Marco

Lời người dịch: Dacia Maraini chào đời ở Tuscany, Italy năm 1936. Năm 1938, để trốn tránh sự bành trướng của chủ nghĩa Phát-xít ở Italy, gia đình bà dời sang Nhật Bản và bị cô lập trong trại tập trung ở Nagoya từ 1943 đến 1946 vì vào thời kỳ đó Đế Quốc Nhật Bản là đồng minh của Mussolini. Thuở bé, đọc những cuốn sách kể các chuyến phiêu lưu, mạo hiểm mà những nhân vật chính luôn là đàn ông, Maraini “trở nên bất bình vì sự kiện không cuộc phiêu lưu lớn lao nào được thực hiện bởi nữ giới”. Sau khi ly dị với người chồng họa sĩ ở Milan, bà sống chung với Alberto Moravia – một nhà văn nổi tiếng của Italy – từ 1962 đến 1983. Bà viết tiểu thuyết, viết kịch cho sân khấu và kịch bản cho phim. Các tác phẩm của Maraini mang màu sắc nữ quyền qua các đề tài vai trò người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, vai trò làm mẹ, vấn đề phá thai, nỗ lực xóa bỏ cách suy nghĩ cho rằng người phụ nữ chỉ đơn thuần là đối tượng của tình dục… Bản tiếng Việt của truyện ngắn Marco HC dịch từ truyện ngắn cùng tên trong tập My Husband, bản Anh ngữ của Vera F. Golini, xuất bản tại Canada năm 2004 bởi Wilfrid Laurier University Press.

 

Khi chúng tôi lấy nhau, anh ấy còn đang học đại học, thêm hai năm nữa mới ra trường kỹ sư. Anh chẳng bao giờ học bài. Anh vẫn bảo anh thà ngồi ngắm bàn chân tôi.

Bàn chân tôi, rất “quyến rũ” với anh, thì dài cứng như hai xác ướp trong nước đá với sự tĩnh lặng và sức nặng của những trọng lượng đã chết. Bạn có thể bảo tôi bước đi bằng cẳng chân chứ không phải bàn chân; thực ra hai bàn chân tôi di chuyển nặng nề, như hai miếng đá cẩm thạch gắn vào mắt cá. Marco có thói quen nghiên cứu bàn chân tôi, anh nằm dài bất động trên giường hàng giờ, áp bàn chân tôi lên ngực, ngắm nghía say mê. Tôi hơi chán trò chơi này nhưng cũng để mặc anh. Tôi chả có sự ưa chuộng đặc biệt nào đối với hai bàn chân ngu ngốc và vô nghĩa của mình.

Nếu như không nhìn đăm đăm bàn chân tôi, thì Marco hoặc ngủ hoặc nằm nhắm hờ hai mắt, thì thầm kể cho tôi nghe những kỷ niệm thời thơ ấu. Đúng ra Marco sống cho dĩ vãng. Trong đầu anh lúc nào cũng đầy ắp hồi ức về những người và những biến cố trong quá khứ. Anh chẳng bao giờ nghĩ về tương lai và nhìn hiện tại như một cái gì đó rối rắm, đớn đau và phi lý. Bất cứ lúc nào có thể là anh bỏ quên hiện tại và trốn biệt vào quá khứ.

Chính vì thế mà điểm học của anh chẳng có gì đáng hãnh diện, và ba anh, cũng là một kỹ sư, người nuôi anh ăn học, thường xuyên la rầy anh.

Marco vẫn bảo bàn chân tôi làm anh nhớ lại pho tượng dựng trong một khu vườn ở vùng Lombardy, nơi anh trải qua thời niên thiếu.

“Pho tượng ấy giống cái gì?”

“Hơi giống em, nhỏ, trắng, tròn trĩnh, với hai dải tóc vắt ngang vành tai, cặp vú nhỏ, đôi cẳng chân lớn, trắng, bàn chân đẹp như bàn chân em với lớp thịt u lên ở mu bàn chân, giống hệt chân em.”

“Sao anh lại thích chúng?”

