Mùa Xuân 18

Phụ nữ Gia Lâm qua cầu sông Hồng sang Hà Nội.

Hoàng Hải Thủy

Tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội, tôi theo thầy mẹ tôi về làng quê tôi – làng Linh Quy, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh – trước đó gia đình tôi đã về làng quê mẹ tôi – làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông.

Khi rời tỉnh Hà Đông, thầy mẹ tôi – như nhiều người Việt thời ấy – tưởng chúng tôi sẽ chỉ phải đi khỏi tỉnh Hà Đông chừng vài tháng là lại trở về. Nhưng sau khi gia đình tôi sống tạm ở Hòa Xá chừng hai tháng, thầy mẹ tôi thấy gia đình tôi phải về quê nội tôi mới có thể sống được lâu ngày.. Thầy tôi có nhà, có vài mẫu ruộng ở làng quê Linh Quy; về đấy ít nhất chúng tôi cũng có gạo ăn, không đến nỗi khổ vì đói cơm.

Từ Hòa Xá gia đình tôi trở lại căn nhà của chúng tôi trong thị xã Hà Đông. Từ Hà Đông muốn về làng quê tôi, ở Gia Lâm, Bắc Ninh, chúng tôi phải đi qua thành phố Hà Nội, qua cầu Doumer. Nhưng khi đó chiến tranh đã xẩy ra ở Hà Nội, chúng tôi phải đi sang Văn Điển, rồi rẽ trái, đi đò qua sông Hồng, đi bộ qua hai cánh đồng, qua đường Số 5, về làng tôi.
Làng tôi có một tổ gọi là Tình Báo. Mấy anh tình báo này ở trong nhà bác tôi. Bốn anh. Tôi đến và thân với các anh ngay. Các anh đều dùng bí danh. Anh Trưởng Ban là anh Tường Lan, trạc 30 tuổi. Anh để bộ râu như râu ông Hồ Chí Minh. Ba anh kia là các anh Quốc Bảo, Quốc Khánh và Trần Trung Thành. Anh Thành thường được gọi là anh Ba Tê.  Anh nào cũng dễ thương.Năm ấy tôi mười ba tuổi. Năm nay – Tháng Giêng năm 2017, tôi Tám Bó tuổi đời – không cần nhắm mắt hồi tưởng, tôi thấy ẩn hiện trong ký ức tôi cảnh mẹ con tôi đi ngang cánh đồng, nhìn thấy những chiếc phi cơ Spitfire của quân Pháp bay lượn, nổ súng xuống những vùng quanh phi trường Gia Lâm.

Tôi mến anh Tường Lan, anh mến tôi. Anh cho tôi đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác. Cho đến một ngày anh nói với tôi:

– Anh đổi công tác. Anh đi nơi khác. Em có muốn đi theo anh không?

Tôi làm cuộc ra đi ngày ấy gọi là “thoát ly gia đình,” tôi lặng im ra đi. Tất nhiên tôi không thể thưa với thầy mẹ tôi chuyện tôi bỏ nhà ra đi làm cuộc gọi là “đi kháng chiến.” Thầy tôi có thể để tôi ra đi nhưng mẹ tôi thì không thể.

Tôi được nhận vào làm nhân viên Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Tôi có lương tháng: 120 đồng tiền Việt Minh một tháng. Những anh có vợ con lương 180 đồng một tháng. Tôi ăn cơm trong cơ quan mỗi tháng 50 đồng.

Đêm, tôi theo anh Tường Lan qua sông Đuống. Anh đưa tôi đến trụ sở của Ban Tình Báo Gia Lâm ở một làng huyện Yên Phong, Bắc Ninh. Tôi quên tên làng.

Anh Tường Lan sống ở đây chừng hai tháng, anh lại ra đi. Mấy năm sau tôi nghe tin anh hoạt động ở Lạng Sơn, anh qua đời vì bệnh lao phổi.

Năm 1948 tôi được đưa về sống ở làng Hương Canh. Làng này ở bên đê sông Hồng, nhìn sang bãi Phúc Xá và bờ sông Hồng bên kia là Chèm Vẽ.

Đội Tình Báo có một ống viễn vọng kính: loại ống nhòm to tổ bố tên tiếng Pháp là longuevue. Ở Hương Canh công việc của tôi là ngày ngày ôm cái ống nhòm vào một ụ súng ở ven đê, đặt ống nhòm nhìn về cầu sông Cái, nhìn xem số quân xa đi qua cầu, ghi vào sổ để làm báo cáo.

Ngay từ những năm ấy, những năm tôi mười bốn, nười lăm tuổi, gần như chưa có qua một kinh nghiệm nào về đời sống, tôi đã thấy việc ngồi suốt ngày trong ụ súng, ghi số xe chạy qua cầu sông Hồng là chuyện cà chớn. Tôi thường dùng ống nhòm tìm cảnh những cô gái bãi Phúc Xá ra tắm sông hơn là nhìn và ghi số quân xa chạy qua cầu.

cau2Lâu lâu tôi ghi đại vào sổ những chuyện như:

– 10 giờ. 2 Jeep, 2 GMC từ Hà Nội sang Hải Phòng.

– 12 giờ 2 GMC từ Hải Phòng sang Hà Nội.

Khoảng 5 giờ chiều về nhà, tôi nộp sổ ghi này cho anh Trưởng Ban. Anh có căn cứ trên những con số tôi ghi để làm báo cáo hay không tôi không biết.

