Tên Của Gã Đấu Bò

Lời người dịch: Luis Sepúlveda sinh năm 1949 ở Chile. Ông tham gia những hoạt động chính trị và nhiều lần ông bị kết án tù – trong đó có một lần bị án chung thân – và lần nào cũng được sự can thiệp của tổ chức Ân Xá Quốc Tế để giảm án. Ông sống lưu vong ở Đức Quốc từ năm 1975 và là tác giả của nhiều tiểu thuyết trong đó The Old Man Who read Love Stories (Un viejo que leía novelas de amor) được trao giải Tigre Juan dành cho những tác phẩm đầu tay hoặc tác phẩm chưa xuất bản viết bằng tiếng Tây Ban Nha.

Trong số báo này, chúng tôi gửi tới độc giả phần đầu của chương thứ ba tiểu thuyết “The Name of the Bullfighter” mang tựa đề: “Hamburg: Happy Birthday!” Nhân vật chính là Juan Belmonte, một người từng tham gia chiến tranh du kích ở Nam Mỹ, hiện sống lưu vong và làm nhân viên bảo vệ cho một hộp đêm ở Hamburg. Hoàng Chính dịch từ bản Anh ngữ của Susanne Ruta. Harcourt Brace & Comppany xuất bản năm 1994. ISBN 0-15-600548-4.

Cái lạnh đánh thức tôi dậy đêm tháng Hai ấy. Tôi phóng ra khỏi giường. Hơi thở tôi phả thành một đám mây hơi nước. Việc đầu tiên phải làm là xem cửa sổ có đóng kín không. Rồi kiểm soát bộ phận điều nhiệt. Nó được chỉnh ở nhiệt độ cao nhất, nhưng những ống tản nhiệt thì lạnh hệt như nền nhà. Tôi đang sắp sửa điện thoại cho người gác dan thì nghe tiếng gõ cửa.

Tôi mở cửa. Một gã đàn ông nhỏ thó đội chiếc mũ trượt tuyết kéo sát lông mày ôm một lô dụng cụ vừa liến thoáng một hỗn hợp tiếng Đức, tiếng Anh, vừa quơ tay giải thích cho tôi.
“Xin lỗi, tôi không hiểu anh nói gì hết,” tôi nói.
“Không, heat, ông hiểu không?”
Tôi tránh ra cho anh ta bước vào. Anh ta đi thẳng đến chỗ dàn ống tản nhiệt, khom lưng tháo một con ốc. Dầu nhớt bắt đầu nhỏ giọt. Anh ta điều chỉnh con ốc, mò mẫm những ống tản nhiệt, lắc đầu, mở máy bộ đàm và nói bằng thứ tiếng Chile cổ điển.
“Thằng ngốc, làm hư chuyện hết trơn. Tao đã nói với mày rồi. Hở? Cái gì? Mày muốn tao đến từng phòng để giải thích cho người ta à? Chúng nó không hiểu tao nói gì, thằng khốn. Dẹp!”
Gã lùn còn áp cái ống nghe vào tai một lúc lâu, nhưng rõ ràng là cái người ở đầu kia đã cúp điện thoại.
“Anh là người Chile à?” tôi hỏi.
Gã lùn gật đầu. Gã vẫn đang chờ câu trả lời từ đầu dây kia.
“Máy sưởi bị gì vậy? Đang giữa mùa đông thế này…”
“Dường như ống nước bị đóng băng. Vấn đề là tụi tôi không biết khúc nào. Tụi tôi sẽ phải tháo rời bộ tản nhiệt ở tất cả mọi căn hộ. Thật là phiền phức, xếp ạ.”
“Vậy anh có thể bắt đầu từ phòng tôi. Tôi phải ra ngoài một lúc.”
“Đâu có dễ như vậy. Chúng tôi phải chờ nhà thầu. Chắc là lâu lắm.”
