NGÔI MỘ BÊN SÔNG (kỳ 3)

Nguyễn Ngọc Ngạn

(Tiếp theo )

Thời gian lặng lẽ trôi, mọi chuyện trong nhà cụ Bá Phục không có gì mới lạ. Bỗng cách đây gần 2 tháng, cụ Bá Phục lên cơn suyễn nặng. Điều này rất bình thường bởi cụ bị hen suyễn từ mấy chục năm nay. Cụ lên cơn, nghẹt thở đôi chút thì nghỉ một lúc lại khỏi! Ông lang Thuần đã bốc cho cụ bao nhiêu thang thuốc rồi mà vẫn chả ăn thua gì!
Hôm nay xem chừng cơn bệnh của cụ Bá phát nặng. Bà Lý với Toán cùng đi chợ, ở nhà chỉ có mình Lý Hưng. Cụ Bá khò khè thở, ngồi lên, nằm xuống vật vã khó chịu lắm, mồm cứ há ra mà xem chừng cổ như tắc nghẹn, ú ớ nói không thành tiếng. Hai chân cụ đạp lung tung. Lý Hưng đã quen với cảnh này nên không sợ hãi lắm. Thường thì chỉ mấy phút sau cụ lại trở về trạng thái bình thường.
Nhưng hôm nay bệnh cụ Bá có vẻ nguy kịch chứ không như mọi lần. Lý Hưng đứng bên giường, chợt nảy ra một ý nghĩ mới: Lý Hưng có miếng đất long mạch ngoài bờ sông. Khi ông chết, chôn ở đó thì con ông sẽ phất lên như diều. Nhưng ông mới ngoài 40, biết ngày nào mới chết để 3 đứa con phát tài! Bố ông thì đã 65 lại bệnh tật quanh năm, chi bằng chôn cụ ở mảnh đất phát ấy thì chính bản thân ông sẽ công thành danh toại lập tức! Ông sẽ lấy lại chức Lý trưởng quyền uy nhất làng, làm rạng rỡ cho dòng họ! Nghĩ thế, Lý Hưng quyết định phải ra tay! Ông quay nhìn ra cửa. Nhà giờ này chẳng có ai mà bức mành trúc lại che kín căn phòng vốn ít ánh sáng. Cụ Bá đang kê đầu trên cái gối mây, Lý Hưng đỡ đầu bố đặt xuống phản. Cụ xoay người nằm nghiêng, Lý Hưng lật ngửa lại. Mồm cụ vẫn há ra cố gắng thở. Lý Hưng vói tay lấy cái áo bông, loại áo mặc lạnh may bằng hai lớp vải nhét bông vào giữa cho ấm, đang máng trên tường. Lý Hưng gấp đôi cái áo bông lại rồi nghiến răng đè cái áo lên mặt Cụ Bá. Cụ ráng giãy dụa chống cự, hai tay đưa lên quờ quạng nắm lấy áo Lý Hưng. Nhưng lúc ấy sức cụ đã quá yếu vì đang nghẹt thở, lại thêm đôi bàn tay rắn chắc của Lý Hưng cứ đè mạnh lớp áo dày trên miệng trên mũi cụ, nên chỉ vài phút sau chân tay cụ duỗi thẳng ra và cụ hoàn toàn tắt thở! Con mèo đen từ trên nóc tủ, bất ngờ kêu thét lên rồi lao vụt vào đầu Lý Hưng. Lý Hưng kinh hãi nhưng né kịp. Con mèo chạy vọt ra cửa. Lý Hưng đứng thở một chút rồi lấy tờ giấy xé nhỏ, đặt trước hai lỗ mũi cụ Bá xem cụ đã tắt thở thật chưa. Thử hai ba lần, rồi khi biết chắc bố đã chết, Lý Hưng lay vai bố và gọi lớn:
– Thầy! Thầy tỉnh lại đi! Thầy làm sao thế!
Lý Hưng lao ra sân, khóc rống lên để hàng xóm nghe thấy mà chạy sang. Từ thân cây cau trước hàng hiên, con mèo đen của cụ Bá lại nhe hai hàm răng kêu thét lên và nhảy vụt xuống, lao vào người Lý Hưng. Lý Hưng kinh hãi né sang một bên. Con mèo phóng qua sân nhà hàng xóm rồi biến luôn từ đó cho đến khi Lý Hưng cúng 49 ngày cho cụ Bá, nó mới lại trở về.

