Tháng bảy ngày rằm, xóa tội vong nhân!

Chu Nguyễn

Có những phong tục đẹp, thiêng liêng, phản ánh văn hóa truyền thống của dân tộc ta mà ca dao đã ghi lại và hàng ngàn năm nay người Việt vẫn ghi nhớ. Một trong những lời nhắc nhở mà không mấy ai không khắc sâu trong lòng khi mùa thu về: Tháng bảy ngày rằm, xóa tội vong nhân!
Tháng bảy âm lịch đã tới, ngày rằm đang ở trước mặt chúng ta và chung quanh chúng ta đất trời đổi màu dù phong cảnh có khác nơi quê cũ nhưng phảng phất đâu đây vẫn thấy màu sắc mùa thu, từ sương mù tới lá phong dần dần biến sắc, tiếng chim tu hú ảo não thêm… Đúng là lúc nhiều người nhắc tới sự sống và cái chết, trẻ và già, vấn vương trong đầu hình ảnh cõi dương và cõi âm, như một nhà thơ tiền chiến từng viết:
Xuân đời chưa kịp hưởng, mây mùa thu đã sang!
Cũng là lúc người có tín ngưỡng bảo nhau tiết Vu lan bồn đã tới và nhiều người chuẩn bị cúng rằm tháng bảy.
Tại sao lại có tiết Vu lan bồn và ý nghĩa của ngày này ra sao?
Theo “Từ điển Phật học” của ban biên dịch Đạo uyển giải thích: nó có gốc phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana, dịch nghĩa là “Cứu đảo huyền” tức là “cứu nạn treo ngược”, tức là “cứu” những oan hồn bị treo ngược dưới địa ngục. Nói rõ hơn đó là một lễ hội cúng các cô hồn, ngạ quỷ ngày rằm tháng bảy. Trong ngày này các quỷ đói dưới địa ngục được cúng dường thức ăn, bánh trái, giấy tiền vàng bạc, quần áo…để họ được giảm khổ đau. Nguồn gốc của lễ này xuất phát từ Mục-Kiền-Liên. Tôn giả nhờ Thiên nhãn thông, thấy được mẹ mình tái sinh làm ngạ quỷdưới địa ngục và đau xót muốn cứu bà. Đức Phật bảo chỉ có sự hỗ trợ của toàn thể tì khâu trong tăng già mới giảm đau cho họ được. Từ đấy xuất phát ra truyền thống cúng ngày rằm tháng bảy, nhằm ngày chư tăng làm lễ tự tứ sau ba tháng an cư, và người ta tin rằng, lễ cúng này giải thoát được khổ đau cho thân quyến bảy đời trước của người cúng…”
Niềm tin cần “xóa tội vong nhân” đã có từ xưa, gắn liền với Phật giáo Việt Nam. Đại thi hào Nguyễn Du vào đầu thế kỷ 19, đã xúc động trước cảnh tiết tháng bảy, liên tưởng tới oan còn luẩn quẩn nơi âm cảnh hay cõi hồng trần chưa được siêu thoát, mà mực mài nước mắt viết nên bài văn Văn tế thập loại chúng sinh nổi tiếng. Nhà thơ vĩ đại của chúng ta, không phải chỉ mô tả khách quan oan hồn lang thang trong khung cảnh tàn tạ của đất trời, mà kể lể và than thở, vừa cảm thông vừa thương xót, nỗi phiêu bạt của những mảnh hồn xấu số chưa được giải thoát khỏi cõi trầm luân trong nhưng câu đầy cảm thán sau đây:
Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô,
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Ngọn đường lê lác đác sương sa,
Lòng nào là chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.
Hương khói đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,
Còn chi ai quí ai hèn,
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi,
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương

Đã hai chục năm bước vào tân thế kỷ, hẳn có nhiều người không tin vào hồn ma và phủ nhận ý nghĩa những bài văn tế chiêu hồn tử sĩ. Lý lẽ của các nhà duy vật đưa ra là tin vào hồn ma là mê tín, dị đoan, là phản khoa học, chỉ có hại không có lợi. Nghĩ cho kỹ, dựa vào hiểu biết khoa học thực nghiệm còn thô sơ để phủ nhận một sự kiện thuộc tâm linh cao siêu mới là phản khoa học đích thực!
Nên biết khoa học thực nghiệm chỉ có đối tượng vật chất mà nhiều khi trong phạm vi của mình mà còn vấp phải những điều bất khả tri, những câu hỏi không thể giải đáp, huống chi sang lãnh vực tâm linh! Đối tượng mang tính siêu hình vượt khỏi lãnh vực vật chất thì làm sao khoa học vươn tới được. Đừng quên lãnh vực không phải vật chất (ta meta ta physika biblia) chỉ có niềm tin và nội tỉnh mới có thể phần nào vươn tới.
Tin vào sự tồn tại của linh hồn có nhiều mặt hữu ích. Từ nó nảy sinh đạo hiếu. Lòng yêu nước bắt nguồn từ tín ngưỡng tin có “hồn thiêng sông núi”, nên kẻ tin có linh hồn thường tìm dịp bày tỏ lòng sùng kình tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã vì nước quên thân bảo vệ giang sơn nòi Việt.
