Những Vụ Sát Nhân Rất Dịu Dàng

Lời người dịch: Ray Bradbury – tác giả nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo, kịch, và thơ – sinh ngày 22 tháng 08, năm 1920 tại Waukegan, Illinois. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1938, không có điều kiện vào đại học, ông vừa đi bán báo vừa vùi đầu trong thư viện mỗi tuần ba ngày trong suốt 10 năm trời để tự học. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Radbury là Fahrenheit 451 được độc giả cho là xoay quanh vấn đề kiểm duyệt và sự rập khuôn tư tưởng, trong khi tác giả khẳng định tác phẩm phê phán sự kiện vô tuyến truyền hình tước đoạt thú vui đọc sách. Bradbury viết đều đặn mỗi ngày ba tiếng đồng hồ, xuất bản trên 30 tác phẩm, gần 600 truyện ngắn. Ông mất tại Los Angeles ngày 05 tháng 06, 2012 ở tuổi 91. Bản tiếng Việt truyện ngắn The Very Gentle Murders đăng trong số này (nhân ngày kỷ niệm sinh nhật Bradbury) trích trong tập truyện ngắn Quicker than the Eye, Avon Books xuất bản năm 1996 tại Hoa Kỳ.

Nửa đêm, cảm thấy những ngón tay ai đó bóp cổ mình, Joshua Enderby giật mình thức giấc.
Trong vũng tối dày đặc dù không nhìn thấy gì nhưng vẫn ông cảm nhận được cái khối mỏng manh, xương xẩu vợ ông ngồi trên ngực ông trong lúc bà mò mẫm và bóp chặt những ngón tay run rẩy quanh cổ ông.
Ông mở lớn hai mắt. Ông nhận ra điều vợ ông đang làm. Và thật là khôi hài bởi tí nữa thì ông bật tóe ra cười!
Bà vợ còi cọc, vàng vọt, tám mươi lăm tuổi đang cố gắng bóp cổ ông!
Bà thở hắt ra cái mùi rượu đắng chát trong lúc ngồi chênh vênh, nghiêng ngả như con bướm đêm say rượu, loay hoay như thể ông là món đồ chơi của bà. Bà bực bội thở dài và những ngón tay xương xẩu của bà bắt đầu tươm mồ hôi trong lúc bà thở hổn hển, “Tại sao ông không, hừm, tại sao ông không…”
Tôi không cái gì? Nằm đó, ông bần thần suy nghĩ. Ông nuốt nước bọt và cử động nhấp nhô của trái táo Adam làm tuột những ngón tay yếu đuối của bà. Tại sao tôi không chết đi chứ gì? Ông thầm nói. Ông nằm thừ ra thêm một lúc, để xem bà có thể gom góp thêm sức lực mà kết thúc đời ông không.
Nhưng bà không làm được.
Ông có nên bật đèn lên mà đôi chối với bà không? Bà ấy trông có giống con lừa ngu ngốc, một con gà gầy guộc ngồi dạng hai chân bên trên cái thân thể sửng sốt của ông chồng đáng ghét của bà không nhỉ?
Joshua Enderby rên và ngáp. “Missy?”
Hai bàn tay bà đờ ra trên xương đòn gánh của ông.
“Bà làm ơn,” ông xoay người làm bộ như đang ngái ngủ. “Bà làm ơn,” ông ngáp, “nhích qua bên ấy một chút được không? Em bé ngoan.”
Bà vợ bước đi, vào vũng tối. Ông nghe tiếng nước đá lanh canh. Bà ấy đang làm một suất rượu rum nữa.
Trưa hôm sau, trong lúc ngồi thưởng ngoạn thời tiết dễ chịu và chờ khách khứa đến cùng ăn trưa, hai vợ chồng già trao đổi thức uống dưới cái rạp che nắng ngoài vườn. Ông trao Dubonnet cho bà; bà cho ông sherry.