Nghe Lý Hưng gào khóc, bà Giao là người đầu tiên tất tả chạy sang và hốt hoảng hỏi:
– Gì thế ông Lý? Có chuyện gì thế! Cụ Bá làm sao rồi!
Lý Hưng khóc nấc lên, nói không ra lời, nhờ bà hàng xóm chạy đi gọi ông lang Thuần là người đã chữa bệnh suyễn cho cụ Bá mấy chục năm nay. Chính ông lang Thuần cũng không lấy làm ngạc nhiên về cái chết của Cụ Bá bởi cái bệnh khó thở kinh niên của cụ. Lý Hưng chỉ nương theo căn bệnh của bố để đưa bố về bên kia thế giới sớm hơn thôi!
Mặc cảm tội lỗi khiến Lý Hưng tổ chức đám tang thật trang trọng đồng thời bản thân ông xuất hiện trước đám đông đích thực là người con chí hiếu. Đến ngay cả bà Lý cũng không ngờ chồng mình nặng tình nghĩa như vậy. Ông vật vã khóc than khiến bà cũng mủi lòng khóc nấc mãi lên:
– Ối thầy ơi là thầy ơi! Thầy bỏ chúng con đi giữa đường, từ nay chúng con biết nương dựa vào ai! Thầy ơi là thầy ơi!
Khi nghe Lý Hưng cho biết sẽ chôn Cụ Bá trên mảnh đất mới ngoài bờ sông, bà Lý ngơ ngác hỏi:
– Sao không để thầy nằm cạnh u trong nghĩa trang của làng? Dạo u mất, ông đã đóng tiền cho làng để giữ cho thầy một ô bên cạnh u rồi mà!

Lý Hưng phân trần:
– Tôi đưa thầy ra bờ sông là làm theo ý nguyện của thầy! Hôm thầy ra thăm miếng đất ấy, thấy bảo tôi, chỗ này thoáng mát quá, khi thầy trăm tuổi thì con cho thầy nghỉ ở đây!
Bà Lý tưởng thật nên không nói gì nữa. Thế là Cụ Bá an nghỉ bên bờ sông khoảng khoát mà chỉ một mình Lý Hưng biết đó là mảnh đất kết, sẽ đưa Lý Hưng và con cháu phất lên trên đường công danh!
Mọi tính toán của Lý Hưng đều chu đáo. Duy có một điều Lý Hưng chẳng bao giờ ngờ tới là cụ Bá lại hiện về. Câu nói của Toán vẫn vang lên trong đầu ông:
– Những người bị chết oan, hồn không siêu thăng được thì thường hay hiện về!
Từ dưới mé sông, Lý Hưng leo lên, đến quì trước mộ cha một lúc rồi quay về. Ông toan bước đi thì từ dưới mé sông có người đàn bà cũng trạc tuổi Lý Hưng, leo dốc lên, gật đầu chào ông rồi nói:
– Chả biết ông Lý có còn nhớ tôi không? Tôi là Bính, lấy chồng bên kia sông…
Lý Hưng ngắt lời:
– Bính con ông bà Dậu phải không?
Người đàn bà hớn hở nói:
– Vâng! Vậy là ông Lý vẫn còn nhớ!
Rồi bà nhìn ngôi mộ cụ Bá và bùi ngùi bình phẩm:
– Ông giời thật là bất công! Cụ Bá ăn ở nhân đức như thế mà lại bắt đi sớm! Cả làng ai cũng tiếc! Mẹ tôi kể là cái năm làng mình bị vỡ đê to, mấy trăm gia đình lâm cảnh màn trời chiếu đất, không có cụ Bá mở kho phát chẩn thì khối người chết đói!
Lý Hưng u sầu gật đầu:
– Vâng! Trận vỡ đê năm Thìn. Tôi vẫn còn nhớ!
Người đàn bà thở dài rồi giã từ Lý Hưng đi nhanh vào làng. Lý Hưng ngượng ngập nhìn theo một lúc rồi cũng quay về nhà.

