The Vietnamese Newspaper in Canada

Tân xuân khai… bàn phím

Ngày xưa, thuở còn dùng bút lông, cha ông chúng ta thường có lệ khai bút đầu năm mới, còn được gọi là “Tân xuân khai bút” hay “Khai bút tân xuân”. Vào thời chữ Nho thịnh hành, các cụ có thể viết đôi ba chữ trên giấy Hồng Điều hoặc Hoa Tiên, chẳng hạn như “Cung chúc tân xuân”, “Tân Xuân Đại Cát” hay đôi khi chỉ một chữ như “Nhẫn”, “Tâm” hoặc “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”…

Phạm Phú Thứ viết bài “Tân xuân khai bút” vào ngày đầu xuân Tết Tân Hợi 1851 khi ông bị đày đi cắt cỏ ngựa ở trạm Thừa Nông vì tội “phạm thượng”, cũng chỉ vì dám khuyên vua Tự Đức siêng năng chăm lo việc triều đình. Nguyên bản bằng chữ Hán được ghi lại trong phần chú thích và dưới đây là bản dịch của Phạm Đình Nhân:

Đêm trước sông hồ ngập gió đông

Khói lam quyện khóm trúc bên sông

Khuyên vua núi Ngự hai xuân trọn

Làm lính Hải Vân một trạm Nông

Mưa móc rộng ban ân nghĩa trọng

Càn khôn còn giữ một thân nồng

Đầu năm ghi lại đôi lời chúc

Khai bút đề xuân mượn giấy hồng

Đến thời chữ Quốc ngữ, cụ Tam nguyên Yên Đổ còn khai bút bằng một bài thơ ẩn chứa một nỗi lòng của giới nho học trước sự suy vong của văn hóa Khổng Mạnh:

Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,

Nay đã năm mươi, lẻ có ba

Sách vở ích gì cho tuổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già!

Xuân về, ngày loạn còn lơ láo,

Đọc thêm

Tỷ lệ tử vong vì Nipah lên tới 50%: Hàng loạt sân bay châu Á tái kích hoạt lá chắn thời Covid-19

Tình hình dịch bệnh Nipah bắt đầu lan rộng. Sự xuất hiện của những chiếc máy đo thân nhiệt và thẻ…

TPHCM tăng cường giám sát tại các cửa khẩu quốc tế để phòng chống bệnh Nipah

Ngày 26/1, trước thông tin một số quốc gia ghi nhận ca mắc bệnh do virus Nipah (NiV), Trung tâm Kiểm…

Hoa Kỳ kêu gọi công dân rời Iran “ngay lập tức”

Theo báo Newsweek ngày 12/01, Bộ Ngoại giao cùng đại sứ quán của Hoa Kỳ tại Tehran đã ban hành cảnh…

Tử Vi Hàng Tuần

Tuần thứ ba tháng 12 âm lịch (tháng Chạp hay tháng Sửu) năm Ất Tỵ có ngày tốt hơn cả là ngày 16 âm…
1 của 5,761

Người gặp, khi cùng những ngẩn ngơ!

Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng?

Sao con đàn hát vẫn say sưa”.

Trải qua nhiều biến động của thời gian, thư pháp tiếng Việt xuất hiện để thay cho chữ Nho đã đi vào quên lãng. Tuy nhiên, thư pháp Việt vẫn giữ truyền thống bút lông, mực tàu và được thực hiện trên nhiều chất liệu như gỗ, đá, mành tre, tranh thêu ngoài  phương tiện chính là giấy.

 

 

Thời bây giờ không còn dùng bút lông. Các loại bút khác như bút máy, bút nguyên tử cũng đang từ từ cáo chung để nhường cho bàn phím. Thế cho nên khái niệm khai bút phải thay đổi bằng “khai… bàn phím máy tính”.

Chúng ta đang ở vào thời đại kỹ thuật số, việc đầu năm “khai bàn phím” cũng có nhiều thay đổi nhưng tinh thần của việc “khai bút” vẫn vậy: ngoài việc cầu phúc cho bản thân, gia đình còn là những khắc khoải trong cộng đồng trước vận nước ngày một xấu đi.

Hai câu thơ xưa của Nguyễn Khuyến, “Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng? Sao con đàn hát vẫn say sưa”, cũng là tâm sự của một số người thời nay, trăn trở trước thời cuộc. Xã hội này phải chăng gồm toàn những “con hát”, từ người công dân cho đến quan chức.

Phường tuồng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài! Quan thì diễn trên sân khấu theo một kịch bản đã viết trước, chỉ cần thuộc tuồng và diễn thật hay, nói thật giỏi. Dân thì ngồi xem trước sân khấu, kẻ thì gật gù tán thưởng, người thì ngao ngán khi phải miễn cưỡng ngồi xem.

Có những khán giả chỉ mong cho vở tuồng kết thúc sớm và hy vọng một luồng gió mới để thay đổi cuộc sống hàng ngày. Có những người lại mong được xem tiếp một vở tuồng khác hay hơn với những tình tiết “hỉ-nộ-ái-ố” hấp dẫn hơn. Lại có những ý kiến “phản động”… dẹp hết tuồng hát, cho đào kép về vườn…

Khai bút bàn phím tôi cũng tâm đắc với câu thơ của Phạm Phú Thứ: “Mưa móc rộng ban ân nghĩa trọng… Càn khôn còn giữ một thân nồng”.  Sử sách nhà Nguyễn có ghi:

“Khi Phạm Phú Thứ ở Hải Đông, hạt Quảng Nam, luôn năm đói kém, mà việc tuần phòng ở ngoài biển thì gạo cấm khá nghiêm, bèn thương lượng tạm bỏ điều cấm, hoặc quyền nghi cho thuyền chốn người Thanh, người Kinh chở gạo Bắc về Quảng Nam phân tán phát mại. Ông còn bỏ liêm bổng ra mua 1.000 phương gạo gửi về chia ra phát chẩn cho dân đói ở huyện hạt, nhân đó cứu sống được nhiều người, đến nay người vẫn nhớ”….

 

 

Theo nhiều sử gia, Phạm Phú Thứ là một nhà nho khi ra làm quan nhưng ông luôn hành xử một cách thanh liêm, cương trực nên được giới sĩ phu miền Trung hết lòng ngưỡng mộ. Xuất thân là một học trò nghèo, ông luôn chia sẻ nỗi vui buồn của ngư dân trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Bài học về tính thanh liêm, thương dân và vị tha của Phạm Phú Thứ đến bây giờ ít ai còn nhớ. Vẫn biết nhắc lại Phạm Phú Thứ với đám quan quyền ngày nay chắc cũng chỉ là… nước đổ lá môn. Tuy vậy, vẫn phải nhắc. Đời người hữu hạn, chỉ có nhân đức mới trường tồn trong cái càn khôn của vũ trụ.

Đó chỉ là những tiếng vang giữa sa mạc. Biết đâu đấy, tiếng vang có thể lọt vào tai của vài người, chỉ vài người không hơn, không kém. Đó chỉ là một hạt cát giữa sa mạc mông mênh nhưng hạt cát đó nếu lọt vào giầy của ai đó chắc cũng khiến họ dừng bước xem cái gì đã vướng dưới chân.

Khai bút bàn phím đã hơi dài vì luồng tư tưởng của người viết cứ lan man đủ chuyện. Ngày xuân đã qua đi, chúng ta lại bắt đầu những ngày… thường. Một ngày như mọi ngày…

Nguyễn Ngọc Chính

(Hồi ức một đời người)

Tin liên quan