Insulin cứu người và giết người!

Carla Smith, 30

Chu Nguyễn

Cơ thể học cho biết, con người có một tuyến quan trọng gọi là tuyến tụy. Tuyến tụy (tụy tạng) là một cơ quan ở bụng là một phần của hệ tiêu hóa và hệ thống nội tiết. Nó dài khoảng 15,24 cm, hình chữ nhật, và bằng phẳng, đôi khi được mô tả là như chữ J. Đó là một cơ quan dạng tuyến tạo thành như một hệ thống ống dẫn. Nó có chức năng vừa là tuyến nội tiết và ngoại tiết. Trong bệnh tiểu đường, thì tuyến tụy (pancreas) ngừng hoặc yếu, trong việc tiết ra chất hóc-môn insulin (hormone insulin) là chất rất cần để điều hòa số lượng đường (glucose) có trong máu trong việc dinh dưỡng cơ thể, vì máu thừa chất đường quá nhiều (hyperglycemia) có thể dẫn tới hiện tượng hôn mê và gây ra tử vong nếu không trị liệu kịp.

Người bình thường, nếu bị tiêm một liều lượng quá nhiều insulin cũng có thể gây ra tử vong, vì chất này làm giảm đột ngột tỷ lệ đường trong máu xuống dưới mức trung bình. Việc giảm này nguy hiểm, gây ra bệnh thiếu đường trong máu với các triệu chứng như: bàng hoàng, co giật, nôn mửa, bực bội khó chịu, ra mồ hôi quá nhiều và sau cùng là hôn mê.

Được biết, Insulin là một kích thích tố được phát kiến năm 1921 và trở thành liều thần dược trị bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, insulin nếu dùng để giết người thì lại là một khí giới tương đối hoàn hảo vì khoa học pháp y dù tiến bộ tới đâu cũng khó lòng mà chứng minh một cách đầy thuyết phục thủ phạm đã dùng chất này để lấy mạng nạn nhân. Kể từ 1921, đã có nhiều vụ án mà nghi can bị truy tố về tội dùng insulin để giết người nhưng chưa có vụ nào nổi tiếng bằng vụ nữ triệu phú Martha “Sunny” Von Bulow ở Mỹ phải nằm liệt trong hơn 27 năm trời trong tình trạng hôn mê mà người ta ngờ rằng bị người chồng cũ là Claus Von Bulow tiêm chất insulin vào cơ thể với mục đích sát hại để hưởng gia sản. Vụ án Von Bulow được xử nhiều lần ở Mỹ trong thập niên 80 và có tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên nếu kể tới thủ đoạn sát nhân bằng insulin đầu tiên gây nhiều tranh cãi phải kể tới vụ án Elisabeth Barlow ở Anh vào năm 1957.

Năm 2017 vụ một bà mẹ chích insulin cho bạn trai khiến anh ta tử vong đã được tòa mang ra xét xử.

Phải chăng vì đùa giỡn với người tình nên mang án giết người?

Nguồn tin ngày 17 tháng 5, 2017, cho biết tòa án Leeds Crown Court, đã xét xử một vụ án do insulin gây ra. Bạn tình bị sát hại vì bị tiêm insulin quá liều, phải chăng kẻ dùng insulin làm “vũ khí” thực sự muốn sát hại người yêu hay chỉ vì đùa dại gây nên bi kịch?

Bị truy tố ra trước tòa là Carla Smith, một bà mẹ 30 tuổi. Carla có bạn tình là Jake Davenport, 24. Họ thường hú hí ban đêm tại căn hộ ở Amley, Leeds. Ngoài việc cùng nhau hít cocaine, họ còn bày trò vật lộn hay “song mã tranh châu”(horseplay) làm vui. Trong lúc vui đùa, Carla thường bị chàng tuổi trẻ khống chế trong vòng tay và thường cợt nhả thách đố bạn tình làm cách nào thắng anh ta.

Nào ngờ vui quá hóa buồn, tử thần xuất hiện vào sáng sớm 15 tháng 11, 2015, khi bị khống chế, Carla đã thủ sẵn cây bút, thứ dụng cụ dùng để chích insulin (insulin pen) mà đứa con trai của cô ta bị chứng tiểu đường loại I (Type 1 diabetes) phải sử dụng hàng ngày. Thế là trong lúc bất ngờ nàng chích cho chàng ba liều insulin. Cả hai có lẽ trong lúc “yêu cuồng sống vội”chẳng mảy may quan tâm tới “việc nhỏ” như gãi ngứa này nên ngủ thiếp đi.

