Những Ràng Buộc Gay Go

Lời người dịch: Vivian Gornick (1935- ) người Mỹ, là nhà phê bình, người viết tiểu luận và hồi ký. Bằng ngôn ngữ văn chương tinh tế, diễn tả rõ nét những biểu lộ tâm lý phức tạp, tác phẩm dẫn người đọc vào những góc cạnh tâm tư của hai người nữ trong suốt cuộc hành trình xem ra đơn giản nhưng cũng vô cùng phức tạp giữa mẹ và con gái. Fierce Attachments: a Memoir gây nhiều tranh cãi khi tác giả thú nhận đã hư cấu nhiều phần trong cuốn hồi ký này. Bản dịch Những Ràng Buộc Gay Go trích đoạn Fierce Attachments: a Memoir của Vivian Gornick, Simon & Schuster Inc. (New York) xuất bản năm 1987. Câu chuyện trong trích đoạn này xảy ra vào tháng Tư khiến chúng ta không khỏi hình dung ra một người mẹ – đến từ đất nước Việt Nam – và cô con gái – lớn lên ở xứ người – trong buổi lễ tưởng niệm nạn nhân cuộc thảm sát Mậu Thân. Niềm đau quen thuộc với người mẹ bao nhiêu thì – rất có thể – xa lạ với cô con gái lớn lên ở xứ người bấy nhiêu.

Đó là một buổi trưa u ám vào tháng Tư, ấm và xám ngắt, không khí ngọt ngào hương mùa xuân mới. Thứ thời tiết gợi lên những khuấy động không tên trong những phần không thể nhận diện được. Tình cờ, đó cũng là ngày kỷ niệm cuộc nổi dậy của khu Ghetto ở Warsaw. Mẹ tôi muốn tham dự lễ tưởng niệm thường niên tại trường cao đẳng Hunter. Bà rủ tôi đi cùng. Tôi từ chối, nhưng đồng ý đi với bà dọc đại lộ Lexington tới trường học. Trong lúc đi bên nhau, mẹ tôi kể lại một cuộc phiêu lưu mà bà đã trải qua ngày hôm qua trên đường phố.

Bà kể, “Lúc mẹ đứng trên lề đường chờ đèn xanh, có một con bé, chắc cũng khoảng bảy tuổi, đứng cạnh mẹ. Bỗng nhiên, đèn chưa đổi màu, mà nó bước xuống đường. Mẹ kéo nó vào lề đường và bảo nó, ‘Cháu à, đừng bao giờ băng qua đường lúc đèn đỏ. Chỉ qua đường lúc có đèn xanh.’ Con bé nhìn mẹ với đầy vẻ thương hại trên nét mặt rồi nói: Bà ơi, bà nhìn đời lộn tùng phèo hết trơn rồi!”

“Con bé ấy sẽ không sống được tới tám tuổi đâu,” tôi nói.

“Mẹ cũng nghĩ vậy.” Mẹ tôi cười.

Chúng tôi ở trên đường Lexington phía dưới khu phố Bốn Mươi. Ngày Chủ nhật. Đường phố vắng tanh, cửa tiệm và nhà hàng đóng cửa, rất ít người ra đường.

“Mẹ cần một ly cà phê,” mẹ tôi thông báo.

Ước muốn của mẹ tôi đơn giản nhưng không thể tranh cãi gì hết. Mẹ xem chúng như những nhu cầu. Ngay lúc này mẹ cần một ly cà phê. Sẽ không có cách nào đánh lạc hướng sự ham muốn mà mẹ xem như nhu cầu ấy cho tới khi một ly chất lỏng bốc khói được bàn tay mẹ nâng lên môi.

“Lại đại lộ Thứ Ba đi,” tôi nói. “Chỗ đó thế nào cũng có tiệm mở cửa.”

Chúng tôi băng qua đường và đi về hướng đông.