“Anh thích nhìn chúng. Khi biết chắc không ai nhìn thấy, anh cúi xuống hôn và có khi còn liếm chúng một tí.”

Anh thường kể cho tôi nghe về mẹ anh, con người thực sự và chín chắn biểu hiện trong trí tưởng tượng anh thành hình ảnh pho tượng. Mỗi khi nói với tôi về mẹ mình, mắt anh rạng rỡ.

“Em có biết mẹ anh giống gì không?”

“Em tưởng tượng là mẹ anh rất đẹp.”

“Không đâu. Mẹ anh vô trọng lượng. Khi chiến tranh kéo về, mẹ anh bay đi.”

“Mẹ anh mất à?”

“Không. Mẹ anh biến đi. Anh không biết có phải mẹ anh chết hay không, bà chỉ biến đi thôi. Thuở ấy, mẹ rất giống pho tượng, trẻ và đẹp cho dù mẹ mặc áo quần xấu xí, in toàn hình bông hoa đen.”

“Hồi đó mẹ anh làm gì?”

“Không làm gì hết. Mẹ thường nằm dài trên ghế, đọc báo hay nhìn đăm đăm vào khoảng không với vẻ thất vọng trên nét mặt. Anh chơi đùa quanh đó, không bao giờ đi xa. Nhiều khi anh lại quấy rầy mẹ và mẹ lấy tay khẽ đẩy anh đi. Anh thương mẹ anh lắm: mẹ là người phụ nữ đẹp nhất thế gian.”

Marco và tôi chia sẻ cuộc sống tĩnh lặng được vài tháng trời thì ba anh dọa sẽ cắt nguồn tài trợ nếu Marco không chịu học hành tử tế. Chiều lòng bố mình, Marco trở lại học, nhưng lè phè cho có; anh luôn ngừng học bài để nói cho tôi nghe về anh, về thời thơ ấu, về mẹ của anh, về pho tượng cẩm thạch, và khu vườn.

Hàng ngày, cứ khoảng bốn giờ tôi ra chợ mua thức ăn làm bữa tối, bỏ anh một mình cắm cúi trên bàn học, trước trang sách. Khi về đến nhà, bao giờ tôi cũng thấy anh nguyên vẹn như lúc tôi đi, cùng một tư thế, bất động, nhìn đăm đăm vào bóng tối trống rỗng. Tôi với tay bật đèn. Marco không nhúc nhích.

“Anh có học không đấy?”

“Có chứ.”

“Sao trời tối mà anh không mở đèn lên?”

“Em biết anh nghĩ điều gì cách đây một phút không?”

“Điều gì?”

“Nghĩ tới mẹ lúc bà mười bẩy tuổi. Bố anh là nông dân. Mẹ từ Milan, với dáng vẻ thị thành làm thiên hạ rụt rè né tránh. Mẹ anh là hoa khôi khi là thiếu nữ; mỗi tuần mẹ xuất hiện với một người đàn ông khác. Cái váy của mẹ rộng đến nỗi mỗi khi mẹ cử động, tà váy xoay vòng, phô bày mắt cá chân của mẹ.”

“Nhưng làm sao anh biết về mẹ anh khi bà mới mười bẩy tuổi?”

“Anh có thể tưởng tượng ra được.”

“Sao anh không chú tâm vào việc học vậy?”

“Mẹ buộc tóc theo cái kiểu rất dịu dàng và trang điểm với những bông hồng nhỏ bằng vải. Anh có thể nói là ba anh phải lòng mẹ anh vì kiểu tóc và vì những chiếc váy đầm kiểu Paris hơn là phải lòng với chính mẹ. Ba anh suốt đời non nớt. Em có biết ba hay gọi mẹ như thế nào khi họ đính hôn không? Mèo Con. Còn tên gọi nào xấu xí hơn thế nữa chứ? Vậy mà ba anh nghĩ là ông ấy lấy mẹ anh vì tình yêu. Đúng là lão ngốc!”

“Vậy thì ba anh lấy mẹ anh vì cái gì?”