Có một khoảng im lặng bởi cả hai cùng nhìn ly rượu mình vừa đón nhận, chưa dám đưa lên môi. Ông cầm ly của mình cách nào đó để chiếc nhẫn hột xoàn trắng to xù lấp lánh và chói lòa trong bàn tay tê bại của ông. Ánh sáng của nó làm ông nao núng và sau cùng, ông gom đàm trong cổ họng.
“Missy,” ông nói. “Bà cũng biết là bà chẳng sống được bao lâu nữa.”
Ẩn sau những cánh hoa trường thọ trong chiếc bình pha lê, bà liếc ra, nhìn ông chồng xác ướp của mình. Cả hai cùng nhận thấy tay người kia run rẩy. Bà mặc một chiếc áo xanh thẫm, đính đầy những đồ trang sức, hai trái cầu nhỏ lấp lánh bên dưới hai tai, son môi đỏ tươi. Con điếm cổ thời thành Babylon, ông lãnh đạm nghĩ thầm.
“Thật kỳ lạ, ông à, thật kỳ lạ,” bà vợ nói với một chút lúng túng đầy lịch sự trong giọng nói. “Tại sao, chỉ có đêm hôm qua…”
“Bà đã nghĩ đến tôi đấy à?”
“Mình phải bàn với nhau.”
“Đúng rồi, phải bàn.” Ông ngả người như hình nhân bằng sáp già nua trong lòng ghế. “Chẳng nên vội vã. Có điều là ai triệt ai không quan trọng nhưng mình cũng phải bảo vệ lẫn nhau, đúng không? Ấy, bà đừng nhìn tôi ngơ ngác như thế chứ. Tôi biết tỏ tường cái trò vặt của bà đêm qua trên ngực tôi, mò mẫm tìm thực quản của tôi, cứ như tìm chỗ bấm ngòi nổ, đại khái vậy.”
“Trời đất!” Máu dồn về hai má trét phấn của Missy. “Vậy là lúc đó ông thức à? Chết thật! Chắc tôi phải nằm một tí quá.”
“Nhảm.” Joshua ngắt lời vợ. “Nếu tôi chết thì cũng phải làm sao để không ai kết tội bà được. Còn nếu như bà chết thì cũng đừng để tôi bị rắc rối. Vậy thì tại sao phải vất vả tìm cách loại trừ lẫn nhau nếu như chuyện ấy chỉ đơn giản như một nhát dao máy chém rơi xuống hay một ly độc dược.”
“Rất hợp lý,” bà tán thành.
“Tôi đề nghị mình viết cho nhau một loạt những câu nóng bỏng. Ừm, bày tỏ tình cảm ướt át trước mặt bạn bè, tặng quà nhau, vân vân. Tôi sẽ chi tiền mua hoa, vòng đeo tay hột xoàn. Bà mua bóp da, mua cây gậy có tay cầm bịt vàng cho tôi.”
“Tôi phải công nhận là ông nhiều sáng kiến hết mức,” bà thú nhận.
“Nó sẽ làm giảm bớt sự nghi ngờ nếu thiên hạ thấy mình điên lên vì tình một cách hết sức cổ điển.”
“Ông biết không,” bà nói một cách mệt mỏi, “Không cần biết trong hai ta ai chết trước, chỉ là tôi quá già rồi và tôi cũng muốn làm một điều đúng đắn trong đời. Bao giờ tôi cũng là một người say mê nghệ thuật. Tôi chẳng bao giờ ưa ông. Yêu ông thì có đấy, nhưng đó là mười triệu năm về trước lận. Ông cũng không bao giờ là bạn của tôi. Nếu như không vì mấy đứa con…”
“Những lý do nhảm nhí,” ông nói. “Mình là hai ông bà già lắm chuyện không có gì làm ngoài việc chờ chết, và làm ầm cái chuyện ấy lên. Nhưng trò đùa với chuyện chết chóc sẽ thú vị hơn nếu mình đặt ra một số điều lệ, áp dụng nó một cách đúng đắn, không người nào hơn người nào. Bà có ý định ám sát tôi từ bao lâu rồi?”
