Nước Mỹ với 10 triệu bằng sáng chế

Huy Lâm

Hôm 19 Tháng 6 vừa qua, chính phủ Mỹ đã trao bằng sáng chế cho nhà phát minh Joseph Marron với phát minh của ông về kỹ thuật sử dụng tia laser để đo tốc độ và chiều dài. Phát minh này có cái tên tiếng Anh rất dài là “Coherent Ladar Using Intra-Pixel Quadrature Detection” – toàn là những từ kỹ thuật thoạt nghe qua có lẽ ít ai hiểu nó là cái gì. Tuy nhiên, kỹ thuật này trong tương lai có thể được sử dụng cho các loại xe tự động lái, các thiết bị chụp phim trong ngành y khoa, hệ thống phòng thủ của quân đội, và trong các cuộc thám hiểm không gian và đáy biển.

Điều đặc biệt hơn nữa, đây là bằng sáng chế thứ 10 triệu của nước Mỹ, và vì tính cách đặc biệt của nó nên đã được chính tay Tổng thống Donald Trump ký chứng thực vào bằng sáng chế này cho ông Marron.

Với những tiến bộ kỹ thuật và khoa học, có thể nói các bằng sáng chế ngày nay là một khoảng cách khác biệt lớn so với bằng sáng chế đầu tiên của nước Mỹ, được ký bởi Tổng thống George Washington và trao cho ông Samuel Hopkins năm 1790 về kỹ thuật mới để “chế bột bồ tạt (pot ash) và bột bồ tạt trắng (pearl ash)”. Ngày nay, bột bồ tạt là loại muối lấy từ quặng mỏ hoặc được sản xuất trong nhà máy có chứa chất potassium, tuy nhiên vào thời tiền kỹ nghệ, để làm được chất bột này người ta phải ngâm tro đốt từ cây vào trong nước rồi mới chắt ra được, tốn rất nhiều công. Bột bồ tạt được sử dụng chính yếu là để làm phân bón, nhưng người ta còn dùng để làm nhiều thứ khác nữa như xà phòng chẳng hạn. Bột bồ tạt trắng được chế bằng cách nướng bột bồ tạt nâu trong lò nung thật nóng, và trước đây nó thường được sử dụng như là chất men để làm bánh mì trước khi người ta phát minh ra được bột nổi.

Mặc dù ông Hopkins được công nhận là người nhận bằng sáng chế đầu tiên của nước Mỹ nhưng hệ thống đánh số bằng sáng chế thì mãi tới năm 1836 mới có. Thế nên, nói về mặt kỹ thuật, bằng sáng chế được đánh số 1 là thuộc về Thượng nghị sĩ John Ruggles, cũng là người đã soạn ra Đạo luật Bằng sáng chế 1836. Phát minh của ông thượng nghị sĩ này là hệ thống bánh kéo dùng cho các loại máy hơi nước.
Bằng sáng chế thứ 9 triệu được trao ngày 7 tháng 4 năm 2015 cho phát minh là chiếc hộp đựng nước rửa kính xe. Đây là chiếc hộp chứa nước mưa từ xe đổ vào và tái chế thành nước để rửa kính.

Bằng sáng chế thứ 10 triệu lần này cũng được nhiều người mong lấy được, như nhà nghiên cứu John Nelson của công ty General Electric đã kỹ lưỡng căn ngày giờ để nộp đơn cho Văn phòng cấp Bằng sáng chế và Cầu chứng (USPTO) với hy vọng là lấy được bằng sáng chế có con số đặc biệt này. Tuy nhiên, ông Joseph Marron là người may mắn đã lấy được mặc dù chính ông lại không để ý đến con số đặc biệt đó.
Kể từ bằng sáng chế đầu tiên trao cho ông Samueal Hopkins tới nay, nước Mỹ đã cấp bằng sáng chế cho đủ mọi loại phát minh, từ những phát minh mang tính cách mạng làm thay đổi xã hội, như máy tách hạt bông sợi (cotton gin) và bóng đèn điện, cho tới thứ rất tầm thường là vật dụng để giữ cuộn giấy vệ sinh.