“Bởi vì mẹ anh chán rồi. Ba anh theo đuổi mẹ anh suốt mười năm trời, từ khi ông còn là một thằng nhóc và mẹ còn là một con bé trán thấp chẳng quyến rũ chút nào. Mẹ anh đã quen yêu những thanh niên đẹp trai, khiêu vũ, cười đùa, ân ái, trong khi ba anh bận tâm với ba thứ giấy tờ lăng nhăng. Vậy mà ba anh muốn cưới mẹ anh bằng mọi giá, và cuối cùng ông cũng được toại nguyện. Mẹ anh chán tránh né hoài nên đã nhận lời cầu hôn của ba anh để làm bẽ mặt những gã thanh niên khác lòng thì muốn cưới mẹ anh mà không dám mở miệng ngỏ lời. Thành ra, sau mười năm nói không được, mẹ anh đã trả lời được, mình làm đám cưới rồi về miền quê sống.”

“Rồi sau đó?”

“Sau đó, chẳng có gì. Mẹ chán hơn lúc trước, và khi chiến tranh bùng nổ, mẹ biến mất.”

“Mẹ anh trốn đi với người đàn ông khác à?”

“Lúc anh còn nhỏ, mẹ anh hay đút ngón tay vào miệng anh.”

“Ai?”

“Mẹ anh, để xem anh có mọc răng nào mới chưa. Anh mắc cỡ nhất là khi có mặt ba anh ở đó. Nhưng anh thích cái cảm giác ngón tay tròn trịa của mẹ trong miệng anh. Đầu tiên, mẹ thò một ngón tay vào, rà dọc theo nướu răng anh, cảm nhận và đè nhè nhẹ; rồi mẹ đẩy thêm ngón nữa, rồi ngón nữa. Khi mẹ lấy tay ra, nước rãi anh chảy ra, anh xấu hổ đỏ bừng mặt chạy đi. Mẹ cười và vỗ nhẹ đầu anh.”

“Sao anh không lo học đi mà cứ ngồi nghĩ tới mẹ anh hoài vậy?”

“Anh học rồi, bây giờ anh mệt mỏi. Em biết mẹ kết thúc thế nào không?”

“Thế nào?”

“Mẹ chết cháy trong trận oanh tạc.”

“Anh nói là mẹ biến mất mà?”

“Thì đúng vậy, chết cháy, biến mất, có khác gì nhau đâu.”

“Bây giờ anh học bài khoảng một tiếng nhé, rồi mình ăn tối. Sau đó nếu anh muốn thì mình đi coi phim.”

“Anh không muốn đi. Em cũng biết là anh không muốn ra ngoài. Mình ở nhà rồi anh sẽ kể cho em nghe chuyện mẹ anh lúc bà còn con gái.”

“Anh kể em nghe rồi mà.”

“Anh có thể kể em nghe hoài mà không hết chuyện về mẹ anh. Em biết không, mẹ anh thường hút lòng trứng gà ra khỏi vỏ bằng cách dùng móng tay đục hai lỗ nhỏ xíu. Mẹ làm hay lắm, chỉ cần lấy ngón trỏ gõ nhẹ là một mảnh vỏ rơi ra. Rồi mẹ gõ đầu kia và bắt đầu mút. Hoặc là anh có thể kể em nghe về cái lần mẹ tắm hơi và ngồi bệt trong nhà tắm, phía sau cánh cửa lắng nghe tiếng lò hơi rì rầm. Anh khóc, đòi vào, nhưng mẹ chỉ cười mà không chịu mở cửa. Rồi mẹ bước ra, khăn tắm quấn quanh thân thể đỏ au. Mẹ tròng áo ngủ ny lông, anh đòi vạch ra coi, mẹ lấy chân đẩy anh. Mẹ đá khẽ vào người anh đuổi anh đi, nhưng anh không chịu đi bởi vì được ở gần mẹ là anh vui sướng.”

“Em nấu món ăn tối cho anh nhé.”