Bà tươi tỉnh hẳn lên. “Ông còn nhớ lần đi coi hát tuần trước không? Ông trượt chân chỗ lề đường đó? Chút xíu nữa là cái xe đó cán ông rồi, nhớ không?”
“Trời đất!” Ông phì cười. “Tôi cứ tưởng đứa nào nó xô cả tôi lẫn bà!” Ông ngả người ra phía trước, cười ngặt nghẽo. “Được rồi. Lúc bà ngã trong bồn tắm hồi tháng trước đó? Tôi bôi mỡ lên bồn tắm đó!”
Không suy nghĩ, bà thở hổn hển, uống một phần Dubonnet, rồi ngồi đờ ra đó.
Đọc được ý nghĩ bà, ông nhìn đăm đăm ly rượu của mình.
“Ly này không có thuốc độc đấy chứ?” Ông đưa ly rượu lên mũi ngửi.
“Đừng vớ vẩn,” bà trả lời, rà vào ly Dubonnet của bà bằng cái lưỡi đầy nghi hoặc của con kỳ đà. “Người ta sẽ tìm ra chất độc còn sót lại trong bao tử ông. Để cho chắc ăn, nhớ kiểm soát kỹ vòi nước tắm tối nay. Tôi đã chỉnh sai nhiệt độ, nó có thể làm cho ông lên cơn động kinh đấy.”
“Bà làm cái đó à!” ông chế nhạo.
“Tôi mới chỉ nghĩ tới thôi,” bà thú nhận.
Chuông cửa reo, nhưng không là tiếng chuông reo vui, mà nghe như nhuốm màu tang chế. Vô lý! Ông chồng nghĩ. Vô lý! Bà vợ nghĩ, rồi tươi tỉnh hẳn lên:
“Mình quên là mình mời khách lại ăn trưa! Nhà Gowry đó! Cha nội đó chán chết, nhưng được cái tử tế! Sửa cổ áo lại đi kìa.”
“Chật thấy bà. Nhiều hồ quá. Bà tính âm mưu giết tôi cách này chắc?”
“Phải chi tôi nghĩ ra cách đó. Lẹ lên kìa!”
Và họ bước ra, tay trong tay, nét cười ngớ ngẩn trên mặt, để đón nhà Gowry mà họ xém quên.
Cocktails được dọn ra. Cặp vợ chồng già cỗi ngồi cạnh nhau, tay đan tay như đôi bạn học trò, cố cười với chút nhiệt tình yếu ớt khi Gowry kể mấy chuyện tiếu lâm rẻ tiền. Họ nghiêng người ra trước để khoe nụ cười có hàm răng bằng sứ, nói lớn tiếng, “Ô, chuyện đó hay đó!” rồi hạ giọng, thì thầm với nhau: “Nghĩ ra cách gì mới không?” “Dao cạo râu điện trong bồn tắm?” “Được đấy, được đấy!”
“Và rồi con Pat nói với thằng Mike!” ông Gowry vẫn to tiếng kể chuyện.
Từ khóe miệng, ông già thì thầm với vợ, “Bà biết không, cái sự ghét tôi dành cho bà cũng to lớn kinh khủng như mối tình đầu vậy. Bà đã dạy tôi làm cho kẻ khác hết phương cách tự vệ. Bằng cách nào thế nhỉ?”
“Chừng nào thày giáo sẵn sàng thì học trò sẽ vào lớp,” bà vợ thì thầm.
Tiếng cười rộ lên, khuấy động như những con sóng cuồn cuộn. Căn phòng quay cuồng, thông thoáng, nhẹ bâng. “Thành ra con Pat bảo thằng Mike tự làm lấy đi!” Gowry nói rống lên.
“Ô hô!” mọi người cười rộ lên.
“Nào, ông ơi.” Missy vẫy tay với ông chồng già cỗi của mình. “Kể một chuyện tiếu lâm của ông đi. Ồ, những trước tiên,” bà chợt nhớ, “ông xuống hầm, lấy chai rượu brandy đã cưng.”
Gowry bật người ra trước một cách lịch sự. “Để tôi lấy cho, tôi biết chỗ!”