“Trong khi chờ đợi thì chúng tôi biết làm gì đây? Anh đâu có thể bỏ mặc tôi chết cóng.”
“Đừng lo. Ông cứ để chìa khóa cửa cho tôi, nhưng trước tiên ông phải ký giấy này, cho phép chúng tôi vào căn hộ của ông. Tôi có đem theo giấy đây.”
Gã lùn đưa tôi mẫu đơn. Tôi điền vào đó, đành chịu thua nỗi ám ảnh của dân Đức về chuyện thích sưu tra lý lịch. Tôi ký và đưa tờ giấy lại cho gã, cùng với chìa khóa phụ của căn hộ.
“Được rồi. Bây giờ tôi đi báo cho mấy người khác. Ông không có gì phải lo hết, khi ông về là đã có heat rồi,” gã nói và quay lưng bước đi.
“Tôi cũng mong như thế. Tôi không có đủ lông đủ cánh như con chim cánh cụt.”
Trong nhà tắm tôi nhận ra là nước nóng cũng không có. Tôi đành cạo râu khô, khỏi rửa mặt và nghe tiếng gõ cửa. Tôi mở. Vẫn gã lùn. Gã cầm tờ giấy tôi ký tên ban nãy trong tay và cười toe toét.
“Chúc mừng sinh nhật!”
“Hở? Cái gì?”
“Hôm nay sinh nhật ông. Nhìn này, ông ghi ngày tháng năm sinh ở đây. Chúc mừng sinh nhật!”
Bốn mươi tư. Đúng là họa vô đơn chí. Tên mắc dịch tự nhiên lại nhắc người ta làm gì không biết. Ngồi trong nhà vệ sinh tôi quyết định chẳng việc gì phải nghĩ ngợi lôi thôi. Bốn mươi tư. Ở một kẻ như tôi sự khác biệt duy nhất về chuyện đến cái tuổi ấy, chỉ là: mình đã sống chừng ấy năm. Chúc mừng sinh nhật. Tôi đốt điếu thuốc đầu tiên trong ngày và nhìn chồng sách nằm trên bệ cửa sổ. Đó là nơi tôi giữ những tác phẩm của Paco Taibo, Jürgen Alberts, Daniel Chavarría. Tôi thích đọc họ lúc ngồi trong cầu, nhâm nhi từng chút một vị ngọt không thể chối cãi của sự trả thù. Trong những cuốn sách của họ có những nhân vật giống tôi, những gã đứng về phe tôi, luôn thua thiệt, nhưng họ luôn luôn biết một cách chính xác vì sao, như thể tham vọng chính của họ trong cuộc sống là công thức hóa một khuôn mẫu nghệ thuật cho hình thức đương đại nhất của nghệ thuật: nghệ thuật thua sút một cách ngoạn mục.
Cái lạnh đẩy tôi ra khỏi căn hộ. Trong lúc vặn hai lần khóa cửa, tôi cảm thấy đau nhói ở phía dưới lưng. Tôi tự hỏi phải chăng cơ thể tôi bỗng dưng nhận ra được là tôi đã bốn mươi tư tuổi. Tôi xuống cầu thang. Xuống tới lầu hai tôi đụng đầu cặp vợ chồng láng giềng đi chợ về đang xách đồ lên. Những con người kỳ quặc, luôn có khuynh hướng đổ mọi thứ lỗi lầm cho Đế Quốc Ottoman. Gã đàn ông có thói quen gửi thư cho người gác dan. Dù tôi làm gì đi nữa, hắn cũng viết thư than phiền rằng những thói quen mang sắc thái Thổ Nhĩ Kỳ của tôi làm gã khó chịu. Nếu tôi vặn nhỏ máy, nghe nhạc tango, gã càu nhàu về những kinh kệ Hồi Giáo ồn ào tôi gây ra; nếu tôi mở đĩa nhạc salsa, gã sẽ nhắm vào những khuôn mẫu luân lý đáng ngờ vực của một thanh niên Thổ sống không vợ con. Tôi nói chào buổi tối với họ. Tôi chẳng cần họ đáp lời. Gã đàn ông đáp lời tôi bằng tiếng hầm hừ, chứng tỏ gã không điếc, còn vợ gã thì không trả lời, bởi chị ta đang bận hét mấy đứa con có lên nhà con mẹ chúng bay mau lên không. Trên đường đi xuống, tôi đụng đầu bọn trẻ con, đứa nào cũng nhìn tôi bằng con mắt ngờ vực.