“Không. Chờ đã. Anh đã bao giờ kể em nghe về cái lần mẹ bắt gặp anh ôm chân pho tượng chưa nhỉ?”

“Nếu em không nấu ăn bây giờ là mình khỏi ăn tối luôn đó. Muộn rồi.”

“Được, để anh phụ em một tay.”

Sau hai năm học, Marco thi bốn lần và rớt mất hai. Ba anh giảm tiền trợ cấp hàng tháng xuống một nửa. Marco với tôi phải ăn trứng luộc và rau sà lách như thể đang sống trong thời chiến, nhưng anh không buồn cũng không bực bội. Sống nghèo khó chẳng làm Marco bận tâm bởi, anh bảo, lối sống ấy gợi anh nhớ lại thời thơ ấu.

“Hay là em đi tìm việc gì làm đỡ.” Tôi nói.

“Em muốn làm gì thì làm. Anh có quá nhiều bài vở phải học, nhưng suốt ngày không có em anh biết làm gì đây?”

Chúng tôi nằm dài trên giường và Marco ôm lấy bàn chân trần của tôi, vỗ về và hôn lên đấy, con mắt nhắm nghiền như đang ngủ, nhưng thực ra anh đâu có ngủ.

“Anh đang nghĩ gì thế?”

“Thời anh còn là một cậu bé.”

“Sao anh không nghĩ đến hiện tại, nghĩ đến em? Anh đã lớn rồi mà.”

“Thứ Hai nào anh cũng thức dậy lúc năm giờ sáng cùng với con ông hàng thịt để xem mấy người nông dân giết cừu. Anh bước vào căn phòng rộng và tối hù, máu me tung tóe trên nền xi măng. Một bên có một đống cỏ khô, một cái bàn với những cái sô, những con dao cắt, dao cạo rải rác khắp nơi. Ở trong ấy rất lạnh ngay cả giữa mùa hạ. Ba của thằng bạn anh đi vào, đeo một cái yếm nhựa thật lớn, kềm một con cừu giữa hai chân ông ấy, kê người nó lên một gốc cây cụt và dùng dao cắt cổ nó. Máu không vọt ra, trong khi anh thì lúc nào cũng chờ coi. Nhưng máu chỉ nhỏ từng giọt tươi, đen nhánh, tụ thành dòng trên nền nhà, tuôn xuống một hố sâu, đông lại và bốc ra cái mùi ngọt ngào nhưng nặng nề. Cái hố ấy che kín bởi lũ ruồi. Con cừu nhìn thẳng vào mặt anh như nói: thằng ngốc, mày làm gì ở đây vậy, đồ con heo? Anh thấy cảm giác nhói lên trong bao tử trộn lẫn với cảm giác thích thú và kích thích. Mắt anh dính cứng vào bàn tay người đồ tể hoặc dòng máu nhỏ giọt.”

“Sao anh không nghĩ tới em? Em đang ở ngay bên cạnh anh nè. Tuổi thơ của anh đã chết rồi.”

“Có nhiều thứ không bao giờ chết.”

“Em không nhớ về tuổi thơ em chút nào hết.”

“Đó là vì em sống với hiện tại, em không hạnh phúc bởi chỉ có dĩ vãng mới đem lại hạnh phúc cho chúng ta.”

“Ngồi tưởng nhớ dĩ vãng thì đẹp ở chỗ nào?”

“Đó là điều đẹp nhất trên thế gian. Mỗi khi nhớ về một điều gì đó, anh mới sống thực, khi không nhớ thứ gì thì anh không thấy khỏe trong người, anh như đã chết rồi.”

“Tại sao vậy?”

“Bởi vì hiện tại có bao nhiêu thì là bấy nhiêu thôi, trong khi ký ức luôn luôn có nhiều hơn mình tưởng.”

“Có những cái gì?”

“Một sự méo mó, lệch lạc kỳ diệu làm đầu óc anh quay cuồng.”