“Sáng nay mẹ nói chuyện với Bella,” lúc đi phía bên kia đường, mẹ vừa nói vừa lúc lắc cái đầu. “Con người thật là tàn nhẫn! Mẹ không hiểu nổi. Bà ấy có thằng con trai làm bác sĩ, con phải hiểu cho mẹ, nó đối xử với mẹ nó thật là tồi tệ. Mẹ hoàn toàn không hiểu nổi. Nó chỉ cần mời mẹ nó về nghỉ cuối tuần ở miền quê với nó, có chết chóc gì chứ?”

“Miền quê? Con tưởng con trai bà Bella sống ở Manhattan chứ.”

“Nó sống ở Long Island.”

“Đó là vùng quê à?”

“Không quê nhưng cũng đâu phải West End Avenue!”

“Được rồi, được rồi, thế bây giờ nó làm gì?”

“Vấn đề không phải là bây giờ nó làm gì, mà là nó thường hay làm gì. Sáng nay bà ấy nói chuyện với đứa cháu nội và đứa cháu bảo bà là chiều hôm qua có nhiều người đến nhà nó, rằng họ ăn uống ngoài sân thật vui vẻ. Con thử nghĩ xem bà Bella sẽ cảm thấy thế nào. Mấy tháng nay nó chẳng có đá động đến bà ấy được một câu. Cả thằng con ruột lẫn đứa con dâu đều không nghĩ gì đến mẹ hết.”

“Mẹ à, có bà mẹ như bà Bella không hiểu làm cách nào thằng con trai ấy sống sót được, nói gì đến việc học xong Y Khoa, ấy là chuyện khó tin nhưng có thật, mẹ cũng biết mà.”

“Bà ấy là mẹ nó mà.”

“Ôi, Trời.”

“Đừng có Ôi, Trời tao. Đúng như thế đấy. Bà ấy là mẹ nó. Hiển nhiên và đơn giản. Bà ấy hy sinh hết mọi thứ để nó có được mọi thứ.”

“Có thứ gì? Cái tật điên điên khùng khùng của bà ấy chắc? Hay là chứng lo lắng vẩn vơ của bà ấy?”

“Bà ấy cho nó một đời sống. Dễ hiểu và đơn giản. Bà ấy đẻ ra nó mà!”

“Chuyện ấy đã lâu lắm rồi, mẹ à. Nó chẳng nhớ xa tới mức ấy được đâu.”

“Nó mà không nhớ thì nó là thứ mọi rợ!”

“Cho dù là như vậy đi nữa. Việc ấy cũng không thể cấm nó rủ bạn bè lại chơi trong một buổi chiều Chủ Nhật đẹp trời đầu mùa xuân.”

“Nó nên làm, cho dù nó muốn hay không muốn. Đừng nhìn mẹ như thế. Mẹ biết mẹ đang nói gì.”

Chúng tôi tìm ra quán cà phê ở đường số Ba, một cái muỗng trơn nhẫy di động lật ngửa với bàn ghế nhựa, bọc da nhân tạo, đèn trần bằng sắt tây với bóng đèn hình dạng những cây nến thắp sáng trong buổi trưa có bóng tối giả tạo.

“Được chứ hả?” mẹ tôi hân hoan nói với tôi.

Nếu tôi nói, “Mẹ à, chỗ này quá tệ,” bà sẽ nói, “Con gái mơ mộng của mẹ ơi. Mẹ lớn lên trong một căn chung cư không có nước nóng với nhà cầu ngoài hành lang, trong khi với con thì như thế này vẫn chưa thể hài lòng. Thôi được, con chọn chỗ khác vậy,” và chúng tôi sẽ phải lặn lội ngược lại đường số Ba. Thành ra tôi gật đầu đồng ý, ngồi với bà trong một ngăn nhỏ cạnh cửa sổ, và chuẩn bị uống một ly cà phê dở chết người trong khi tiếp tục cuộc chuyện trò nặng nề về đề tài con cái và cha mẹ.

