Hoa xưa, vườn cũ!

Chu Nguyễn

Quê hương của Đất lạnh tình nồng nên mùa hoa tới chậm. Ở những nơi khí hậu có có bốn mùa khác biệt xuân, hạ, thu, đông thì vào ngày 30 tháng chạp đã là ngày lập xuân. Lập xuân mở đầu cho mùa hoa và người ta đua nhau đi mua những mầm hoa nở vào dịp Tết cổ truyền trong đó có thủy tiên, mai và đào. Đón xuân mới, ở những nơi khí hậu ôn hòa, nhà nào nhà nấy tìm hoa, nhất là hoa đào và dân gian ở ta có cách làm cho loại cây tượng trưng cho “phúc- lộc- thọ”này nở bông đúng vào dịp Tết để hưởng vẻ đẹp muôn vẻ kiều mị và mơ giấc mơ hồng trong năm mới: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.”
Ở xứ ấm áp, quanh năm đều có mùa hoa và kẻ xa quê như nhà thơ Hà thượng nhân (1920-2011) khi nhớ về Hà nội ngày tháng cũ đã viết:
Ta nhớ bỗng dưng mà nhớ quá
Chùa khuya chuông đổ tiếng ngân nga…
Tiếng ai chào hỏi bên hàng xóm?
Những luống hoa tươi mận Ngọc Hà.

Trước Tết, ngày xưa là mùa đông nơi “Hà nội ba mươi sáu phố phường”, là dịp đào chưa kịp hồng thì mùa cúc đủ màu đã tới. Thị dân chờ đón mùa cúc, thứ cúc họa mi, hàm tiếu vào mùa thu và khoe sắc vào mùa đông. Đọc lại tác phẩm của Tự lực văn đoàn, mấy người quên hình ảnh những cô hàng hoa xinh xắn và tảo tần như cô Liên trong Gánh hàng hoa của Nhất linh và Khái hưng, vì mối tình gắn bó với trại hoa, với hoa và với con người Ngọc Hà:

Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát
Hoa Ngọc Hà thơm mát gần xa
Hỏi người xách nước tưới hoa
Có cho ai được vào ra chốn này?

Cái tên Ngọc Hà đã đi vào thơ ca như vậy đó. Thân thương và trìu mến, những câu thơ ấy như gợi nhớ lại một trong những làng hoa nổi tiếng bậc nhất bên cạnh Hồ tây của đất Hà thành đầu thế kỷ trước. Người Hà Nội xưa có câu “Ngày rằm đi chợ mua hoa/ Phải chờ thấy gánh Ngọc Hà mới mua”. Chỉ chừng ấy thôi đã đủ thấy làng hoa Ngọc Hà có vị trí quan trọng như thế nào trong đời sống tinh thần của người dân xứ Ngàn năm văn vật.

Một tài liệu về Hà nội cũ cho biết: “Khi thời tiết còn đang “dùng dằng”, Thu chưa muốn rời đi mà đông còn “e ấp” chưa tới hẳn thì cũng là lúc những bông cúc họa mi tinh khôi xuất hiện, nở trắng khắp các cánh đồng, rồi cùng rong ruổi trên những gánh hàng hoa lang thang dọc ngõ hẻm Hà Nội.
Mùa cúc họa mi rất ngắn. Những bông hoa đầu tiên hé nở vào dịp tháng 10, thế nhưng thông thường sẽ nở đẹp nhất trong khoảng từ hai đến ba tuần, tính từ cuối tháng 11, đầu tháng 12.
Những tưởng, những cánh hoa nhỏ xíu, mỏng manh ấy sẽ yếu ớt như chính tên gọi của nó, nhưng phải đến khi tận mắt nhìn chúng rung rinh rước cơn gió lạnh cắt da cắt thịt mới cảm nhận được hết sự kiên cường của loài hoa này, bất chấp giá rét thấu xương mà bung nở khoe sắc trước gió đông Hà Thành.
Chẳng mang vẻ đẹp kiêu sa, lộng lẫy, cúc họa mi chọn cho riêng mình một nét thanh khiết khiến bao người xuyến xao. Phần vì thường tới cùng mùa lạnh, phần vì chính sắc trắng dịu dàng, nhẹ nhàng; phần nữa vì những nụ hoa kia vốn bé tẹo, cánh hoa mỏng tanh, trông dễ thích, dễ thương vô cùng.

Người yêu cúc họa mi có lẽ còn vì loài hoa này có một khả năng đặc biệt, là khiến hình ảnh Hà Nội đang nhộn nhịp, hối hả quay giữa nhịp sống hiện đại trở nên bình yên và đậm chất “tình” như Hà Nội của những năm trước 1945. Vậy mới nói, mỗi mùa cúc họa mi tới là một lần đưa những vị khách tha phương cảm nhận rõ nét bình dị của một Hà Nội xưa trong lòng Hà Nội nay.