Một ngày kia vào lúc xế trưa, ba của Marco đột ngột ghé thăm khi chúng tôi đang nằm trần truồng bên nhau trên giường. Tôi lắng nghe Marco nói bằng cái giọng mê sảng, trầm trầm, đơn điệu với con mắt nhắm nghiền và hai tay ôm lấy hai bàn chân tôi ép sát vào lồng ngực.

Tôi không tưởng tượng nổi vì sao cánh cửa lại không khóa. Chúng tôi chỉ phát hiện ra sự xâm nhập của ông khi ông đã bước vào cửa phòng ngủ và nhìn thấy hai đứa tôi trần truồng. Tôi hét lên và kéo vội cái chăn che ngang ngực. Marco mở mắt, nhìn bố, và vẫn nằm bất động.

“Lão già ngu ngốc muốn cái gì đây?” anh nói bằng giọng đùa cợt.

Ông già bắt đầu la lớn đến nỗi chúng tôi không hiểu nổi ông ta nói gì. Marco không thèm kéo chăn che thân thể mình. Sau vài phút, ba của Marco bắt đầu đá đạp đồ đạc, xô đổ mọi thứ trong tầm tay, và bằng một cú đấm, ông đập tan tành tấm gương treo trên tường thành muôn vàn mảnh vụn. Chỉ cần một cú đá hung bạo, bàn học của Marco nghiêng đổ, quăng tất cả sách vở trên ấy xuống. Đầu loang máu nhưng ông ta vẫn không dịu đi chút nào. Một lát, ông nắm lưng chiếc ghế dựa và quăng về phía Marco.

Marco nói, “Ông là một lão già ngu xuẩn.”

Thái độ lạnh băng và giọng nói giận dữ của Marco làm ông già ngừng lại, ông buông cái lưng ghế gẫy và ngồi thụp xuống giường khóc nức nở.

“Con trai tao chết rồi,” giọng ông tức tưởi. “Marco của tao đã chết. Tao không bao giờ còn gặp nó nữa. Mọi sự đã xong xuôi hết rồi.”

“Đem cái nước mắt cá sấu của ông đi khóc chỗ nào khác đi.” Marco hét vào tai bố.

Ông già đứng dậy, lấy góc khăn trải giường chấm nước mắt, và lủi thủi bước đi, miệng không ngừng lẩm bẩm rằng con trai ông đã chết và mọi chuyện đã kết thúc.

Từ hôm ấy chúng tôi không nhận được một đồng xu trợ cấp nào từ ông nữa, thành ra chúng tôi phải xoay sở bằng cách bán dần đồ dùng trong nhà. Rồi tôi tìm được việc làm với một công ty du lịch và cứ giờ tan sở Marco lại đến đón tôi. Bao giờ cũng vậy, vừa thấy mặt anh là tôi hỏi hôm nay có học hành đàng hoàng không.

“Dĩ nhiên,” anh trả lời. Nhưng tôi biết sự thật không phải vậy.

Đồng lương eo hẹp của tôi cho phép hai đứa sống rất khiêm tốn trong một phòng độc thân của chung cư. Marco lúc nào cũng ở nhà, trong khi tôi bương chải bên ngoài. Thỉnh thoảng anh gọi điện thoại cho tôi từ quán cà phê ở bên dưới để hỏi có gì lạ không.

“Không có gì lạ hết. Anh đang học bài hả?”

“Ừ.”

“Anh học tới khúc nào rồi?”

“Đang tới khúc đặc biệt. Anh nghĩ chắc anh sẽ thi vào tháng Mười, nhưng anh muốn kể em nghe một chuyện mới xảy ra cho anh trưa nay trong lúc anh đang học bài.”

“Chuyện gì?”