“Nóng,” mẹ tôi nói với người bồi bàn tóc đen, mí mắt dầy bụp đang chậm chạp tiến đến bàn chúng tôi. “Tôi muốn cà phê nóng.”

Hắn nhìn mẹ tôi trừng trừng với rất ít biểu lộ trên nét mặt khiến hai chúng tôi chắc chắn là hắn không hiểu gì hết ráo. Rồi hắn quay về phía tôi, cặp lông mày nhướng lên tra hỏi. Mẹ tôi đặt tay lên cánh tay hắn, nghiêng đầu qua một bên và cười hết sức thân thiện với hắn. “Cháu từ đâu tới vậy?” bà hỏi.

“Mẹ à,” tôi nhằn.

Vẫn níu chặt cánh tay người bồi bàn, mẹ tôi nhắc lại, “Ở đâu?”

Người bồi bàn mỉm cười. “Hy Lạp,” hắn trả lời. “Tôi Hy Lạp.”

“Người Hy Lạp,” bà nói, như thể thẩm định giá trị cái quốc tịch mà người bồi bàn vừa nói cho bà nghe. “Tốt. Tôi thích người Hy Lạp. Nhớ nhé. Nóng. Tôi muốn cà phê nóng.” Hắn bật cười. Bà nói đúng. Mẹ biết rõ điều mình đang nói. Chỉ có tôi là người mù tịt giữa thế gian này, chứ không phải bà.

Gọi cà phê xong, mẹ tôi trở lại với cuộc thảo luận. “Vô ích. Nói gì thì nói, con cái bây giờ không còn thương yêu bố mẹ như ngày xưa lúc mẹ còn nhỏ.”

“Mẹ à, mẹ thực sự tin điều đó sao?”

“Tin chứ! Bà ngoại chết trong vòng tay dì của con, có đàn con vây quanh. Còn lúc mẹ chết thì sao đây, con thử nói cho mẹ biết xem? Dám chắc người ta chỉ phát hiện ra sau cả tuần lễ. Ngày này qua ngày khác. Mẹ chẳng nghe tin tức gì của con hết. Anh mày thì mỗi năm mẹ gặp được ba lần. Hàng xóm ư? Ai? Ai ở đó mà xem tao còn sống hay đã chết? Manhattan đâu có như The Bronx, con biết mà.”

“Đúng vậy. Cốt lõi là như thế. Manhattan không là The Bronx. Chẳng phải bà ngoại chết trong vòng tay của dì vì dì yêu bà hơn tụi con yêu mẹ. Mẹ cũng biết dì ghét bà ngoại mà. Dì ấy có mặt ở đó vì bổn phận dì ấy phải ở đó, và vì dì ấy ở gần bà ngoại suốt phần đời dì ấy sau khi đã có chồng. Điều ấy không ăn nhập gì đến tình yêu hết. Đó không phải là cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là cuộc sống di dân, cuộc sống của dân lao động, cuộc sống từ một thế kỷ khác.”

“Mày muốn gọi nó là gì thì gọi,” mẹ tôi giận dữ đáp lời, “nhưng đó vẫn là một lối sống nhân bản hơn.”

Chúng tôi im lặng. Người bồi bàn trở lại với ly cà phê. Mẹ tôi cầm lấy ly cà phê trước khi người bồi bàn kịp quay đi. Bà hớp một ngụm, nhìn theo cái lưng của người bồi bàn một cách khinh miệt. “Thế này mà là nóng đây hở?” bà nói. “Không nóng gì hết.”

“Gọi nó lại.”

Bà lấy tay lùa không khí ra xa. “Thôi được rồi. Uống thế này cũng được, cũng chẳng chết ai.” Rõ ràng là câu chuyện đã làm mẹ tôi xuống tinh thần.

“Thật ra, điều mẹ muốn nói là, nếu nó không phải là con bà Bella thì bà ấy đã chẳng thèm nhìn nhận nó nữa.”

