại học Cornell, chiều hướng gia tăng dân số trong khoảng thời gian còn lại của thế kỷ này cũng sẽ làm thay đổi cơ cấu của đời sống gia đình. Trong khi tỷ lệ sanh đẻ giảm ở nhiều nơi trên thế giới, số người trong gia đình cũng sẽ bớt đi. Điều này có nghĩa là trẻ con trong nhà sẽ có ít anh chị em hơn, và các bậc cha mẹ có thể đầu tư nhiều hơn và chăm sóc kỹ lưỡng hơn cho mỗi đứa con trong nhà: chúng được gửi tới những trường học khá và nhận được sự giáo dục tốt hơn. Ngoài ra, xã hội cũng sẽ thay đổi theo chiều hướng gia đình trở thành nhỏ đi, riêng biệt chứ không còn mang tính cách đại gia đình nữa. Giáo sư Eloundou-Enyegue đưa ra một ví dụ, như tại châu Phi chẳng hạn, người trong họ hàng thường sống gần với nhau và kết thành một đại gia đình, do đó người ta có thể sống nương tựa lẫn nhau, giúp đỡ nhau khi cần.
Khi một gia đình nhỏ đi sẽ đưa tới những hậu quả tiêu cực về đời sống tinh thần cũng như đời sống kinh tế. Khi người ta không có nhiều bà con họ hàng xung quanh, đời sống của những người đó sẽ thiếu vắng sự gần gũi của người thân và dễ trở nên cô đơn. Hơn nữa không có một gia đình lớn thì gánh nặng về tài chánh sẽ nặng nề hơn, là vì người thân trong gia đình có thể giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, đặc biệt là những khi túng thiếu thì có thể tạm thời mượn của người này một ít, người kia một ít cho qua cơn bỉ cực.
Dựa theo các dữ liệu của Liên Hiệp Quốc, tính theo tỷ lệ dân số thế giới, những người trẻ dưới 25 tuổi ở châu Á sẽ giảm từ 56 xuống còn 37 phần trăm từ nay cho đến năm 2100. Trong khi đó, tỷ lệ những người trẻ của châu Phi sẽ tăng từ 25 lên đến 48 phần trăm. Người trẻ thường là khuôn mặt đại diện cho mảng lớn văn hoá và động lực chính trong sự vận hành của xã hội. Nói thế thì cán cân tiềm năng trong tương lai có thể sẽ nghiêng về lục địa Phi châu.
Và một điều này nữa là chính trái đất chúng ta đang sống cũng sẽ có thay đổi. Do hậu quả dân số tăng quá nhanh trong thế kỷ 20 vừa qua, con người đã gây ra nhiều thiệt hại cho môi trường của trái đất rồi. Cứ thử tưởng tượng dân số sẽ còn tiếp tục tăng cho tới đầu thế kỷ tới thì mức độ thiệt hại sẽ còn tai hại đến ngần nào nếu như con người không biết tự kiểm soát chính mình.
Rất nhiều vấn đề mới nảy sinh, cho dù đó là những vấn đề có liên quan đến môi trường, đến sự thay đổi cấu trúc gia đình hay bất kỳ điều liên quan nào khác cũng sẽ ảnh hưởng đến nhiều quốc gia và nhiều khu vực khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Khi mà tỷ lệ sinh sản hiện nay khá là đa dạng và có sự khác biệt ở từng mỗi khu vực và từng mỗi quốc gia. Do đó đến năm 2100, tình trạng dân số thế giới sẽ khựng lại, nhưng điều này xảy ra từ từ từng bước một, từ quốc gia này đến quốc gia khác chứ không cùng một lúc, và vì vậy rất khó cho nhà cầm quyền của tất cả các quốc gia trên thế giới có thể cùng thống nhất về một chính sách để có những biện pháp giải quyết cho những vấn đề khó khăn chung của thế giới. Thực ra thì trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, con người chưa bao giờ có được sự đồng thuận, và do đó cũng không mấy ai dám mong mỏi thế giới ngay vào lúc này sẽ cùng bắt tay nhau để tìm cách giải quyết những vấn đề tương lai, nhưng ít ra thì nhân loại vẫn còn khoảng thời gian khá dài còn lại của thế kỷ này để chuẩn bị đối phó với những gì đang chờ ở phía trước.
Khoảng giữa thế kỷ 20 khi dân số trên thế giới tăng quá nhanh, nhiều người lo ngại nạn đói sẽ hoành hành, đặc biệt là ở những khu vực nghèo, đông dân. Và quả thật tình trạng đói đã xảy ra trong một thời gian ở một số nơi. Nhưng rồi một nhân vật kỳ tài xuất hiện, đó là Norman Borlaugh, một nhà nông học người Mỹ, được mệnh danh là cha đẻ của cuộc Cách mạng Xanh do tìm ra được những phương pháp canh tác mới đưa tới năng xuất cao mà lại tốn ít thời gian trồng hơn. Nhờ vậy mà việc sản xuất lúa gạo trên thế giới phát triển mạnh và phần nào giúp nhân loại tránh được cái đói do hậu quả của nạn nhân mãn.
Từ đây đến đầu thế kỷ tới có lẽ nhân loại cũng cần có một nhân vật kỳ tài khác xuất hiện để có thể giúp nhân loại vượt qua được một nạn nhân mãn thứ hai.

Huy Lâm

Tin tức khác...