“Ồ, ông Gowry, đừng mà!”
Missy hối hả quơ tay.
Ông Gowry rảo bước khỏi phòng.
“Ô, thôi chết, thôi chết,” Missy rên rỉ.
Một lát sau, Gowry rú lên từ dưới hầm, tiếp sau là âm thanh đổ vỡ rầm rộ.
Missy nhổm dậy bước đi, nhưng quay lại ngay sau đó, và chặn tay lên cổ. “Chúa tôi, bà Gowry ơi,” bà rống lên. “Lại xem nè. Tôi nghĩ ông Gowry trượt chân ngã xuống bậc thang hầm rồi.”
Sáng hôm sau Joshua Enderby lết vào nhà kéo lê một tấm bảng bọc nhung xanh dài một mét rưỡi rộng một mét, bên trên có móc gắn để trưng bày một khẩu súng lục.
“Đây nhé!” ông hét lớn.
Vợ ông xuất hiện với ly rum Collins trong một tay xủng xẻng những vòng, cây gậy lộp cộp ở tay kia. “Cái gì thế?” bà hỏi.
“Trước tiên, lão già Gowry sao rồi?”
“Gẫy chân. Ước gì lão ấy câm luôn được.”
“Cũng chỉ vì cái bậc thang lỏng lẻo ở đầu cầu thang nhỉ?” Ông già gài cái bảng nhung xanh lên tường. “May mà Gowry đi lấy brandy chứ không phải tôi.”
“May,” bà vợ uống ừng ực. “Sao lại may chứ?”
“Tôi đang say mê sưu tập súng xưa.” Ông quơ tay về phía khấu súng nằm gọn trong cái bao da.
“Chả hiểu…”
“Với một lô súng để lau chùi – đùng một cái!” Mặt ông tươi rói. “Chồng bắn vợ trong lúc lau dầu khẩu súng lục. Đâu có biết là súng đã nạp đạn, ông chồng vừa khóc vừa khai với cảnh sát như thế.”
“Gớm nhỉ!” bà nói.
Một giờ sau, trong khi lau dầu khẩu súng lục, thiếu chút nữa là ông cướp cò tự bắn vỡ sọ mình.
Vợ ông lịch kịch chạy vào và sựng người lại. “Mẹ nó. Ông vẫn còn sống đấy à?”
“Có nạp đạn, Trời đất quỷ thần ơi!” Ông giơ khẩu súng lên bằng bàn tay run rẩy. “Tôi nhớ là không có khẩu nào nạp đạn hết! Trừ khi…”
“Trừ khi…?”
Ông vồ lấy cả ba khẩu súng, xem xét. “Tất cả đều nạp đạn. Bà chứ không còn ai khác hết!”
“Tôi,” bà nói. “Lúc ấy ông đang ăn trưa. Để tôi pha trà cho ông. Đi qua đây.”
Ông đăm đăm nhìn lỗ đạn trên tường. “Trà, bố khỉ,” ông nói. “Rượu gin đi?”

Đến lượt bà lên cơn đi mua sắm. “Trong nhà có kiến.” Bà lắc cái túi đầy ắp đựng đồ đi chợ và đặt những cục sáp giết kiến ở mọi căn phòng, rắc bột giết kiến lên bệ cửa sổ, trong túi chơi golf của chồng, lên bộ sưu tập súng. Từ cái túi thứ nhì bà lôi ra thuốc giết chuột cống, thuốc giết chuột nhắt, và thuốc giết côn trùng. “Một mùa hạ đen tối cho bọn gián.” Bà rắc thoải mái cả lên đồ ăn.
“Đó là con dao hai lưỡi,” ông quan sát. “Bà sẽ ăn nhầm phải thuốc diệt gián!”
“Vô lý. Nạn nhân không cần phải chọn cái chết của mình.”
“Thì đúng vậy, nhưng có vẻ tàn bạo quá. Tôi muốn có nét mặt thanh thản cho người phẫu nghiệm tử thi.”