“Mình phải xét cả hai bên, đúng không nào? Chắc chắn nó chẳng nhìn nhận bà ấy nữa nếu bà ấy không phải là mẹ nó, đúng không?”

Từ phía bên kia cạnh bàn, mẹ tôi nhìn tôi chằm chặp. “Ý mày muốn nói gì, hở con gái thông minh của mẹ?”

“Con nói là tình yêu bây giờ phải tự mình gặt hái lấy. Ngay cả giữa mẹ và con trai.”

Miệng bà há hốc và mắt bà đượm niềm thương hại. Điều tôi vừa nói tệ hại tới mức có thể làm mẹ tôi cấm khẩu. Rồi, lắc đầu nguây nguẩy, bà nói, “Mẹ sẽ nói cho con nghe như con bé kia đã nói với mẹ, Thưa cô, cô nhìn mọi việc lộn tùng phèo hết trơn rồi!”

Ngay lúc ấy người bồi bàn đi qua mang theo bình cà phê bốc khói. Bàn tay mẹ tôi bung ra, làm hắn lảo đảo suýt ngã. “Nóng không?” bà hỏi. “Ly này không nóng.” Hắn ngừng lại, nhún vai, đổ cà phê vào tách của bà. Bà uống một cách ham hố và gật đầu một cách hằn học.

“Nóng đấy.” Cuối cùng bà cũng hài lòng.

“Đi thôi,” bà vừa nói vừa đứng dậy, “Muộn rồi.”

Chúng tôi ngược lối cũ và tiếp tục rảo bước trên đại lộ Lexington.

Không khí ngọt ngào hơn ban nãy, ấm hơn, đầy hơn, với chút hơi hướm của mưa ở cái cạnh sáng màu xám của nó. Ngon lành! một dòng mơ ước không dự báo dâng cao trong tôi, nhưng, như thông lệ, không lan xa được. Thay vì dâng thẳng lên cao và trong vắt, nó xoắn lại, quyện vào trong, và nhanh chóng bóp nghẹt chính nó đến chết đi; một tiến trình mà tôi đã quen thuộc đến độ trầm cảm vì nó. Tôi liếc xéo mẹ tôi. Chẳng lẽ tôi đang tưởng tượng điều này, nhưng đối với tôi, dường như khuôn mặt mẹ tôi cũng phản chiếu cùng một hành trình điên dại của cảm xúc đổi chiều. Đôi má đặm sắc mầu, nhưng con mắt bà hoảng hốt và miệng bà trễ xuống. Tôi tự hỏi bà thấy gì khi bà nhìn tôi? Tâm trạng của ngày bắt đầu chuyển hướng một cách nguy hiểm.

Chúng tôi ở khu phố Năm Mươi. Những khung kính cửa sổ khổng lồ đầy mầu sắc và thiết kế viền dọc đại lộ. Chủ Nhật dễ chịu biết bao nhiêu, những cửa tiệm đóng cửa, không có quyết định nào phải chọn. Chúng tôi chia sẻ sở thích về thời trang, mẹ tôi và tôi, về việc diện áo quần, nhưng cả hai chúng tôi không thể đua đòi chuyện mua sắm. Chúng tôi luôn mặc hoài một thứ áo quần mà chúng tôi vội vã lấy ra được từ hàng móc áo gần nhất. Khi chúng tôi đứng như lúc này đây, trước cửa sổ cửa tiệm, buộc phải nhìn nhận có những phụ nữ chọn lựa trang phục thật tỉ mỉ, chúng tôi biết rõ về sự bất lực hổ tương, và chúng tôi trở thành thứ mà chúng tôi thường là: hai người đàn bà với những ức chế giống nhau một cách đáng chú ý gắn bó với nhau vì đã từng sống trong quỹ đạo của nhau gần như suốt đời họ. Trong những khoảnh khắc ấy sự kiện chúng tôi là mẹ và con gái khuấy lên một cung bậc lạ lẫm. Tôi biết chính xác là vì chúng tôi là mẹ và con gái nên những đáp ứng của chúng tôi là những hình ảnh phản chiếu của nhau, thế nhưng chuyện hiếu thảo dường như không có chỗ đứng. Trái lại, ý tưởng gia đình, của sự việc chúng tôi là máu mủ, của đời sống gia đình xem ra rối quyện vào với nhau: một sự bất định nơi mẹ cũng như nơi tôi. Chúng tôi đã quá quen nghĩ về mình như hai người đàn bà, phận bạc và kém cỏi (mẹ góa phụ, tôi ly dị), mãi mãi không đủ khả năng để tạo một mái gia đình cho riêng mình. Vậy mà khi chúng tôi đứng trước cửa sổ cửa tiệm, “đời sống gia đình” dường như còn là một mảnh ước mơ không được kiểm chứng hiện diện nhiều nơi mẹ cũng như nơi tôi. Những áo quần bên trong cửa sổ làm tôi cảm thấy suốt đời hai chúng tôi cùng lẫn cẫn về câu hỏi chúng tôi là ai, và làm cách nào đến được nơi ấy.