Do đó khi đọc những câu văn tế của Nguyển đình Chiểu trong điếu văn thương xót những người dân, những chiến sĩ đã dùng tấm thân ngăn chặn thực dân Pháp khi chúng xâm chiếm Lục tỉnh Nam Kỳ ai mà chẳng động lòng bi phẫn:
Sống thời chịu nắng sương trời một góc, khó đem sừng ngựa hẹn quy kỳ;
Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng, khôn mượn thư nhàn đưa tin tức.
Thấp thoáng hồn hoa phách quế, lòng cố hương gửi lại bóng trăng thu;
Bơ vơ nước quỷ non ma, hơi âm sát về theo luồng gió bấc…
Trời Gia Định ngày chiều rạng ráng, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ;
Đất Biên Hoà đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn trời hiu hắt.
An Hà quận đang khi bạch trú, gió cây vụt thổi cát xoáy bay con trốt dậy bên thành;
Long Tường Giang mỗi lúc hoàng hôn, khói nước sông mù, lửa huỳnh nháng binh ma chèo dưới vực.
Nhìn mấy chặng cờ lau trống sấm, mỉa mai trận nghĩa gửi binh tình;
Thảm đòi ngàn ngựa gió xe mây, mường tượng vong linh về chiến luật.
Thôi!
Người lạc phách theo miền giang hải, cung ngao lầu thần, dành một câu thân thế phù trầm;
Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, luỹ kiến đồn ong, còn bốn chữ “âm dung phảng phất”.
Tin vào hồn ma còn là nguồn thi hứng cho văn chương nghệ thuật. Bồ tùng linh viết Liêu trai, Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ…ca tụng gái Liêu trai, Đinh Hùng với Kỳ nữ, Thế Lữ sáng tác tiểu thuyết Trại Bồ tùng linh…để lại cho đời những tác phẩm vô giá.
Bảo rằng tin vào hồn ma là mê tín dị đoan là oan uổng. Sự thực mê tín dị đoan phải kể những thủ tục khai thác nguồn tin vào hồn ma để bày vẽ lễ nghi để trục lợi và hại tiền của tín đồ mới là trò mê tin dị đoan đáng chỉ trích và bài trừ.
Để kết thúc bài này, chúng ta có thể đọc lại một phân tích hữu lý về cái lợi của niềm tin vào hồn ma sau đây của một ký giả thụ hưởng một nên giáo dục hoàn toàn Tây học:
Tok Thompson của đài BBC, trong một bài đăng tải vào tháng 10, 2018, đã đưa ra lời khuyên hữu lý: Tại sao chúng ta phải tin vào ma quỷ? (Why we should believe in ghosts) với phân tích chứng minh rằng tin vào ma quỷ con ngưởi có thể sống đạo đức hơn.
Nhân lễ Halloween ở Âu Mỹ, Thompson trình bày qua lược sử nguồn tin vào hồn ma ở một số quốc gia và đưa tới kết luận, tin vào hồn ma có thể giúp con người cải tà quý chính, sống đạo đức hơn. Nhà báo trình bày:
“Nguồn gốc của lễ Halloween ngày nay quay ngược về lễ ‘samhain’. Đó là dịp lễ của dân Celtic, nhằm đón chào sự khởi đầu của phần đen tối, hắc án của một năm. Người ta tin rằng đó là khoảng thời gian mà thế giới của người sống và của người chết giao thoa, lúc con người với ma quỷ rất thường xảy ra các cuộc gặp gỡ.
Vào năm 601 sau Công nguyên, trong nỗ lực cải đạo người dân Bắc Âu sang Thiên chúa giáo, Giáo hoàng Gregory Đệ nhất ra lệnh cho các nhà truyền giáo chớ ngưng những buổi lễ mà họ cho là tà giáo ngoại đạo. Thay vào đó, Giáo hoàng muốn chúng thành ngày lễ Thiên chúa giáo.
Theo đó, dần dần theo thời gian, ngày lễ ‘samhain’ trở thành Ngày Các Linh hồn và Ngày Các Thánh, là lúc việc nói chuyện với người chết được xem là đúng với giáo lý.
Ngày Các Thánh trong tiếng Anh cũng còn được gọi là All Hallows’ Day và đêm trước ngày lễ đó do vậy được gọi là All Hallows’ Evening (Đêm Các Thánh) hay Hallowe’en.
Niềm tin ngoại đạo này về linh hồn của người chết không những đã tiếp tục được duy trì mà còn trở thành một phần của nhiều nghi thức lúc đầu ở nhà thờ.
Bản thân Giáo hoàng Gregory Đệ nhất cũng cho rằng những ai thấy hồn ma thì nên cầu nguyện cho chúng. Theo quan niệm này thì người chết có thể cần sự trợ giúp của người sống để được lên Thiên đường.