“Lúc anh đang cố hình dung một điều gì đó thì cảm thấy bị một cú đánh vào đầu. Anh quay lại nhưng chẳng thấy ai hết. Anh không hiểu đó là cái gì. Anh thấy khó chịu trong người và anh tiếp tục nghe tiếng ù ù trong đầu. Mắt anh nóng bừng và anh chạy vội vào nhà tắm hứng đầu dưới vòi nước. Anh sững sờ đứng một lát dưới vòi nước chảy mạnh. Rồi với cái mặt ướt nhèm và con mắt sưng húp, anh nhìn ra ngoài cửa sổ. Em sẽ không thể nào tin được đâu… Anh nhận ra cái điều anh nhìn thấy không phải là bãi đậu xe trước đó với từng hàng xe đậu mà là một khu vườn với những hàng giậu và cây cối. Anh hoàn toàn không hiểu chuyện gì xảy ra. Đồng thời anh cảm thấy vô cùng dễ chịu. Cái đau biến mất và anh bắt đầu thở bình thường trở lại và anh nhận ra rằng cái anh đang nhìn thấy trước mặt là khu vườn của anh.”

“Marco, anh bị ảo giác rồi.”

“Không, đúng là khu vườn nhà anh. Và em thử đoán cuối vườn có cái gì, phía sau hàng giậu và những cây trúc đào là pho tượng. Pho tượng mẹ anh! Ngay cả đứng từ xa anh cũng nhìn thấy rõ bàn chân trần của mẹ sáng lên trong nắng. Anh đứng đó, bị thôi miên, nhìn trừng trừng vào mọi thứ, lòng lo lắng chúng sẽ biến đi bất kỳ phút giây nào. Nhưng mà em có tưởng tượng ra là anh thấy ai ở phía sau, ngồi xổm, chơi với những viên sỏi không? Anh đấy. Đúng là anh! Anh mặc áo quần ngắn, đội mũ mầu vàng, ngồi chơi say mê tới mức không nhận ra là có người đang nhìn mình. Rồi anh nghe tiếng mẹ anh từ trong nhà vọng ra, rồi anh nghe tiếng chân mẹ bước trên sỏi. Tim anh đập rối lên và anh nghĩ chỉ một phút nữa thôi là anh sẽ thấy mẹ. Và anh cầu cho mẹ mặc áo đầm có hoa uất kim hương mầu đen. Mà đúng vậy, mẹ ra tới. Mẹ bước đi thong thả, lười biếng và ham chơi, vạt áo đầm hoa mầu đen múa may quanh đôi chân của mẹ. Rồi một tiếng còi xe làm anh giật mình và tất cả biến đi. Tất cả biến đi dễ dàng như thế đấy. Anh ngồi trên bệ bồn tắm, thất vọng tràn trề.”

Đêm hôm ấy khi anh đến gặp tôi sau giờ làm việc, tôi nhận ra là anh đang bệnh. Khuôn mặt anh méo mó, hai mắt đỏ ngầu, sưng vù và cằm anh bạnh ra.

“Sao mình không đi coi phim nhỉ, coi cho vui?”

“Không.”

“Thế anh muốn làm gì?”

“Về nhà.”

“Em cảm thấy khó chịu trong cái phòng nhỏ ngột ngạt lúc trời nóng như thế này.”

“Đi em, anh chỉ em coi cái này.”

Về đến nhà anh bảo tôi ngồi xuống giường và đặt một cuốn sách vào tay tôi. Tôi mở ra. Trên cái tựa của trang đầu, nét chữ viết trẻ con ghi tên anh và ngày tháng: Marco Annoni, ngày 1 tháng 6, 1942. Phía dưới dán một tấm hình đã nhạt mầu của một khuôn mặt gầy gò, buồn bã, và cau có với hai con mắt sáng nhưng u uẩn.

“Anh đây hả?”

“Anh sẽ không bao giờ còn được như thế nữa,” anh nói.

“Sao anh lại thích như hồi đó? Bây giờ anh được hơn chứ, một người đàn ông bảnh bao.”

“Ba anh nói đúng; Marco đã chết rồi.”

“Thế còn anh, anh là ai?” Tôi hỏi.

“Anh là một sự tăng trưởng bất thường, một cái mụn cóc, là thứ gì đó mà anh không buồn bận tâm, một sự ráp nối khôi hài.”

“Còn em thì sao, em có hiện hữu không?”