Năm 1949, tôi được Ban Tình Báo tổ chức đưa vào Hà Nội. Khi ấy gia đình tôi đã từ làng quê Linh Quy về Hà Nội được một năm. Tôi được đưa về làng Gia Quất. Làng này có một ông làm công chức sở Hỏa Xa, ông đi làm bằng xe đạp, sáng đi chiều về. Tôi có số nhà thầy mẹ tôi ở Hà Nội. Tôi viết thư nhờ ông mang đến nhà cho thầy mẹ tôi. Sáng hôm sau…

Tết ra được ít ngày. Buổi sáng khoảng 8 giờ tôi còn ngủ, thầy tôi từ Hà Nội sang đón tôi. Thầy tôi sang bằng xe xích lô.  Ông mang cho tôi cái áo sơ-mi, cái áo sợi vì trời còn lạnh, cái quần tây, đôi giép săng-đan, tôi bỏ lại bộ quần áo nâu, theo thầy tôi lên xe xích-lô vào thị trấn Gia Lâm.

Những năm ấy người muốn vào Hà Nội phải có giấy gọi là Laissez-passer, giấy do Pháp cấp. Thầy tôi đưa tôi vào sở công an làm đơn xin giấy Laissez-passer.

Đơn xin nộp buổi sáng, giấy Laissez-passer được phát vào lúc 4 giờ chiều. Mọi người đều được giấy phép, nhưng giấy của tôi – giấy của anh Dương Trọng Hải không thấy có – Thầy tôi hỏi, người ta chỉ cho ông vào văn phòng của ông Trung Úy Pháp.

Nhiều năm về sau khi đọc hồi ký của ông Vương Hồng Sển, tôi thấy ông kể chuyện có thời ông làm thông ngôn cho ông Xếp Tây Chủ Tỉnh, ông được gọi vào văn phòng ông Xếp Tây và ông ‘ đứng bàn thông dịch.”

Chuyện nhỏ thôi nhưng tôi nhớ khi thầy tôi, viên thư ký được gọi vào làm phiên dịch, đều đứng trước bàn viên Trung Úy. Không ai được ngồi. Thời Pháp viên chức thông ngôn không được ngồi trong văn phòng Xếp Tây.

Có lúc người thông ngôn – một thư ký trạc 30 tuổi – thông dịch một câu gì không đúng, thấy tôi sửa, bằng tiếng Pháp. Người thư ký có vẻ giận, ông nói với thầy tôi:

– Ông nói được, sao ông không nói? Nhờ tôi làm gì?

Thầy tôi nói:

– Xin lỗi ông. Tôi nói kém lắm. Nhờ ông giúp cho.

Ông Trung úy Pháp hỏi tôi sao tôi không cùng về Hà Nội với gia đình tôi, tôi nhanh trí nói tôi sang bên kia sông Đuống, huyện Tiên Du, để theo trường học.

Chắc vì thấy tôi mới 13, 14 tuổi, mặt non choẹt, không thể là cán bộ Việt Minh, sau cùng ông Trung Úy ký Laissez-Passer cho tôi đi vào Hà Nội.

Khi ấy cầu sông Hồng đã cấm xe qua lại, nhưng người đi bộ vẫn còn được đi qua. Bố con tôi lên cầu lúc 5 giờ chiều. Khi đi đến một doạn cầu tôi nhìn về bên phải, thấy mờ xa con đê và xóm làng với những lũy tre xanh, tôi tưởng như tôi nhìn thấy làng Hương Canh, và ụ súng ven đê

Đến lúc ấy tôi mới hỏi thầy tôi:

– Sao thầy không nói tiếng Pháp?

Thầy tôi trả lời:

– Thầy sợ thầy nói tiếng Pháp con không biết thầy nói gì.

Nhiều năm sau tôi kể chuyện đó với anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh nói:

– Chỉ có người làm cha thương con mới nghĩ được và nói được như thế.

Bố con tôi đi bộ qua cầu. Sang Hà Nội thầy tôi đưa tôi vào tiệm tạp hóa Tầu, mua cho tôi khăn mặt, bàn chải đánh răng, tuýp kem đánh răng Gibbs.

Như vậy là tôi đi xa thành phố đến 4 năm. Tôi trở lại với đèn điện, nước máy, xe điện, xe đạp, phở, kem, trường học và những rạp xi-nê. Sau bốn năm tôi thấy đời sống  Hà Nội không thay đổi gì nhiều. Có hai cái mới là những chiếc áo đi mưa bằng nylon, và loại bút bi được gọi là bút nguyên tử, bút Bic.

Năm 1976 tôi bị bắt đi tù 2 năm. Trở về mái nhà xưa, tôi thấy Sài Gòn không có gì mới đáng kể.

Tôi bị bắt đi tù lần thứ hai – 6 năm, từ năm 1984 đến năm 1989 – từ nhà tù trở vế lần này tôi thấy Sài Gòn có cái mới là đầu máy video. Những năm xưa ấy đường phố nào của Sài Gòn cũng có nhà cho mướn đầu máy và phim video.

Kể từ năm 1956 năm năm đến những ngày gần Tết tôi đều viết một, hai bài,  gọi là bài Tết, bài Xuân. Năm nay Tết đến, tôi không viết bài Xuân nào cả.

Hoàng Hải Thủy

Tin tức khác...