“Thế nào, mấy nhóc con?”
“Tụi tôi không phải nhóc con, ông cà chớn,” một đứa trả lời.
“Làm sao mày biết?”
“Bởi vì bố mẹ tôi vẫn bảo lo học hành đi không thôi lớn lên thành giống như ông, một lão Thổ Nhĩ Kỳ ngủ tới năm giờ chiều mới thức,” đứa khác giải thích.
“Hát cho tao một bài coi. Hôm nay sinh nhật tao.”
“Dân ngoại quốc không có sinh nhật,” đứa thứ nhất bảo tôi, và nó chỉ mới nói được chừng đó thì giọng nói đáng yêu của mẹ nó vọng xuống, dọa sẽ cho nó ốm đòn.
Đêm. Ngoài đường phố, cái lạnh tháng Hai khiến người ta co dúm lại, như thể đang khom lưng tìm kiếm thứ gì dưới đất. Tôi bẻ thẳng cổ áo lên, đút hai tay vào túi, và bước đi. Mãi đến cuối tháng Ba chúng tôi mới sẽ thấy lại ánh nắng, nhưng điều đó chẳng việc gì phải thở than. Khi mùa hè đến ánh nắng kéo dài như vô tận, tôi sẽ khao khát thứ bóng đêm luôn nhuộm tất cả những con mèo một màu xám an toàn.
Cũng giống như mọi buổi tối, một dòng nước tiểu chảy xuống những bậc cầu thang trạm xe điện ngầm. Tránh những vũng nước, tôi đi đến quầy máy bán vé. Như thông lệ, chỉ một trong năm máy hoạt động, và cũng như thông lệ, cạnh những máy bán vé là một bọn say rượu nhộn nhạo cố gắng uống cạn một két bia trong thời gian kỷ lục. Tôi nhét tiền vào máy.
“Ê. Người ta cho phép những con heo dơ dáy đi xe điện ngầm từ hồi nào vậy?” một đứa trong bọn buột miệng.
“Về lại Anatolia đi thằng Mustafa,” đứa khác gầm gừ.
Giờ này mới gần sáu giờ tối, nhưng dường như ngày mới của tôi đã bắt đầu suông sẻ. Máy sưởi không hoạt động, bị hai đứa nhóc con chế nhạo, và bây giờ là lũ nhãi ranh đầy mùi nước tiểu này. Một trong những lợi thế của việc sống ở Hamburg là bạn có nhiều cơ hội để vận động thể chất. Một tên Quốc Xã cũng giống một cái bao cát tập võ biết nói, luôn cầu xin để được ăn cái tát, mặc dầu một đám trí thức giả danh yêu chuộng hòa bình đã cố thuyết phục tôi rằng đây chỉ là một lũ say, không nên bị coi là bọn Quốc Xã, nhưng là những nạn nhân bị cơ chế xua đuổi, không cho phép hội nhập vào xã hội của người tiêu thụ. Như thể chủ nghĩa Quốc Xã không là thứ rác rưởi đã băng hoại.
“Mày có đi cho khuất mắt hay không, cái thằng đen đúa dơ dáy kia?” một đứa khác lên tiếng.
Vâng, quả đúng là chưa đến sáu giờ tối mà ngày của tôi đã bắt đầu một cách suông sẻ. Chúc mừng sinh nhật, tôi nói cho mình nghe, và vung chân trái đá bay cái két đựng những lon bia.