“Ảo tưởng. Chồng ơi chồng, mặt ông sẽ vẹo đi như cái đồ mở nút chai chỉ cần một muỗng đầy Black Leaf Forty (1) pha với ly ca cao ông hay uống lúc nửa đêm!”
“Tôi,” ông quạt lại, “biết một công thức có thể làm bà vỡ ra thành cả ngàn khối u trước khi tiêu tùng!”
Bà nhỏ nhẹ. “Sao vậy, Josh, tôi đâu nghĩ tới chuyện dùng Black Leaf Forty.”
Ông cúi đầu. “Tôi cũng chả nghĩ tới chuyện dùng công thức một ngàn cục u.”
“Hết biết luôn,” bà nói.
Trò chơi mưu sát của họ tiếp tục. Ông mua một cái bẫy chuột khổng lồ về giấu trong hành lang. “Bà chạy chân đất thành ra: vết thương thì nhỏ, nhiễm trùng thì lớn!”
Tới phiên bà ghim đầy kim găm vải lót lưng vào sofa. Ông cứ chạm tay vào chỗ nào là chỗ ấy tươm máu.
“Ái! mẹ ơi!” Ông mút ngón tay. “Đây có phải những mũi tên phóng phi tiêu có tẩm độc dược của thổ dân Amazon không vậy?”
“Không, chỉ thuần những cái kim sét rỉ làm phong đòn gánh thôi.”
“Ô,” ông nói.
Dù tuổi già đến nhanh, ông già Joshua rất thích lái xe. Người ta có thể thấy cái hùng hổ một cách yếu đuối lúc ông phóng xe lên dốc xuống đồi ở Beverly, miệng há hốc, mắt chớp nhòe.
Một buổi chiều ông gọi điện từ Malibu. “Bà nó ơi. Lạy Chúa, tí nữa là tôi lao xuống vực rồi. Bánh xe trước, phía bên phải của tôi tuột ra!”
“Tôi tính trước ở chỗ có khúc quanh!”
“Thì ra thế.”
“Nhờ xem tin tức đấy. Vặn lỏng ốc bánh xe: ngạc nhiên nhé.”
“Đừng bận tâm về ông chồng lơ đãng của bà nữa,” ông nói. “Bà có gì mới lạ không?”
“Thảm trượt trên cầu thang trong hành lang. Con nhỏ giúp việc ngã một đống.”
“Tội nghiệp Lila.”
“Bây giờ đi đâu tôi cũng sai nó đi trước. Nó lăn lông lốc như cái bọc đựng đồ giặt. May là người nó béo tốt.”
“Chuyện của mình mà không cẩn thận mình dám giết nó chết đấy.”
“Ừ nhỉ. Ô, tôi thích con bé ấy.”
“Cho nó nghỉ việc một thời gian đi. Mướn một đứa mới. Nếu chẳng may trong lúc mình triệt nhau mà có trúng nó mình cũng không đến nỗi buồn. Tôi không thích thấy Lila bị cái đèn trần rơi xuống đầu hay là…”
“Cái đèn trần nhà!” Bà vợ ré lên. “Ông táy máy với cái đèn pha lê Lâu Đài Fountainbleu của bà tôi đấy à? Nghe đây ông kia. Ông không được đụng đến cái đèn ấy.”
“Xin hứa,” ông lẩm bẩm.
“Thiệt tình! Những hạt pha lê xinh đẹp ấy! Nếu mà nó rơi hụt vào tôi, tôi sẽ nhảy lò cò bằng một chân tới đập ông bằng gậy cho tới chết, rồi ông mà tỉnh dậy tôi lại tiếp tục đập nữa!”
Điện thoại cúp một cái rầm.

Tối hôm đó, ông già từ ngoài ban công bước vào phòng ăn bữa tối. Ông mới hút thuốc xong. Ông nhìn bàn ăn. “Cái bánh nhân trái dâu của bà đâu?”
“Tôi không đói. Tôi đem cho con bé giúp việc mới.”
“Đồ ngốc!”