Trời đã tắt nắng. Lý Hưng về đến nhà thấy vợ và chị người làm đang nói chuyện trong bếp. Cả một ngày hôm nay ông không còn nhìn thấy nụ cười nữa. Mặt ai cũng nặng trĩu ưu tư như ngày đại tang! Ông đi thẳng vào bếp, ngồi xuống bàn ăn và hỏi:
– Ở nhà có gì lạ không?
Bà Lý thành thật đáp:
– Không có gì lạ nhưng tôi vẫn sợ lắm. Chẳng những tôi không dám vào buồng của thầy mà ngay cả gian phòng khách, tôi cũng chả dám lên! Vườn sau tôi cũng không dám ra. Ông nghĩ xem: Mình ở đây làm sao được nữa!
Lý Hưng hiểu nỗi sợ của vợ nên cố trấn an:
– Hai nhà sư đã hẹn mình chủ nhật này sẽ đến làm lễ cầu siêu, thì tôi với bà cố kiên nhẫn chờ vài hôm nữa xem thế nào!

Ông dứt lời thì Toán đang chẻ củi, ngừng tay, ngẩng lên nhìn Lý Hưng khẩn khoản nói:
– Đêm hôm con ở một mình dưới bếp này, con hãi lắm! Con xin phép ông bà cho con sang ngủ nhờ bên nhà bà Giao, sáng con về sớm!
Lý Hưng gắt nhẹ:
– Không được! Mày sang bên ấy, người ta hỏi lý do thì mày trả lời làm sao? Không nhẽ mày bảo nhà có ma!
Bà Lý xua tay nói:
– Lên nhà ngủ với tao. Khiêng cái ghế bố lên, kê ở góc nhà, còn rộng chán. Nửa đêm tao có cần đi ra ngoài thì mày đi với tao. Tao cũng không dám đi một mình!
Chị người làm mừng rỡ nói:
– Con cám ơn bà. Con không cần ghế bố. Con trải cái chiếu dưới đất là được rồi!
Bà Lý giục Toán dọn bữa ăn chiều. Trời mùa thu mau tối, mặt trời vừa lặn là cảnh vật bắt đầu mờ nhạt. Chả ai nói với ai, nhưng màn đêm buông xuống là cả ba đều thấy không gian rờn rợn vây quanh. Chị người làm thắp cây đèn lớn đặt giữa bàn ăn. Bà Lý bảo chị châm thêm cây đèn lớn nữa vì đêm nay bà cần nhiều ánh sáng hơn. Bữa tối vẫn ba món như thông lệ. Nhưng Lý Hưng ưu tư không nuốt nổi một chén cơm mặc dù ông vốn ăn khỏe.
Bên ngoài, trời đã mờ mờ tối. Từ trong bếp, tức là dãy nhà ngang, nhìn thẳng hết chiều ngang mảnh sân rộng đến đầu nhà bên kia, tức là gian nhà thờ Cụ Bá, dài đến hơn 25 thước. Lý Hưng đang uể oải nhai cơm, tình cờ ngẩng lên trông ra thì thấy bóng Cụ Bá mặc quần áo trắng đục, bước nhanh từ dưới sân lên bậc tam cấp rồi vén mành vào buồng. Con mèo đen đi sau cũng chui vào buồng theo cụ Bá. Lý Hưng chỉ kịp kêu lên mấy tiếng kinh hãi rồi đánh rơi bát đũa xuống bàn. Ông rùng mình lạnh buốt, đôi mắt lạc thần, toàn thân run lên bần bật. Toán vội đứng dậy đỡ lấy lưng ông và dồn dập hỏi:
– Ông làm sao thế? … Bà ơi! Chắc ông bị trúng gió! Bà vịn ông đi để con tìm lọ dầu!
Bà Lý buông bát đũa đứng lên, vòng ra sau lưng chồng, lay mạnh hai vai ông và hỏi:
– Ông ơi! Ông có còn tỉnh không? Ông làm sao thế?
Toán lấy lọ dầu trong túi áo máng trên vách, đổ ra bàn tay xoa hai bên thái dương và giật mạnh tóc mai ông. Ông ngồi yên một lúc rồi lấy lại điềm tĩnh, gạt chị ra và run run bảo vợ:
– Tôi không sao cả! Có gió máy gì đâu! Bà ngồi xuống đi!
Ông ngừng lại để thở rồi thêm:
– Nhưng bà nói đúng! Căn nhà này không ở được nữa!
Bà Lý nhìn chồng dè dặt hỏi lại:
– Ông nói thế là thế nào?
Lý Hưng nhìn ra sân rồi kể:
– Tôi lại vừa thấy thầy… Chính mắt tôi vừa thấy thầy từ dưới sân, bước lên bậc tam cấp, vén mành đi vào buồng. Thầy mặc áo quần trắng đục! Lại có cả con mèo đen đi theo thầy nữa!
Bà Lý không nói gì, chỉ đưa mắt nhìn Toán đang run lên bần bật. Im lặng một lúc, Lý Hưng bảo:
– Làm cách nào giải quyết bây giờ? Nghĩa là làm thế nào để thầy đừng về nữa, trả lại cuộc sống yên ổn cho gia đình mình!