Vào lúc 5:30 sáng, Carla Smith lay bạn tình dậy thì chàng đã sùi bọt mép và bất động. Sau khi lấy dụng cụ thử máu cho nạn nhân và thấy lượng đường xuống thấp quá mức, lúc đó Carla mới nhận ra tình trạng nguy hiểm của bạn tình nên tìm cách cứu chữa nhưng vô hiệu. Xe cấp cứu được gọi tới nhưng nạn nhân đã không thoát khỏi tay tử thần.

Trong phiên xét xử, chánh án cũng như công tố viên đều cho rằng hành vi của Carla là chơi dại không hề nghĩ tới hậu quả (‘It was done for a laugh, apparently, and with little or no thought for the consequences) nên gây án mạng nên bị cáo chỉ lãnh án tù 40 tháng về tội ngộ sát.

Nữ y tá giết chồng bằng insulin?

Gây án mạng bằng cách sử dụng insulin thường gây tranh cãi. Khó biết chắc chắn, nạn nhân do bị chích insulin gây ra mức đường huyết hạ thấp dẫn đền tử vong hay tại cơ thể nạn nhân vào một lúc nào đó tuyến tụy tiết ra quá nhiều insulin dẫn tới mức hạ đường huyết và bệnh nhân vong mạng?

Bị cáo trong vụ án giết chồng là nữ y tá Deborah Winzar, thường được gọi là Dee. Dee làm việc tại bệnh viện Kettering General Hospital, có chồng là Nic (Dominic – ‘Nic’ – McCarthy). Họ gặp nhau nơi làm và bén duyên sau đó.

Nic vốn là một tay yêu chuộng thể thao và thể lực rất tốt nhưng không may sau một tai nạn xe hơi đã trở thành bán tàn phế vào năm 1984. Sau tai nạn suýt chết, Nic phải đi xe lăn nhưng vẫn năng nổ hoạt động để thích nghi với hoàn cảnh mới.

Gia đình bên ngoài xem ra đằm thắm vì vợ đi làm, còn chồng ở nhà và có nhiệm vụ đưa con trai ba tuổi tới trường mẫu giáo.

Nhưng rồi bi kịch xảy ra. Do thiên tai hay nhân họa?

Vào ngày 30 tháng 1, 1997, Dee tham dự một bữa party của một bác sĩ tại bệnh viện nên không về nhà mà đêm mà ngủ lại tại nhà một người bạn vì sáng sớm hôm sau có “ca” trực tại bệnh viện.

Sáng hôm sau vào lúc 9 giờ Dee, từ sở làm, gọi điện thoại cho chồng vì mấy ngày trước chồng không khỏe nhưng không ai bắt máy. Dee cũng phôn tới trường mẫu giáo nơi con nhỏ ba tuổi được gửi học, thì được trả lời là bé không được đưa tới lớp như thường lệ.

Thấy Dee tỏ ra lo lắng, nên bà hiệu trưởng trường mẫu giáo, Jane Lancaster-Adlam tình nguyện tới nơi nhà Dee ở để xem tình trạng bé thơ ra sao. Sau đó bà cho biết bé thơ an toàn nhưng bố nó thì hấp hối. Dee vội gọi cho số khẩn cấp 999 chở Dee tới bệnh viện và lái xe về nhà.

Hậu quả: Dee chết tại bệnh viện vì đường huyết hạ thấp đột ngột, rơi vào tình trạng “coma” không phương cứu chữa. Xét nghiệm máu (immunoassay test) thấy mức đường hạ thấp bất thường gây ra hiện tượng hạ đường huyết (hypoglycaemia) do chất insulin đột ngột tăng gây ra. Từ đó cái chết của Nic trở thành nghi án vì chàng trai tuy tàn phế nhưng khỏe mạnh sao đột nhiên đường huyết hạ thấp dẫn tời tử vong? Lập tức Dee bị nghi ngờ là kẻ âm mưu, trong đêm lấy cớ là ngủ tại nhà bạn, sáng sớm đã lén lái xe về nhà chích insulin cho chồng chỉ vì đã chán cảnh “chồng bệnh con thơ.”