Bà sừng sộ. “Đừng có nói với tôi là ông đã bỏ thuốc độc vào cái bánh ấy rồi, ơi thằng cha già khốn nạn!”
Có tiếng vật gì đó đổ cái rầm trong bếp.
Ông già đi qua để kiểm tra và trở lại. “Con bé ấy hết là người giúp việc mới nữa rồi,” ông nói.

Họ nhét cô giúp việc mới vào cái rương trên gác. Chẳng thấy ai điện thoại để tìm cô ta.
“Thất vọng quá.” Qua ngày thứ bảy, bà vợ nhận xét. “Tôi lại cứ tin chắc là sẽ có một gã đàn ông cao lớn lạnh lùng với cuốn sổ tay và một người khác đem máy ảnh có bóng đèn chớp nhá đến tìm. Con bé tội nghiệp còn cô đơn hơn mình đoán.”
Tiệc trà vung vít trong nhà. Đó là ý kiến của bà vợ. “Nhờ vậy mình có thể nhắm vào nhau trong cả một rừng chướng ngại vật; những mục tiêu di động!”
Ông Gowry lại đến chơi. Đi khập khiễng vì cú ngã vài tuần trước, ông kể chuyện tiếu lâm, cười, và thiếu chút nữa là bắn văng mất tai của mình bằng một trong những khẩu súng dùng để song đấu. Mọi người rú lên và buổi tiệc kết thúc sớm. Gowry thề sẽ không bao giờ trở lại nữa.
Rồi tới cô Kummer, ngủ qua đêm, mượn dao cạo râu điện và tí nữa thì bị điện giật chết. Cô ra về không ngừng xoa nách bên phải. Từ hôm ấy, ông già Joshua để râu.
Chẳng bao lâu sau, một ông tên Schlagel biến mất. Rồi tới ông Smith. Lần cuối cùng người ta còn thấy hai vị xui xẻo này là một buổi dạ tiệc tối thứ Bảy trong dinh cơ của vợ chồng Joshua và Missy.
“Chơi trò trốn tìm à?” Bạn bè vỗ vai ông, vui vẻ nói đùa.
“Ông làm cách nào vậy? Giết bằng nhựa cóc, rồi trồng họ như trồng nấm chắc?”
“Tiếu lâm đấy, đúng vậy!” Ông cười sằng sặc. “Không, không đâu, không có nhựa cóc đâu, một người nhốt trong tủ lạnh đứng. Như bánh kem Eskimo Pie. Người kia vấp vào khung trái banh croquet. Ngã qua cửa sổ nhà kiếng lòi ruột.”
“Eskimo Pie, lòi ruột!” đám khách hú lên. “Joshua, ông đúng là dân thứ thiệt!”
“Tôi chỉ nói sự thật,” Joshua phản đối.
“Còn cái gì mà ông không nghĩ tới nữa?”
Joshua trầm ngâm, “Tôi thắc mắc chuyện gì thực sự xảy ra cho già Schlagel và thằng ranh Smith.”

“Chuyện gì xảy ra cho Schlagel và Smith vậy?” Vài ngày sau Missy hỏi chồng.
“Để tôi giải thích bà nghe. Eskimo Pie là món tráng miệng của tôi. Nhưng còn cái khung chơi banh croquet? Không! Có phải bà để nó ở chỗ khác, hy vọng tôi đảo qua và ngã nhào qua cửa kính nhà ương cây không?”
Bà vợ sững sờ như đá tảng; ông đã khều trúng dây thần kinh của bà.
“Nào, đã đến lúc phải bàn lại cho rõ,” ông nói. “Hủy bỏ hết tiệc tùng. Chỉ cần thêm một nạn nhân nữa thôi là còi hụ báo tin luật pháp đến gõ cửa nhà mình cho mà xem.”
“Đúng rồi,” bà vợ đồng ý. “Màn tập bắn của mình cuối cùng lại làm lạc đạn lung tung. Về cái khung chơi banh croquet. Cũng vì ông hay đi dạo ngoài nhà ương cây lúc nửa đêm. Mà cái lão khùng Schlagel lảng vảng ngoài đó làm gì lúc hai giờ sáng chứ? Đúng là đồ ngu. Lão ta vẫn nằm trong đống phân ủ đấy chứ?”