Trong thời Trung Cổ, các niềm tin về linh hồn được gắn vào sự chuộc tội, dẫn việc ngày càng tăng tình trạng bán xá tội cho nhà thờ – tức là các tín đồ nộp tiền cho nhà thờ để giảm hình phạt cho các tội lỗi của họ.
Niềm tin phổ biến về hồn ma khiến việc thu tiền xá tội trở thành một hoạt động béo bở của các nhà thờ.
Chính những niềm tin như thế đã dẫn đến phong trào Cải cách, tức là sự phân chia Thiên chúa giáo ra thành Công giáo và Tin Lành do nhà giáo lý người Đức Martin Luther chủ xướng.
Thật vậy, 95 Luận đề của Luther, vốn được đóng đinh lên cánhTuy nhiên, các cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn quanh sự tồn tại của hồn ma, và con người ngày càng tìm đến khoa học để tìm lời giải đáp cho vấn đề này.
Cho đến thế kỷ 19, Chủ thuyết Tâm linh, một phong trào mới vốn cho rằng người chết có thể nói chuyện với người sống, đã nhanh chóng trở thành học thuyết chính thống, và được thể hiện qua những hình thức phổ biến như gọi hồn, cầu cơ, chụp ảnh hồn ma và những điều đại loại thế.
Những niềm tin về hồn ma không chỉ có trong thế giới Thiên chúa giáo. Mặc dù không phải tất cả, nhưng hầu hết các xã hội đều có khái niệm về ‘hồn ma’. Ở Đài Loan chẳng hạn, khoảng 90% người dân ở đây nói rằng họ đã từng thấy ma.
Cùng với nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Quốc và Việt Nam, Đài Loan cũng có Tháng Cô hồn, trong đó có một ngày Cô hồn, là lúc mà người ta tin rằng các hồn ma được thả khỏi địa ngục và lai vãng trên dương thế.
Những niềm tin này thường được gắn với một sự tích trong Phật giáo được ghi lại trong Kinh Vu Lan Bồn kể về việc Đức Phật giảng giải cho Tôn giả Mục Kiền Liên cách cứu độ cho thân mẫu khi ông nhìn thấy mẹ mình phải khốn khổ tiều tụy trong thân hình ‘quỷ đói’.
Cũng giống như quan niệm ở nhiều nước khác, hồn ma ở Đài Loan được phân ra thành loại ‘lành’ và ‘dữ’. Ma lành thường là hồn mà của tổ tiên, của người trong gia đình, và được rước đón vào nhà trong dịp Lễ Cô hồn. Ma dữ là những hồn ma giận dữ hoặc ‘đói khát’, đeo bám người sống. Là một học giả chuyên nghiên cứu về các truyền thuyết tại Đại học Nam California vốn từng nghiên cứu và giảng dạy về các truyện ma trong nhiều năm, tôi thấy rằng hồn ma nhìn chung đi ‘săn lùng’ là vì những lý do chính đáng. Có thể là bởi các vụ giết người chưa được làm sáng tỏ, bởi việc chưa được tổ chức tang lễ tươm tất, là một vụ buộc phải quyên sinh, là từ các thảm kịch lẽ ra đã có thể tránh được, và vì những đổ vỡ về mặt đạo đức.
Hồn ma trong những trường hợp này thường muốn chui ra khỏi mộ huyệt để đi đòi công lý. Chúng có thể ra yêu sách với các cá nhân, hoặc với toàn xã hội. Ví dụ như tại Mỹ, đã có những trình báo về việc nhìn thấy nô lệ người Mỹ gốc Phi và thổ dân Mỹ bản địa.
Học giả Elizabeth Tucker từ Đại học bang Binghamton ở New York, đã ghi chi tiết về nhiều vụ trình báo những gì được nhìn thấy trong khuôn viên trường, mà thường là gắn với các khía cạnh nhớp nhúa đáng buồn từng xảy ra trong quá khứ tại khu học xá này.
Theo cách này thì các hồn ma cho thấy mặt tối của đạo đức.
Những lần xuất hiện của chúng thường là lời nhắc nhở rằng đạo đức và luân lý là những vấn đề vượt qua kiếp hiện sinh của chúng ta và rằng những lỗ hổng về đạo đức có thể đem đến gánh nặng rất nặng nề về tâm linh( in this way, ghosts reveal the shadow side of ethics. Their sightings are often a reminder that ethics and morality transcend our lives and that ethical lapses can carry a heavy spiritual burden.)
Tuy nhiên, những câu chuyện ma cũng đem đến hy vọng.
Do chúng cho thấy có sự sống sau khi chết, chúng tạo ra cơ hội cho chúng ta tiếp xúc với những người đã mất và do đó là cơ hội để cứu vớt – một cách để chuộc lại những sai lầm trong quá khứ.
Mùa Halloween đến, bên cạnh những tiếng la hét và trò diễn, có lẽ bạn nên dành một vài phút để trân trọng vai trò của hồn ma trong quá khứ bị ám ảnh của chúng ta và bằng cách nào mà chúng dẫn dắt chúng ta có một đời sống đạo đức và luân lý.”
Chu Nguyễn

Tin tức khác...