Đám nhãi ranh thụt lùi một khoảng xa an toàn và tiếp tục sỉ nhục tôi, trong lúc tôi đạp lên những lon bia của chúng. Chúc mừng sinh nhật, tôi thầm nói, hòa nhịp với động tác phá phách sau cùng. Rồi tôi đi về phía sân ga, đôi giầy dính đầy bọt bia.
Xe điện đầy những hành khách im lặng. Vài người liếc nhìn tôi, với cái vẻ bất bình lộ liễu, quen thuộc, và quay về việc học mẫu tự tiếng Đức từ cuốn tạp chí Bild. Những khách đồng hành trong chuyến đi ngắn ngủi thường nhật của tôi, đoạn đường có năm trạm ngừng. Có lẽ mỗi tối mỗi khác, nhưng với tôi thì họ giống hệt nhau. Mệt mỏi sau tám giờ làm việc trong hãng xưởng hay văn phòng, không còn năng lực hay ham muốn để ngồi xuống trong một quán cà phê ấm áp và quyết định sẽ tiêu xài những giờ khắc gặt hái khó khăn thứ lạc thú ngọt ngào bằng cách nào.
Thu gọn vào chính mình, ừng ực lon bia ấm, họ đi thẳng về những căn hộ im ắng của họ, lát bánh mì và miếng dưa leo muối lặng câm cùng với lát ba-tê gan, và đôi dép không vừa bàn chân, để bảo vệ thảm lót nhà. Họ uống một lon bia và thêm một lon nữa, rồi thêm nữa, ngồi trước máy truyền hình vặn âm thanh thật nhỏ, để nghe xem nhà hàng xóm trên lầu có tôn trọng luật lệ điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe không.
Một hành khách bước tới mẫu quảng cáo Trao Đổi Lao Động. Anh ta đọc, móc túi lấy cây bút chì, và ghi chú phía sau cuốn tạp chí. Tôi cũng nhìn mẫu quảng cáo. Nó ca ngợi việc huấn luyện tay nghề. “Không bao giờ quá muộn để học hỏi.”
Một gã đàn ông như tôi học được cái gì ở tuổi bốn mươi tư?
Tôi có việc làm và tôi phải bám cứng lấy nó, bởi, trừ khi tôi muốn khuân vác chuối đông lạnh ở bến tàu, niềm hy vọng tìm được việc làm nào khác của tôi không mấy khả quan. Một gã đàn ông như tôi thì thích hợp với công việc nào bây giờ? Bố khỉ, một tay cựu-du-kích-bốn-mươi-tư-tuổi. Sở Phân Phối Lao Động Hamburg sẽ nhìn bằng con mắt không mấy thiện cảm vào đơn xin học nghề của tôi nếu như, sau câu hỏi “Bạn làm được công việc gì?” tôi trả lời: tình báo, phản gián, phá hoại và những lãnh vực liên quan, làm giấy tờ giả, chế tạo chất nổ tại gia, lũng đoạn nội tình phe địch.
Việc làm của tôi cho phép tôi ngủ suốt buổi sáng. Khi thức dậy, tôi bỏ ra vài tiếng đồng hồ ngồi trong bồn tắm hay trên bồn cầu, đọc tiểu thuyết trinh thám. Đêm xuống, tôi giữ vai trò kín đáo của một gã bảo vệ ở Regina, một trong những hộp đêm cuối cùng ở Grosse Freiheit, trên đường Great Freedom.