“Nằm đỡ ở đó đến khi tôi nhét lão vào chung với cái-đứa-đang-đông-trong-tủ-đá ấy.”
“Trời đất. Ngưng ngay mọi tiệc tùng.”
“Chỉ còn bà, còn tôi và ưm… cái đèn treo trên trần thôi chứ gì?”
“Không đuược. Tôi phải giấu cái thang để ông không leo được.”
“Mẹ!” Joshua rủa.

Đêm hôm ấy bên lò sưởi, ông đổ thứ rượu đỏ Bồ Đào Nha ngon nhất vào hai cái ly. Trong lúc ông bước ra ngoài, trả lời điện thoại, bà rắc một ít bột trắng vào ly của bà.
“Ghét cái trò này,” bà lẩm bẩm. “Không sáng tạo chút nào. Nhưng người ta sẽ không điều tra. Nhìn ông ấy giống như đã chết từ lâu trước khi chết thật, người ta sẽ nói thế trước khi đậy nắp quan tài.” Và bà lại rắc thêm một ít cái chất giết người ấy vào ly bà kịp lúc ông vào tới, ngồi xuống ghế, nâng ly của ông lên. Ông ngắm nghía cái ly của mình và nhếch mép cười với bà. “A, không, không, bà không làm đấy chứ?”
“Làm cái gì?” bà nói, đầy vẻ ngây thơ.
Lửa ấm lách tách trong lò sưởi. Cái đồng hồ trên bệ lò sưởi tích tắc.
“Bà à, bà có muốn đổi ly của bà cho tôi không?”
“Dĩ nhiên, chắc ông lại nghĩ tôi bỏ thuốc độc vào ly của ông lúc ông ra ngoài chứ gì?”
“Tầm thường. Vặt vãnh. Nhưng cũng có thể xảy ra chứ.”
“Nếu sợ thì đổi, ông già lắm chuyện.”
Ông có vẻ ngạc nhiên nhưng cũng đổi.
“Chẳng ai dòm ngó ai đấy nhé!” cả hai cùng nói, và cười vang.
Họ uống, trên môi đầy những nụ cười bí hiểm.
Rồi hai người ngồi lọt trong lòng ghế bành, cực kỳ thoải mái và hài lòng, ánh lửa lập lòe trên khuôn mặt trắng nhợt ma quái của họ, để chất rượu đỏ Bồ Đào Nha sưởi ấm những sợi tĩnh mạch vằn vèo tơ nhện của họ. Ông duỗi chân và hơ tay trên lửa. “A.” Ông thở phào. “Không gì bằng rượu đỏ!”
Bà ngả cái đầu nhỏ bé đầy tóc bạc ra sau, mơ màng, nhóp nhép cái miệng đỏ và nham nháp dính, và liếc ông bằng cái nhìn bí hiểm và lười biếng. “Tội nghiệp Lila,” bà lẩm bẩm.
Cuối cùng, trong tiếng lửa lách tách, bà nói thêm, “Tội nghiệp ông Schlagel.”
“Ừ,” ông đờ đẫn. “Tội nghiệp Schlagel. Cũng đừng quên Smith nữa.”
“Còn ông, ông già,” sau cùng bà chậm rãi nói một cách ranh mãnh. “Ông cảm thấy thế nào?”
“Buồn ngủ.”
“Buồn ngủ nhiều lắm không?”
“Nhiều.” Ông nhìn bà bằng hai con mắt sáng rực. “Còn bà, bà thấy trong người thế nào?”
“Buồn ngủ,” bà trả lời phía sau hai con mắt nhắm. Rồi hai con mắt ấy mở to. “Sao ông lại hỏi thế?”
“Ừ nhỉ,” vẫn tỉnh táo, ông nói. “Sao lại hỏi nhỉ?”