Vụ án gây ra tranh cãi vì không có bằng chứng trực tiếp Dee đã gây ra cái chết của Nic, mà chỉ do suy luận, cho thấy Dee có thể làm việc này trong cái đêm oan nghiệt ở nhà chỉ có đứa trẻ ba tuổi không thể thuật lại những gì xảy ra giữa mẹ và cha dẫn tới cái chết của cha nó!

Kết quả vào năm 2000 Dee lãnh bản án tù dài hạn dù sau đó đã mấy lần chống án nhưng thất bại.

Chồng giết vợ bằng insulin?

Ngày 3 tháng 5, 1957 có người gọi điện thoại báo cho cảnh sát Bradford biết ở khu phố Crescent có một phụ nữ là Elizabeth Barlow, 30, bị chết đột ngột trong buồng tắm.

Hiện trường là một căn nhà bình thường như mọi căn nhà khác, bếp ở tầng dưới, phòng ngủ và buồng tắm ở lầu hai. Bác sĩ đợi nhân viên điều tra ở cầu thang với một người đàn ông còn trẻ. Người đó là Kenneth Barlow 33 tuổi, chồng của Elizabeth Barlow, một y tá tại bệnh viện St Luke’sHuddersfield, một thị trấn gần Bradford.

Cảnh sát nhận thấy, xác một phụ nữ khoảng 30 tuổi, nằm nghiêng trong bồn tắm đã tháo hết nước. Trước khi chết nạn nhân bị nôn mửa. Điều tra viên thấy hai đồng tử của người chết giãn rất nhiều. Điều tra viên ghi lại những gì mà Barlow thuật lại đại khái như sau:

“Elizabeth làm công trong một hiệu giặt ủi. Cả hai vợ chồng cùng được nghỉ một ngày. Sau khi uống trà hồi 5 giờ chiều, vợ ông đi nằm, nhưng nói với ông đánh thức bà lúc 7 giờ tối để xem TV. Khi đang xem, vợ ông thấy khó chịu vội đi nằm và bị nôn. Thay khăn trải giường xong ông cũng đi nằm. Một lúc sau, vợ ông kêu nóng quá, người ra nhiều mồ hôi và đi tắm. Khoảng 11 giờ đêm, ông tỉnh dậy, không thấy vợ ở giường mà buồng tắm có điện sáng. Ông ngồi dậy chạy vào phòng tắm thấy vợ nằm mê man bất tỉnh trong bồn tắm. Ông cố gắng đưa vợ ra khỏi bồn tắm, nhưng nặng quá không nâng nổi nên đành tháo nước của bồn tắm và làm hô hấp nhân tạo.”

Điều tra viên xem xét trong phòng. Một chi tiết làm anh ta chú ý: quần áo ngủ mà Barlow mặc trên người khi làm hô hấp nhân tạo cho vợ vẫn khô nguyên. Ngoài điều này không có chi tiết nào khác đáng khả nghi. Mọi điều ăn khớp với lời khai.

Nhưng tại sao bộ quần áo của người chồng vẫn còn khô ráo?

Cảnh sát trưởng Harrogate nghi ngờ nên đích thân tới hiện trường để nghiên cứu.

Có một số chi tiết mà điều tra viên ban đầu không để ý lại làm cho cảnh sát trưởng phải suy nghĩ. Ví dụ, nếu Barlow đã thực sự tìm cách đưa vợ ra khỏi bồn tắm, thì tại sao buồng tắm vẫn khô, không có một giọt nước nào hay một vũng nước nào trên nền phòng tắm?

Hơn nữa, lòng bàn tay của nạn nhân ướt, chứng tỏ lời của Barlow khai đã làm hô hấp nhân tạo cho vợ là không đúng. Sau đó, cảnh sát còn phát hiện có hai ống tiêm ở góc nhà bếp, trong đó có một ống còn dính chất lỏng. Khi hỏi về điểm này, Barlow trả lời đó là dụng cụ nghiệp vụ y tá để chữa nhọt cho bản thân chứ không tiêm gì cho vợ.

Việc đồng tử mắt người chết giãn ra làm cho các nhà điều tra nghi ngờ lời khai của Barlow. Họ quyết định chuyển tử thi nạn nhân về phòng thí nghiệm Harrogate ở Norh Yorkshire.