Mặc dù đến nay chính phủ Mỹ đã cấp tới 10 triệu bằng sáng chế, một điều gần như không thay đối kể từ những ngày đầu: Hầu hết các bằng sáng chế là được trao cho nam giới. một cuộc nghiên cứu năm 2012 bởi Sở Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia cho thấy chỉ có 7.5 phần trăm bằng sáng chế là được trao cho phụ nữ, trong đó chỉ có 5.5 phần trăm bằng sáng chế được thương mại hoá hoặc được cấp bằng hành nghề là phát minh bởi phụ nữ.

Nguyên do của sự chênh lệch giới tính trong việc cấp bằng sáng chế thì có nhiều và khá phức tạp, nhưng nguyên do chính được giải thích là vì phụ nữ ít làm việc trong những ngành nghề có liên quan đến sáng chế và phát minh, đặc biệt là ngành kỹ sư. Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ chiếm khoảng 20 phần trăm số sinh viên tốt nghiệp từ những trường đào tạo kỹ thuật, nhưng chỉ có ít hơn 15 phần trăm làm những công việc liên quan đến kỹ thuật. Số sinh viên nữ tốt nghiệp ngành kỹ sư nhưng tham gia làm việc trong ngành này lại không ngang bằng tỷ lệ của nam giới, và thậm chí những phụ nữ thật sự làm trong những ngành nghề này thì nhiều người cũng chỉ làm một thời gian ngắn rồi bỏ để đi làm những nghề khác.

Giáo sư Nadya Fouad, dạy môn tâm lý tại Đại học Wisconsin-Milwaukee, đã bỏ ra ba năm để theo dõi và nghiên cứu phụ nữ có bằng cấp kỹ sư về sự lựa chọn nghề nghiệp của họ, đã đưa ra nhận xét rằng nghành kỹ sư không có thời khoá biểu uyển chuyển linh hoạt, ít có cơ hội để tiến thân, và nhiều người làm việc trong ngành kỹ thuật thường có thái độ thiếu tôn trọng phụ nữ.
Những chướng ngại khác mà phụ nữ phải đối diện là sự thiếu những mạng lưới xã hội hỗ trợ cho họ và sự thiên vị nam giới trong việc cất nhắc vào những chức vụ điều hành công ty. Hãy cứ nhìn vào danh sách tổng giám đốc của các công ty kỹ thuật cao thì ta thấy rõ ràng là con số phụ nữ nắm những chức vụ này rất ít.

Sự cách biệt quá lớn giữa nam và nữ trong việc nhận bằng sáng chế còn cho thấy một điểm nữa là những chương trình đào tạo phụ nữ trong các ngành kỹ thuật không nhiều là vì người ta nghĩ rằng đào tạo phụ nữ trong ngành nghề để rồi rốt cuộc họ lại không thích làm thì chỉ mất công và mất thì giờ. Hơn nữa còn có định kiến cho rằng phụ nữ không thể đạt hết khả năng của họ để có thể trở thành nhà phát minh; và một nhà phát minh nữ thường có khuynh hướng phát minh những thứ mang lại lợi ích cho riêng phụ nữ chứ không cho chung tất cả.