“Ờ thì, bởi vì…” Bà chăm chú nhìn chiếc giầy nhỏ màu đen chuyển động theo nhịp chậm ở cách đầu gối bà một khoảng xa lơ lắc. “Tôi nghĩ, hay là có lẽ tưởng tượng, tôi vừa phá hủy hệ tiêu hóa hay hệ thần kinh của ông.”
Trong giây lát ông đờ đẫn trong sự hài lòng và ngắm nghía ngọn lửa ấm và lắng nghe tiếng đồng hồ tích tắc. “Ý bà muốn nói là bà vừa mới đầu độc tôi?” Ông mơ màng câu chữ. “Bà cái gì?” Ông nẩy bật người lên như thể không khí vừa phụt ra khỏi thân thể ông. Ly rượu đỏ vỡ tan tành trên nền nhà.
Bà nghiêng người tới trước như bà thầy bói hăng say tiên đoán tương lai.
“Tôi khéo léo bỏ thuốc độc vào ly của tôi và biết thế nào ông cũng đòi đổi ly tôi cho ông, bởi ông thấy an toàn. Thế là mình đổi!” Giọng cười của bà bỗng trong trẻo.
Ông đổ người ra lưng ghế, ôm lấy mặt để chặn cơn vặn vẹo xoay tròn của hai con mắt. Rồi bỗng dưng ông nhớ ra điều gì đó và tuôn ra một tràng cười.
“Tại sao,” bà gào lên, “Tại sao lại cười?”
“Bởi vì,” ông hớp hơi thở, nước mắt trào xuống hai má, miệng cười đầy kinh dị, “Tôi bỏ thuốc độc vào ly của tôi! Và kiếm cớ đổi lấy ly của bà.”
“Ôi trời,” bà la to, nét cười biến mất trên mặt. “Hai chúng mình ngu quá. Tại sao tôi lại không đoán ra nhỉ?”
“Bởi vì cả hai chúng mình cùng khôn quá trời quá đất!” Và ông ngả người ra lưng ghế, cười khằng khặc.
“Ô, xấu hổ, mắc cỡ, tôi cảm thấy như bị lột trần truồng và tôi thù ghét tôi!”
“Không, không,” ông khàn giọng. “Đừng làm vậy, hãy thù ghét tôi như bà vẫn làm thì hay hơn.”
“Với trọn con tim và linh hồn héo úa của tôi… dành cho ông đấy à?”
“Không cần sự tha thứ phút lâm chung, bà vợ già trinh trắng chung tình của tôi ạ. Cưng ơi,” ông thều thào, giọng nói như từ xa vọng lại.
“Nếu ông nghĩ tôi cũng sẽ cưng ơi với ông thì ông điên thật rồi,” bà thì thầm, đầu ngoặt qua một bên, mắt nhắm nghiền, miệng méo xệch quanh câu nói. “Nhưng mà gọi vậy cũng chả mất mát cái quái gì. C… ư… n…”
Chỉ được đến đó thì bà tắt thờ. Lửa vẫn đốt tro đầy trong lò sưởi và cái đồng hồ vẫn mải mê tích tắc trong căn phòng im vắng.
Ngày hôm sau bạn bè tìm thấy hai người nằm dài trên ghế phòng đọc sách, cả hai cùng đầy nét mãn nguyện với hoàn cảnh hơn lúc nào hết.
“Một thỏa thuận cùng kết liễu đời mình,” mọi người cùng nói. “Ôi, tình yêu họ bao la đến mức người này không nỡ để người kia đi một mình vào cõi vĩnh hằng.”
“Tôi mong,” chống người trên cặp nạng, ông Gowry nói. “Một ngày nào đó vợ tôi cũng cùng uống với tôi những ly giống như vậy.”
(1) Black Leaf 40 (Nicotine Sulfate): Thuốc diệt côn trùng, dùng trong nông nghiệp, chứa 40% Alkaloidal Nicotine (Chú thích của người dịch.)

Bản tiếng Việt
– Hoàng Chính

Tin tức khác...