Tại đây, các bác sĩ tiến hành mổ tử thi khám nghiệm. Xét cơ thể, không thấy có triệu chứng gì giải thích cho cái chết đột ngột của nạn nhân. Tim và các bộ phận khác của nạn nhân đều bình thường, các tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến yên đều hoạt động tốt. Cơ thể cũng không bị nhiễm trùng. Việc phân tích tìm vi khuẩn ở phủ tạng và lá lách đã chứng minh đều đó. Nạn nhân có mang thai hai tháng và sức khỏe tốt.

Ngày 4 tháng 5, nhóm điều tra gửi tóc, máu, gan, phổi và óc cho các chuyên gia hóa học, phân tích xét nghiệm. Các chuyên gia đã dành rất nhiều thời gian phân tích, tìm nguyên nhân nhưng không đạt kết quả. Tất cả các phương pháp đem ra áp dụng để xác định tử thi có dấu vết thuốc độc hoặc những chất thuốc khác mà người ta đã biết nhưng vẫn không đem lại kết quả gì. Phân tích chất cặn trong ống thuốc mà Barlow đã dùng thì thấy đúng là chất hắn đã khai: chất trụ sinh.

Ngày 8 tháng 5, nhóm điều tra quyết định tìm xem trên tử thi có vết tiêm không? Một chuyên gia đã dùng một ngọn đèn thật sáng soi tử thi rồi dùng kính lúp kiểm tra từng mi-li-mét. Sau hai lần kiểm tra ông phát giác ở mông trái và mông phải của Elizabeth có hai vết tiêm. Khi mổ xác khám nghiệm, các bác sĩ thấy nạn nhân có bệnh ngoài da, nên bề mặt của da sần sùi các mụn nhỏ. Tại chỗ có vết tiêm, chuyên gia rạch một đường nhỏ qua phần cơ bắp và phần mỡ, thấy cơ ở đó hơi tấy lên, chứng tỏ vết tiêm còn mới.

Như vậy tên Kenneth Barlow đã man khai việc hắn tiêm cho vợ một chất nào đó, và chất này rất có thể đã gây ra tử vong mà hiện nay chưa đủ chứng cứ để kết luận.

Sau phát giác điều trên, cảnh sát trưởng Bradford, quyết định tạm thời không tiếp tục thẩm vấn Barlow nữa, và cũng không cho hắn biết có vết tiêm ở hai mông tử thi.

Trong thực tế, người chồng là y tá có quyền tiêm cho vợ, miễn là thuốc tiêm đó không nguy hại đến sức khỏe hay sinh mệnh của vợ. Nếu hắn thú nhận đã khai man vì sợ bị nghi ngờ thì điều này cũng không giúp ích gì nhiều cho sự tiến triển của công cuộc điều tra. Barlow cũng có thể bịa chuyện nói rằng hắn chỉ tiêm thuốc bổ cho vợ, một chất thuốc vô thưởng vô phạt.

Trong lúc này, vấn đề là làm sao biết được hắn dùng chất gì để tiêm cho vợ. Liệu các chuyên gia về chất độc, hóa học có tìm ra được bí mật không? Mặt khác, cảnh sát ra lệnh tiếp tục theo dõi kẻ bị tình nghi, đồng thời đích thân đến bệnh viện St. Luke nơi hắn làm việc để tìm hiểu thêm về hắn và những loại thuốc men mà bản thân hắn được quyền tiêm hay cho bệnh nhân uống khi đã có đơn của bác sĩ điều trị.

Ngày 8 tháng 5, chuyên gia pháp y cắt 3 miếng thịt nhỏ của tử thi, cạnh chỗ có vết tiêm, với hy vọng dù là rất mỏng manh, tìm ra dấu vết của chất đã dùng để tiêm cho nạn nhân. Những miếng thịt rất nhỏ đó được cắt cẩn thận để đi xét nghiệm. Nếu sử dụng những phương pháp không thích hợp xét nghiệm những miếng thịt đó sẽ gây lãng phí, vì vậy cần giới hạn những phân tích xét nghiệm để đạt được kết quả mong muốn.

Một hội nghị chuyên đề có tính chất chiến lược, bao gồm các chuyên gia hàng đầu được mở ra ở Bradford. Cuộc trao đổi của họ xoay quanh một vấn đề: chất thuốc hay chất độc nào đã gây ra triệu chứng đối với người phụ nữ có mang này?