Toán dè dặt tiếp lời Lý Hưng:
– Biết làm thế nào! Nhưng ông bà đã thỉnh các nhà sư chủ nhật này xuống cầu siêu cho cụ thì đành cứ chờ thôi! Hôm nay đã là ngày thứ tư rồi!
Bà Lý cắt ngang:
– Thì đúng rồi chứ còn gì nữa! Tao đang sốt ruột đây!
Toán gật đầu tiếp:
– Nhưng một mặt ông bà vẫn nên mời thầy pháp. Con đi chợ, nghe các bà ở ngoài chợ nói làng mình có ông thầy pháp cao tay lắm, thầy yểm bùa trừ tà, hồn ma không bao giờ dám về nữa! Bà muốn biết thì ngày mai bà đi chợ với con, con sẽ hỏi cho bà!

Bà Lý tuyệt vọng nói ngay:
– Thầy gì cũng được, tốn bao nhiêu thì tốn, miễn là để gia đình mình sống yên ổn là tao bằng lòng ngay!
Lý Hưng uể oải gật đầu đồng ý.
Sau bữa tối, bà Lý nán lại thu dọn chung với Toán.
Bà ngại không muốn lên nhà khiến chính ông Lý cũng đành ngồi chờ ở bàn ăn cho đến khi hai người đàn bà xong việc, mới cùng nhau lên nhà trên. Cửa trước, cửa sau đều khép chặt. Lên giường đắp chăn kín mít nhưng hai cây đèn dầu lớn vẫn để nguyên không tắt! Toán trải cái chiếu nhỏ trên sàn nhà, ngay sát giường ông bà chủ vì cả ba cùng sợ bóng tối mà xem chừng người sợ nhất bây giờ là Lý Hưng bởi chính mắt ông đã nhìn thấy bố ông hiện về tối nay!
Tiếng lá rơi xào xạc trên mái ngói, tiếng gió rít từng cơn xuyên qua khe cửa, tất cả đều làm ông Lý rùng mình trong bóng tối. Ông cứ hồi hộp chờ đợi nhưng cụ Bá không hiện về lần nào nữa.
Qua một đêm yên bình, cả nhà mừng rỡ lắm. Chờ trời sáng rõ, bình minh ló rạng, cả ba mới dám ra ngoài. Mọi sinh hoạt của ba người, chủ lẫn tớ, hầu như đều diễn ra trong bếp. Ai cũng ngần ngại không dám lên nhà trên.
Sau bữa cơm trưa, Lý Hưng định ra võng nằm ngủ như thường lệ, nhưng sực nhớ ra hôm qua, hồn ma thân phụ ông đã về nằm trên cái võng ấy nên bây giờ ông không dám. Ông đành nằm tạm ở cái ghế bố ở góc bếp. Ông vừa nhắm mắt nhưng chưa ngủ thì có khách gọi ngoài cổng. Toán chạy vội ra, hỏi thăm vài câu, rồi vào báo với Lý Hưng:
– Thưa, có hai người khách nói là người quen cũ của ông ghé thăm…