Công việc chẳng nặng nề và cũng không đòi hỏi đầu óc thông thái. Mấy ông già bị rạo rực bởi một cặp vú và tìm cách trèo lên sân khấu để xem những kỳ tích kia làm bằng silicon hay da thịt thứ thiệt của phụ nữ. Tôi có bổn phận nhắc nhở những đứa con nít già đầu ấy cư xử tử tế. Và tôi cũng có bổn phận giải thích cho những tay chuyên môn lý sự trong những phòng khiêu vũ riêng tư rằng những cô gái chuyên chém đẹp của chúng tôi không cho bớt giá. Thỉnh thoảng một tay keo kiệt nào đó tìm cách chôm chĩa quần lót của những vũ nữ khỏa thân mà không chịu trả tiền sòng phẳng, tôi phải tống một cú đấm vào mặt gã. Làm một tay sừng sỏ trong động điếm cũng không tệ. Tôi quyết định là mình có thể dẹp những gợi ý của Sở Trao Đổi Lao Động qua một bên.
Khi tôi ra khỏi xe điện ngầm, trời lạnh buốt xương. Những cô gái điếm đầu tiên của buổi tối , trùm kín người như những phi hành gia, đang thong thả dạo bước trên lề đường phía đối diện với tổng hành dinh cảnh sát Davidstrasse. Xoa hai tay vào nhau, tôi bước vào Zelma’s Imbiss. Giây phút tôi mở cánh cửa quán, hơi nóng nồng nặc và mùi thịt xâu nướng, mỡ nhỏ giọt khiến tôi muốn có ngay một tiệc mừng sinh nhật đáng nhớ. Zelma, mập thù lù như cái thùng phi, đang dọn hai phần ăn món ớt xanh nhồi thịt cho một con bé.
“Khỏe không, ông đồng hương?” bà cất tiếng chào tôi.
“Đói, bà đồng hương ạ, rất đói.”
“Và lạnh nữa, ông đồng hương. Ông đang run lẩy bẩy nè. Uống một ly nước trà đi.”
Món ăn của cô gái đã sẵn sàng. Trong lúc trả tiền, cô hỏi, “Sao mấy anh chị lại nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức. Anh với chị không phải người đồng hương sao?”
“Ông ấy là người Thổ bất đắc dĩ.” Zelma ám chỉ tôi.
“Dân Thổ qua màng lọc thẩm thấu,” tôi sửa bà ta.
“Em không hiểu,” cô gái nói.
“Cô biết thẩm thấu là gì không? Là sự đi qua, tự ý hay bị ép buộc, của hai chất lỏng có độ đậm đặc khác nhau, qua tấm màng lọc. Người Thổ bị gọi bằng đủ thứ danh xưng trong sách vở, buộc họ đi xuyên qua một bức tường của sự thù ghét. Tôi không phải người Thổ, và vì vậy tôi phải đi qua một cái màng lọc khác nữa, nhưng người ta bỏ tôi vào chung một thứ.”
“Giải nghĩa quá rõ, đồng hương ạ. Ông phải đi dạy học mới đúng,” Zelma nhận xét.
“Quá phức tạp đối với em. Em vẫn nghĩ ông trông giống người Thổ,” cô gái nói, và bưng đĩa thức ăn đi.
Nước trà nóng, ngọt và thơm giúp tôi quên cái lạnh. Hai đứa con trai đi vào và gọi món Thunder Kebab. Sưởi ấm bàn tay trên ly nước trà, tôi nhìn Zelma cắt những cục thịt cừu nướng vàng óng và nhét vào miếng bánh mì Thổ Nhĩ Kỳ. Thân hình tròn quay như thùng phi nhưng bà ấy di chuyển nhanh nhẹn như nữ vũ công ba lê. Tôi tự hỏi không biết bà có từng múa bụng, làm ngây ngất đám khán giả rậm rì râu mép. Bà quấn chiếc khăn tay trắng trên lọn tóc đen, và tia nhìn lấp lánh trong mắt bà cho thấy việc chật vật kiếm sống với bà chỉ là một trò chơi. Bao nhiêu thế hệ gái điếm đã ăn uống ở Zelma’s Imbiss. Khi tài chánh eo hẹp; bà cho họ thiếu nợ; có người thanh toán bằng tiền mặt nhưng cũng có đứa đáp lại bằng mớ ngôn ngữ hỗn hào, tuy nhiên Zelma không bao giờ đánh mất óc khôi hài và nét long lanh trong ánh mắt.