“Cả hai đứa mình đều không hiện hữu. Đời sống tụi mình tăm tối, u buồn, vô nghĩa, và tầm thường, như đời sống của tất cả những người khác. Lúc còn là một đứa bé anh khác hẳn, anh đặc biệt. Bây giờ anh gớm ghiếc, ghê tởm.”

“Anh không yêu em à?”

Thay vì trả lời, Marco ngồi xuống nền nhà, lột trần hai bàn chân tôi, nâng niu trong tay anh và cúi đầu liếm chúng.

Hai hôm sau anh lại gọi cho tôi ở chỗ làm, và tôi có thể nhận ra trong giọng nói anh cái hoảng hốt cùng một lúc pha lẫn với sự phấn chấn.

“Có chuyện gì vậy?”

“Nó lại xảy ra nữa.”

“Cái gì?”

“Cú đánh vào đầu anh, cái đau, hình ảnh khu vườn anh nhìn thấy từ cửa sổ phòng tắm.”

“Để em gọi bác sĩ, chắc anh bệnh rồi đó.”

“Anh không sao hết. Đẹp lắm em biết không?”

“Cái gì đẹp?”

“Hình ảnh. Mẹ anh đi về phía luống cây thược dược, bước chân nhẹ nhàng, dáng vẻ trầm tư, mặc áo đầm có hoa uất kim hương mầu đen. Mặt mẹ xanh xao, với những quầng thâm quanh hai con mắt. Nhưng khi nhìn thấy anh, thay vì mỉm cười, mẹ lại tìm cách dùng chân đẩy nhẹ anh như hồi anh còn nhỏ. Giọng của mẹ nghiêm khắc và lạnh lùng khi mẹ bảo anh ‘Nếu con không lớn thì mẹ đã không bị thay đổi thế này. Nếu con đừng có hai cánh tay dài như thế thì mẹ vẫn còn sống. Nếu chân con không dài ra như thế, thì mẹ vẫn còn trẻ. Nếu râu con không mọc rậm thì mẹ vẫn còn là một cô gái. Nếu con không có một bộ râu rậm và cứng như thế thì mẹ đã không già đi và chết. Con làm hư mọi chuyện. Con muốn mau lớn, muốn thành một người đàn ông.’ Khi mẹ đến gần hơn, anh thấy mặt mẹ mướt xanh và cứng như thể làm bằng đá. Giọng của mẹ trở thành sắc bén và đau đớn: ‘Nếu con đừng lớn, thằng bé ích kỷ ơi, thì làm sao những điều kinh khủng ấy xảy ra được. Bây giờ mẹ xấu xí và rã mục. Nếu con đừng lớn lên thì mọi chuyện vẫn còn như ngày xưa.’ Mẹ nói như thế, và anh thì không muốn khóc, nhưng anh vẫn khóc; Anh muốn la lớn lên rằng không phải lỗi tại con, rằng con sẵn sàng từ bỏ cuộc sống của mình để được lùi về quá khứ, để đổi lại tuổi trẻ cho mẹ. Nhưng anh không thể mở miệng. Thành ra mẹ giận dữ bỏ đi, quay lưng lại anh mà không một lời từ giã.”

Tôi nghĩ là mình nên đến gặp bố chồng để nói cho ông biết. Tôi sợ là Marco bệnh nặng lắm rồi. Nhưng hai ngày sau, trong văn phòng, tôi được tin Marco quăng mình ra ngoài cửa sổ. Tôi chạy vội về nhà. Người ta tìm thấy xác Marco, đã lạnh, dưới sân, trên mui một chiếc xe dài mầu xanh da trời. Anh bị chấn thương sọ và chết liền tại chỗ.

Tôi dọn về ở với bà chị, nơi tôi đã sống trước khi kết hôn với Marco. Từ tất cả những gì chúng tôi có trong căn nhà, tôi chỉ giữ lại cuốn sách với tấm hình của anh thời thơ ấu. Nhưng tôi không bao giờ nhìn nó vì đó là một ký ức buồn, và vì vậy tôi cũng không bao giờ nhìn về dĩ vãng.

Bản tiếng Việt
– Hoàng Chính

Tin tức khác...