Toán đang nói thì Lý Hưng đã đứng dậy và chạy ra mở cổng. Bởi Lý Hưng vừa nhận ra ông thầy địa lý và anh học trò ông gặp ngoài bờ sông cách đây 2 năm.

Lý Hưng vẫn coi đây là hai vị ân nhân đã chỉ dẫn môn địa lý cho mình và nhờ vậy ông mua được miếng đất của bà Giản để an táng thân phụ. Lý Hưng mở rộng cánh cổng gỗ đón chào khách và niềm nỡ nói mấy câu khách sáo:
– Quí hóa quá! Thật là rồng đến nhà tôm! Dễ đến hơn hai năm rồi thầy nhỉ!
Thầy địa lý vào trước, anh học trò theo sau. Thầy nói:
– Vâng! Hơn hai năm rồi ông Lý ạ! Tôi vẫn nhớ lời ông Lý dặn. Nhưng hai năm nay tôi không về vùng này. Cụ Cử Nhiễu đón tôi sang tân Hưng Yên tìm đất cho cụ. Rồi cụ Tú Quang lại cho người gọi tôi sang Bắc Ninh mất hơn nửa năm.
Lý Hưng ái ngại nhìn lên phòng khách, nhưng chả nhẽ lại tiếp khách quí trong bếp, nên ông đành miễn cưỡng đưa lên nhà trên. Bà Lý đứng trong bếp đưa mắt nhìn nhưng thấy khách lạ của chồng nên bà không ra mặt. Chủ khách vào ngồi ở bộ ghế gụ lâu đời lên nước bóng loáng. Thầy địa lý phân trần tiếp:
– Sáng nay có việc xuôi thuyền đi ngang Vân Đài, thầy trò tôi vẫn nhớ cái chỗ ông Lý hai năm về trước. Tôi giật mình thấy có ngôi mộ mới trên mảnh đất tôi chỉ cho ông Lý. Tôi mới bảo thuyền neo lại. Thì hóa ra cụ thân sinh ông Lý vừa mãn phần! Tôi vội hỏi thăm đường vào đây để có đôi lời chia buồn…
Lý Hưng chăm chú lắng nghe rồi cảm động đáp từ:
– Thầy không quản đường xá xa xôi, đến tận nơi để chia buồn với gia đình chúng tôi, thật, chả biết nói thế nào để cảm ơn thầy! Thôi thì thầy đã cất công đến đây, xin nán lại dùng bữa cơm dưa muối gọi là nhớ cái tình tri ngộ!
Thấy địa lý xua tay lắc đầu:
– Cảm ơn ông Lý có lòng. Nhưng tôi ngồi chơi với ông Lý một tí rồi phải đi ngay. Thuyền vẫn neo chờ ngoài bờ sông! Huống chi nhà ông Lý đang có đại tang! Bày vẽ ra làm gì!
Toán bưng khai trà lên, Lý Hưng rót ra tách mời khách rồi gợi ý:
– Năm xưa, nhờ thầy chỉ cho miếng đất quí, tôi để cha tôi an nghỉ ở đấy! Hy vọng con cháu sẽ phát lên như lời thầy nói!