Bằng cách loại trừ dần dần, các chuyên gia đã đi đến thống nhất: Trong máu nạn nhân thiếu chất đường có thể bị tiêm một liều lượng quá nhiều insulin cũng có thể gây ra tử vong, vì chất này làm giảm đột ngột tỷ lệ đường trong máu xuống dưới mức trung bình. Việc giảm này nguy hiểm, gây ra bệnh thiếu đường trong máu với các triệu chứng như: bàng hoàng, co giật, nôn mửa, bực bội khó chịu, ra mồ hôi quá nhiều và sau cùng là hôn mê.

Điều tra nghi can Barlow thì thấy một số chi tiết đáng kể: Elizabeth là người vợ thứ hai của hắn. Vợ trước của hắn chết năm 1956, lúc 32 tuổi. Cho đến bây giờ chưa ai xác định được lý do đã làm cho bà ấy chết. Theo lời khai của nhân viên bệnh viện, Barlow chỉ được giao có một công việc, đó là tiêm thuốc insulin cho bệnh nhân, theo đúng đơn bác sĩ điều trị. Có người cho biết: “Barlow đã từng làm việc trong một trạm điều dưỡng. Một hôm hắn nói với một bệnh nhân: tiêm một liều lượng thích hợp insulin vào cơ thể một người, có thể giúp người đó sang bên kia thế giới một cách chắc chắn. Vào dịp lễ Phục sinh năm 1955, Barlow cũng đã nói với bạn đồng nghiệp là nếu có chất insulin, ta có một cách giết người thật hoàn hảo. Theo hắn, chất insulin không để lại dấu vết gì, vì được máu tiêu hóa ngay…”

Nhưng phải làm gì để chứng minh có chất insulin trong cơ thể nạn nhân.

Các chuyên gia lấy chất chiết từ ba miếng thịt nhỏ ở chỗ bị tiêm trên mông tử thi vào các con chuột thí nghiệm với mỗi lần một liều lượng khác nhau.

Trong khi điều trị những người mắc bệnh tiểu đường mỗi liều lượng nhất định nào đó được gọi là “đơn vị”. Tùy theo số đơn vị tiêm cho chuột, các con chuột đó có những triệu chứng khác nhau như thân thể run lẩy bẩy, bị co thắt, bồn chồn, suy sụp rồi hôn mê.

Phản ứng của các con chuột khi bị tiêm bằng chất chiết ra từ vết tiêm ở mông nạn nhân, cũng có phản ứng như khi tiêm insulin trước đó: sau khi bồn chồn, chúng hôn mê rồi chết.

Một hiện tượng cũng khá lạ lùng được ghi lại: các chất chiết tiêm vào các con chuột, lúc thì gây phản ứng mạnh mẽ, lúc thì yếu. Những chất chiết lấy từ mông trái tử thi có tác dụng mạnh hơn chất chiết lấy từ mông phải. Điều này có nghĩa là mông trái tử thi nhận được nhiều insulin hơn. Giả thuyết được đặt ra mông trái được tiêm sau cùng và những mũi tiêm đó tiến hành ngay trước khi nạn nhân chết.

So sánh phản ứng của các con chuột khác nhau khi bị tiêm chất insulin hay chất chiết gây tác dụng tương đương với 80 đơn vị insulin. Vì cơ thể hấp thụ chất này rất nhanh, nên có thể cho rằng chất insulin tiêm vào nạn nhân còn tăng gấp bội.

Ngày 27 tháng 7 năm 1957, Kenneth Barlow bị bắt giữ vì tội giết người bằng chất insulin.

Trong phiên xử Kenneth Barlow trong năm 1957 chánh án Diplock tuyên bố: “Vụ án này đã cho chúng ta một bài học có giá trị rất lớn… Mọi người đều biết thủ đoạn giết người khi tiêm quá liều lượng chất insulin. Hiện nay chúng ta có đầy đủ bằng chứng kết luận chính tên Kenneth Barlow đã đích thân tiêm liều lượng cao nhất chất insulin để giết người và người đó lại chính là vợ của hắn ta”.

Sau khi luận tội, bồi thẩm đoàn đồng thanh kết luận Kenneth Barlow phạm tội cố sát.

Chánh án Diplock kết luận: “Các vị đã lên án một vụ giết người tàn ác, dã man, có chủ tâm. Và nếu không có những nỗ lực phi thường của các chuyên gia, của cảnh sát hình sự chúng ta, thì kẻ phạm tội rất có thể thoát khỏi sự trừng phạt của công lý…”.

Cuối cùng, Kenneth Barlow bị xử phạt tù chung thân.

Chu Nguyễn

Tin tức khác...