Hiện có nhiều dấu hiệu khích lệ cho thấy đang có những thay đổi trong nhận thức và số phụ nữ nhận bằng sáng chế ngày càng nhiều hơn. Tuy nhiên, với mức độ thay đổi như hiện nay, người ta phỏng đoán phải mất 75 năm nữa thì phụ nữ mới bắt kịp nam giới về con số tương đương bằng sáng chế cấp phát mỗi năm.
Mặc dù số bằng sáng chế cấp cho phụ nữ tuy ít ỏi nhưng không phải là không có những phát minh không những gây được ảnh hưởng trong xã hội mà chúng ta còn thấy những phát minh này hiện diện trong đời sống chúng ta mỗi ngày.
Người ta kể lại câu chuyện có lần một người làm công đã vô ý làm mẻ một món đồ sứ rất quý của bà Josephine Cochrane sống ở thị trấn Shelbyville thuộc tiểu bang Illinois. Vừa buồn vừa tiếc của, bà bèn hợp tác với một thợ máy tên là George Butters để tìm cách chế ra một chiếc máy làm công việc rửa chén bát thay cho người. Bằng sáng chế được cấp năm 1886, và mặc dù chiếc máy của bà Cochrane không phải là chiếc máy rửa chén bát tự động đầu tiên, nhưng nó là chiếc máy đầu tiên sử dụng kỹ thuật phun nước thay vì dùng cọ rửa, và cũng là chiếc máy đầu tiên gặt hái thành công trong thương mại.

Một câu chuyện khác kể về bà Mary Anderson sống ở thành phố Birmingham, tiểu bang Alabama. Trong một lần viếng thăm thành phố New York năm 1902, bà Anderson để ý thấy là những tài xế lái xe điện trên các đường phố New York cứ phải thò đầu ra cửa sổ rồi dùng tay để gạt nước mỗi khi có mưa. Thế là bà nảy ra ý kiến chế ra chiếc máy có miếng cao su mỏng kẹp vào giữa hai miếng nẹp và người lái xe chỉ cần ngồi một chỗ rồi dùng tay đẩy chiếc cần gạt qua gạt lại nước mưa trên cửa kính xe. Chiếc máy đó là cái cần gạt nước chúng ta thấy ngày nay và là bộ phận cần thiết không thể thiếu trên tất cả mọi loại xe.

Nhưng có lẽ phát minh độc đáo nhất là của nhà hoá học Stephanie Kwolek làm việc cho công ty DuPont. Ngay lúc đầu bà không nghĩ là sẽ khám phá ra một sản phẩm gì mới lạ khi bà bắt đầu cuộc thử nghiệm với chất nhựa polymer. Nhưng khi bà cho nấu chảy chất nhựa này thành một thứ tinh thể lỏng có màu đùng đục và sau đó cho vào chiếc máy phun thành sợi nhỏ. Kết quả là những sợi tơ nhỏ này nhẹ hơn sợi thuỷ tinh (fiberglass) nhưng có độ chắc bền gấp năm lần thép. Công ty DuPont đặt tên cho phát minh mới này là sợi Kevlar và được sử dụng để làm lốp xe đạp thay cho thép. Nhưng độc đáo nhất của sợi Kevlar là để làm áo giáp chống đạn được quân đội và nhân viên an ninh sử dụng rộng rãi khắp nơi.
Kể từ bằng sáng chế đầu tiên trao cho ông Samuel Hopkins đến nay là 228 năm với 10 triệu bằng sáng chế được cấp phát. Tính trung bình ra mỗi năm nước Mỹ cấp khoảng gần 44,000 bằng sáng chế, là con số làm ta phải giật mình, nhưng nó cũng cho thấy sức mạnh tiềm tàng và tinh thần tranh đua cầu tiến của người Mỹ.

Với đà phát minh hiện nay, người ta tính chỉ khoảng ba hoặc bốn năm nữa, số bằng sáng chế được cấp phát sẽ đánh dấu mốc mới là con số 11 triệu. Và với tốc độ phát triển kỹ thuật được tính từng ngày như hiện nay, những phát minh mới sẽ còn phức tạp và tinh vi hơn nữa mà một người bình thường sẽ không thể hiểu nổi đó là phát minh gì, và nhất là khi được đưa vào sử dụng trong đời sống, chúng ta cũng khó có thể nhận ra được phát minh mới đó.

Huy Lâm

Tin tức khác...