Thấy địa lý gật đầu:
– Cuộc đất ấy quả thật tốt lắm, tôi mới xem lại sáng nay. Theo tôi đoán thì đến đời thứ tư hoặc thứ năm là bắt đầu phát, mà phát về văn chứ không về võ!
Lý Hưng tắt nụ cười, ngơ ngác hỏi lại:
– Thầy bảo đến đời thứ tư hoặc thứ năm nghĩa là sao ạ?
Anh học trò thấy thầy mình nâng tách trà lên uống, anh vội lên tiếng đáp thay:
– Thưa ông Lý. Một người được táng đúng vào thế đất tốt, ngay cả táng vào long mạch đi nữa, thì cũng phải đợi đến đời thứ tư, thứ năm, hoặc có khi lâu hơn nữa, mới phát kết được!
Lý Hưng trố mắt nhìn anh học trò. Nếu thế thì cụ Bá chết có ích lợi gì cho Lý Hưng đâu! Lý Hưng giết bố để làm gì!
Thầy địa lý đặt tách trà và giảng thêm:
– Là vì thế này, ông Lý: Khi một người đã ra đời rồi, như ông Lý, như tôi chẳng hạn, thì định mệnh đã an bài xong rồi, không thay đổi được nữa! Đấy là lý do tại sao mỗi người đều có một lá số Tử Vi. Sao tốt, sao xấu theo năm, tháng, ngày, giờ mình sinh ra, ông trời đã ấn định rồi, địa lý không có ích gì nữa, không thay đổi được vận số nữa! Phải đợi đến đời cháu, đời chắt, nghĩa là những đứa trẻ chưa ra đời, thì địa lý mới có ảnh hưởng! Chẳng hạn ông Lý để cụ nhà an nghỉ đúng vào mảnh đất tốt, thì đến đời cháu đời chắt của ông Lý sẽ được hưởng. Còn bản thân ông Lý đã ra đời rồi, thì địa lý không áp dụng được nữa!

Thấy địa lý không để ý đến nét mặt tái nhợt của Lý Hưng, nên vẫn vui vẻ thêm:
– Cụ cử Nhiễu bên Hưng Yên có cho tôi xem quyển gia phả của dòng họ cụ viết từ đời Minh Mạng. Nội tổ chôn ở chỗ đất kết. Thầy địa lý phê vào gia phả là đến đời thứ năm thì sẽ phát về văn. Quả nhiên đúng đời thứ năm, hai anh em cụ, người thì làm tuần phủ, người làm án sát! Thấy môn địa lý đúng quá nên cụ cử mới cho người mời tôi sang để tìm đất!
Lý Hưng á khẩu không nói được lời nào nữa từ khi biết cái chết của cụ Bá không giúp gì được mình! Bên tai ông, anh học trò lại tiếp lời sư phụ:
– Vả lại, thưa ông Lý, bài học đầu tiên mà thầy địa lý nào cũng dạy học trò là “Tiên tích đức, hậu tầm long”. Có tu thân tích đức thì mới được hưởng lộc, chứ làm ác thì đến long mạch lắm khi cũng vứt bỏ!