“Rồi, tới phiên ông bạn đồng hương. Ông gọi món gì đây?”
“Món gì đó thật ngon. Hôm nay sinh nhật tôi.”
“Ali,” Zelma hét lớn, và từ phía sau quầy hàng chồng bà ta, Ali, xuất hiện, hai mắt đỏ ngầu vì thái củ hành.
Vài phút sau tôi ngồi trước một mâm cà tím xào, ớt nhồi thịt, phó mát dê, pepperoni, thịt cừu nướng, và bánh bột phồng tẩm mật ong.
“Làm sao tôi ăn hết chừng này món,” tôi nói.
“Uống rượu nữa,” Zelma nói. “Ali, ông còn chờ gì nữa vậy?”
Ali khui một chai rượu Bồ Đào Nha và hỏi tôi bao nhiêu tuổi. Tôi vừa nhai nhồm nhoàm vừa trả lời.
“Bốn mươi tư.”
Ông ta giật mình, lắc dây chuỗi hạt lách cách trong tay. “Bốn mươi tư. Hồi tôi ở cái tuổi của cậu tôi quyết định đã đến lúc nghĩ đến chuyện hồi hương. Với tiền để dành, tụi tôi có thể mở một nhà hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng Zelma, cậu biết tính bà ấy mà, nhất định không chịu bỏ cái xóm này. Cậu nên nghĩ đến chuyện hồi hương. Thời gian qua mau lắm, nó sẽ bỏ rơi cậu.”
“Tiên sư ông, Ali, ông muốn trục xuất tôi ra khỏi nước Đức này ư?”
Tiếng cười của Zelda tràn ngập căn phòng. Và khi bà ngưng cười, bà cùng với chồng hát “Happy Birthday to You” để mừng tôi.
Ngoài đường trời bắt đầu mưa. Những bảng hiệu đèn nê ông từ những cửa tiệm bán đồ chơi tình dục phản chiếu trên lề đường ướt át. Đám ma cô bắt đầu những vòng tuần tiễu trong những chiếc Mercedes thể thao, kiểm soát da thịt lồ lộ dưới những chiếc dù che mưa. Tôi vừa ăn mừng sinh nhật mình một cách trọn vẹn, hoặc ít nhất mùi vị của những món gia vị còn bám lấy khẩu cái tôi bảo tôi như thế. Tuy nhiên câu nói của Ali vang vọng bên tai tôi.
Hồi hương đi, về đi. Trở về với những nếp nhăn trên trán, và tóc điểm hoa râm hai bên thái dương. Về đâu? Điều duy nhất chờ đợi tôi ở Chile là bằng chứng sau cùng rằng trả thù là điều bất khả. Không, đó không phải là điều duy nhất. Còn có một ai đó, một người, một phụ nữ, đang chờ tôi, có thể, hoặc có thể cô ta chưa nhận ra sự vắng mặt của tôi bởi chính cô ta cũng không gì khác hơn là sự trống vắng và khoảng cách. Bao nhiêu lần tôi đã tát vào mặt mình, cố bắt buộc tôi đối diện với thực tại. Này, tôi nói với tôi, đây nhé, mày đang ở Âu Châu, ở phương Tây, ở Đức Quốc, ở Hamburg, ở vĩ độ nọ, vĩ độ kia. Nhưng chẳng khác gì tát vào hình ảnh phản chiếu vô phương chống cự trong tấm gương soi, bởi vì những sợi thần kinh nổi loạn của tôi hiểu rõ bổn phận của chúng là nhắc nhở tôi rằng tôi đang sống ở nơi chốn không thực sự hiện hữu, nơi được gọi tên một cách mỹ miều là chốn lưu vong.
Bản tiếng Việt
– Hoàng Chính

Tin tức khác...