Bỗng dưng, tôi thấy khốn khổ. Khốn khổ cùng cực. Một luồng cảm quan thất bại xuyên qua tôi. Tôi cảm thấy não nề, không phương hướng hoặc chủ đích, mọi phấn đấu thường nhật của tôi nhỏ bé và lạc lõng. Tôi nói không nên lời. Không phải là im lặng, nhưng là không nói nên lời. Mẹ tôi thấy tôi xuống tinh thần. Bà lặng thinh. Chúng tôi tiếp tục đếm bước, không ai nói năng gì.

Chúng tôi đến đường 69, rẽ ở khúc quanh, và tiến đến lối vào thính đường Hunter. Những cánh cửa mở rộng. Bên trong, hai ba trăm người Do Thái ngồi lắng nghe những chứng nhân hồi tưởng lại trang sử không thể nói nên lời của họ. Những chứng nhân này là chất keo kết dính. Họ nhắc nhở và thuyết phục. Họ chữa lành và nối kết. Hãy để người ta tự tìm ra ý nghĩa cho chính họ. Những bài diễn văn vo ve kéo dài. Mẹ tôi và tôi đứng đó, trên lề đường, lẻ loi bên nhau, ngả người trên thanh âm của sự hình thành văn hóa đang bập bềnh trôi về phía chúng tôi. “Chúng ta là một dân tộc bị nguyền rủa,” người thuyết giảng công bố. “Từng chu kỳ chúng ta bị hủy diệt, chúng ta lại phấn đấu vươn lên, chúng ta tái sinh. Đó là định mệnh của chúng ta.”

Ngôn ngữ như chất adrenaline tác động trên mẹ tôi. Hai má bà ửng đỏ. Nước mắt thắp sáng hai mắt bà. Đường viền xương hàm bà chằng cứng. Da bà phục hồi sự trẻ trung. “Vào bên trong đi,” mẹ nhỏ nhẹ nói với tôi, tin rằng bà đang làm cho tôi một điều tốt đẹp. “Đi. Con sẽ thấy dễ chịu hơn.”

Tôi lắc đầu từ chối rồi tôi nói, “Làm người Do Thái chẳng còn giúp con được gì.”

Mẹ nắm chặt cánh tay tôi. Mẹ không xác định cũng không phủ nhận điều tôi nói, mà chỉ nhìn thẳng vào mặt tôi. “Hãy nhớ này,” bà nói. “Con là con gái của mẹ. Cứng rắn. Con phải cứng rắn.”

“Ô, mẹ à!” Tôi khóc, và cuộc sống yêu chuộng tự do ham hố một cách đáng sợ của tôi đầy ắp trong tôi và tràn xuống khuôn mặt có lớp da mềm, khuôn mặt mà mẹ đã cho tôi.

Bản tiếng Việt  – Hoàng Chính

Tin tức khác...