Thầy địa lý uống cạn tách trà rồi đứng dậy:
– Tôi đang dở công việc, tạt vào chia buồn với gia đình ông Lý. Bây giờ tôi xin phép, vì chiều nay còn phải chèo thuyền đi xa!
Lý Hưng tiễn khách ra cổng rồi quay vào ngồi phịch xuống ghế bố trong bếp, nét mặt đờ đẫn mất hồn. Những người đã sinh ra đời rồi thì địa lý không ăn thua gì nữa vì không thể thay đổi được số mệnh! Biết thế thì ông giết bố ông để làm gì! Rõ ràng là cụ Bá chết oan bởi cái chết ấy không mang lại điều gì ích lợi cho Lý Hưng!
Cả ngày hôm đó, Lý Hưng thẫn thờ vì nỗi ân hận dày vò trong lòng. Có lúc bà Lý hỏi hai ba lần, ông vẫn không trả lời vì đãng trí. Ông biết thân phụ ông hiện về là vì ông, vì nỗi oan khuất do chính đứa con trai duy nhất là ông gây nên. Bà Lý nhìn ông bảo:
– Tôi tưởng chỉ có mình tôi sợ, hóa ra ông còn sợ hơn cả tôi. Thôi thì đằng nào mình cũng đã hẹn với các thầy trên chùa, chủ nhật này đến đây, thì cứ đợi ngày chủ nhật đã, rồi mới tính tiếp được!

Toán nhìn ông tội nghiệp, chen vào:
– Với lại từ đêm qua đến giờ, cụ không hiện về nữa, cũng là dấu hiệu tốt rồi! Ông bình tĩnh lại đi!
Đêm hôm ấy ba người lại lên ngủ ở nhà trên như đêm hôm qua. Khoảng 3 giờ sáng, Lý Hưng giật mình bừng tỉnh. Trước hết là một loạt tiếng mèo tru lên ngoài hiên. Rồi ngay sau đó là tiếng guốc đều đặn gõ xuống nền gạch hàng hiên, vang lên trong không gian vắng lặng. Đó là tiếng bước đi quen thuộc của cụ Bá với đôi guốc mộc hàng ngày cụ vẫn đi qua đi lại dưới mái hiên, nhất là sau mỗi bữa ăn. Lý Hưng kinh hãi chộp lấy cánh tay vợ. Bà Lý vừa mới ngủ được mấy tiếng, bất ngờ bị đánh thức, quay sang càu nhàu:
– Khuya quá rồi sao ông không ngủ đi?
Lý Hưng ghé tai vợ thì thầm:
– Bà có nghe tiếng chân ông ngoài kia không?
Bà Lý gắt nhẹ:
– Tôi có nghe thấy gì đâu! Bây giờ ông lại tưởng tượng nhiều hơn tôi! Thôi! Ngủ đi!
Tiếng bà Lý hơi lớn làm Toán nằm dưới đất cũng ngóc đầu dậy và hỏi:
– Gì thế bà? Bà chưa ngủ ư?
Lý Hưng xoay người hỏi:
– Mày có nghe tiếng guốc ngoài hàng hiên không? Rõ mồn một như thế, chẳng nhẽ cả bà mày lẫn mày đều không nghe thấy?

Toán lắc đầu đáp:
– Con cũng chả nghe thấy gì cả!
Bà Lý cũng nhắc lại:
– Có tiếng gì đâu! Ông bị mất hồn rồi! Ngủ đi!
Lý Hưng bực bội hỏi thêm:
– Cả tiếng mèo gào lên như thế mà bà cũng không nghe thấy hay sao?
Bà Lý vừa ngáp vừa trả lời:
– Ông không ngủ được thì nằm yên cho tôi với cái Toán nó ngủ!
Vừa tức vừa sợ, Lý Hưng xoay người, đưa lưng về phía vợ rồi lấy hai tay bịt tai lại. Nhưng tiếng guốc vẫn vang lên đều đặn như những mũi tên đâm vào tim ông. Ông cứ nằm chịu đựng như thế cho đến khi tiếng guốc biến mất thì bên ngoài cũng đã mờ mờ sáng!
Hôm sau, bà Lý cùng Toán đi chợ. Bình thường bà ít khi đi với Toán, nhưng giờ này bà không muốn ở nhà nên hễ có dịp ra ngoài là bà đi ngay. Huống chi bà nghe lời Toán, muốn ra chợ để hỏi thăm ông thầy pháp cao tay, mời về yểm bùa cho nhà bà.
Gần trưa hai người trở về, không thấy ông Lý đâu. Bà Lý lên tiếng gọi, chẳng thấy chồng trả lời, ra vườn sau cũng chẳng thấy ông nên đoán là ông lại ra bờ sông viếng mộ. Mãi đến quá trưa vẫn không thấy ông về.
Toán dọn cơm xong, bà Lý bảo cô lên nhà tìm. Toán ngần ngại nhưng đành phải đi. Con mèo đen nằm ngoài cửa buồng cụ Bá, hôm nay im lìm không có phản ứng gì. Từ ngoài hiên, Toán cất tiếng gọi lớn:
– Ông ơi! Mời ông xuống xơi cơm!… Ông ơi! Bà đợi cơm dưới bếp! Mời ông xuống ăn…
Toán gọi hai ba lần không có tiếng đáp lại. Cô mới run run vén mành nhìn vào gian nhà thờ cụ Bá. Toán giật mình kêu thét lên và bỏ chạy ra ngoài vì phát giác ra ông Lý đã treo cổ tự tử trước bàn thờ Cụ Bá! Sợi giây thừng khá to vắt ngang xà nhà siết chặt lấy cổ ông! Toán đứng ngoài sân nhìn vào và khóc lớn:
– Ông ơi! Làm sao mà đến nông nỗi này ông ơi! Bà ơi! Ông mất rồi!
Bà Lý từ trong bếp, nghe tiếng khóc của Toán, quăng vội đôi đũa chạy lao ra rồi ngã xuống ngất xỉu trước cửa buồng cụ Bá.

Từ hôm ấy, căn nhà rộng thênh thang chỉ còn lại hai người đàn bà góa là bà Lý và Toán. Cụ Bá không hiện về lần nào nữa mà con mèo đen cũng vĩnh viễn ra đi.
Bà Lý bàn với Toán, cả hai đều cho rằng ông Lý vì quá thương cha mà treo cổ chết theo, cho nên bà quyết định chôn ông cạnh cụ Bá trên mảnh “đất phát” ngoài bờ sông. Dân làng tiễn đưa ông rất đông, ai cũng ca ngợi ông Lý chết theo cha, bỏ lại cả một gia tài đồ sộ!
Hai tháng sau, ông thầy địa lý bơi thuyền trở lại Vân Đài. Ngang qua mảnh đất của Lý Hưng, giật mình ngó lên thấy hai ngôi mộ trắng xây bên nhau. Thầy trò neo thuyền, tò mò leo lên, kinh hãi nhìn hàng chữ trên mộ bia mới, mới biết chính ông Lý vừa qua đời. Anh học trò quay nhìn sư phụ và sửng sốt bảo:
– Bất ngờ quá thầy nhỉ! Ông Lý đang khỏe mạnh như thế, chả biết bệnh tật gì mà đột ngột qui tiên! Hay là mình tạt vào chia buồn với bà Lý một tiếng, thầy nhỉ!

Ông thầy thở dài khẽ lắc đầu:
– Vào chia buồn với bà Lý thì chắc là không nên. Mới hai tháng trước mình ghé thăm, rồi ông Lý mất. Biết đâu người ta chả đổ cho mình đem cái bất hạnh đến cho gia đình người ta! Người nhà quê hay tin vớ vẩn lắm!
Im lặng một chút, thầy tiếp bằng giọng ân hận:
– Ở đời lắm khi có những sự lạ lùng. Thầy tìm được cho ông Lý mảnh đất tốt. Chẳng ngờ mới có mấy tháng, chết cả hai cha con!
Thầy trò đứng im một lúc trước hai ngôi mộ rồi xuống thuyền, bùi ngùi chèo đi.

Nguyễn Ngọc Ngạn
2019

More Stories...