Cứ đến khoảng thời gian này là đâu đâu cũng thấy bóng dáng của cúc họa mi. Từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ khắp các ngả đường cho tới các hàng quán. Đấy là Hà nội ngày xưa!”
Còn ngày nay ở Hà nội kẻ yêu hoa hiếm hoi, kẻ quen “hơi đồng” gia tăng, và nơi trồng hoa như Ngọc Hà cũng dần dần thu hẹp vì người ta bán đất để xây biệt thự. Những ngôi nhà như những pháo đài màu xám, đầy vẻ đe dọa xuất hiện trên bầu trời đen tối khói mù, xóa dần vẻ đẹp nên thơ của “Hà nội 36 phố phường” thời Thạch lam.
Để thấy mùa hoa Hà nội và tuổi trẻ Thăng long thuở Tự lực văn đoàn nghĩa là vào khoảng những năm cuối thập niên 30 và đầu thập niên 40 thế kỳ trước, chúng ta hãy đọc lại môt đoản thiên của hai nhà văn bậc thầy của văn học chữ quốc ngữ là Nhất linh (1906-1963) và Khái hưng (1896-1947). Hai nhà văn này không những là đôi bạn văn thân thiết đã cùng Hoàng đạo, Thạch lam, Thế Lữ… xây dựng Tự lực văn đoàn (1934) và hai tờ báo văn học nổi tiếng tiền chiến là tờ Phong hóa (1932) và Ngày nay (1936) mà họ còn là đồng chí và suốt đời hy sinh cho lý tưởng xây dựng văn hóa và giải phóng dân tộc.
Muốn nếm chất “núi Nùng, sông Nhị” truyền thống mà ngày nay đã phôi pha, xin đọc truyện ngắn sau đây có tên Dưới Bóng Hoa Ðào trích trong tuyển tập Anh phải sống của Khái hưng và Nhất linh (XB 1934). Ở đó chúng ta sẽ gặp một vẻ đẹp mong manh, đầy chất thơ và một tình yêu e ấp chẳng khác cúc hoa mi của tuổi trẻ kinh kỳ trước 1945.
Càng hy vọng qua đó, sẽ thấy chất trữ tình của người và cảnh Hà nội ngày xưa, cái thời mà không khí lãng mạn còn ăm ắp trong tâm tư giới trẻ khi phải rời Hà nội vào 1946:

Sáng mắt trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em.
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội…

Dưới bóng hoa đào:
“Trời đông mưa phùn lấm tấm. Bên kia dẫy nhà lá lúp xúp dưới chân đê Yên Phụ, nóc không cao quá mặt đường, nước hồ Tây mù mịt, bát ngát, mênh mông, như một cửa biển chìm đắm trong cảnh sương mù buổi sáng.
Ðứng nhìn xuống con đường làng lát gạch lờ mờ quanh co tựa con rắn nâu dài quặn mình lượn khúc ở giữa hai làn nước xám.
Như không nghĩ tới mùa rét, không nghĩ tới bùn lầy, hai người vận Âu phục, tay thọc trong túi áo tơi cài kín, mạnh bạo nện gót trên đường. Ðến một lối dốc, có cổng tre, cánh phên nứa, đưa tới một cái vườn trồng đầy cúc, hai người từ từ dừng bước. Tống Bình quay lại nhìn Nam Chân. Nam Chân mỉm cười khẽ hỏi:
– Xuống nhé?
– Ừ thì xuống. Nhưng…
Nam Chân chắc đã thừa hiểu ý bạn, nói gạt ngay:
– Mặc chứ!
Tống Bình ngần ngại:
– Nhưng cũng hơi quá. Luôn năm hôm đến mua hoa cúc năm lần. Chắc nó ngờ, ngượng chết!
– Nó ngờ mặc nó!… mình đi sắm tết kia mà!
Nam Chân nhìn bạn cười:
– Làm gì mà bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng thế?
– Còn anh thì làm gì mà si tình thế, để tôi phải lặn lội trời mưa rét mướt.
– Rõ khéo, ai bắt anh đi.
– Nhưng anh cứ rủ…
– Ai cấm anh không theo? Kỳ tình cu cậu cũng muốn chết đi kia! Thôi đã đến đây thì xuống.
Con đường dốc đất vàng lẫn nước, vừa lội vừa trơn. Hai người, bùn bắn lấm tấm ống quần, phải vịn vào những cọc chống hàng giậu phên nứa, mới lần từng bước xuống được vườn. Một con chó trắng ở trong chiếc nhà lá xồ ra, làm cho hai người suýt ngã.
Một cậu bộ dạng láu lỉnh trông như học trò, đầu để trần, chân đi guốc, mình mặc chiếc áo nịt đen trùm ra ngoài áo cộc trắng thong thả đi ra. Gặp khách hàng quen, cậu em nhếch mép ngả đầu chào:
– Thưa hai ông lại đến mua cúc?
Ðó chỉ là câu tự nhiên của người bán hàng, nhưng Tống Bình cảm thấy có ngụ ý rất nhiều ý tứ, liền bấm bạn, nói thầm:
– Ðấy, đã bảo mà!
Nam Chân, nét mặt thản nhiên, tươi cười đáp lại cậu bán hàng hoa:
– Phải, chúng tôi đi mua cúc. Cúc còn nở đẹp, chúng tôi còn mua mãi.
– Vậy mời hai ông vào vườn. Hai ông mua cúc ở vườn này hay ở vườn trong?
Cậu giơ tay trỏ:
– Ở tận trong kia… chỗ chị tôi đương xới đất ấy.
Hai chàng xăm xăm tiến bước. Nam Chân vừa đi vừa nói:
– Thế thì vườn trong hoa đẹp hơn.
Cậu bán hoa cũng theo liền sau. Cậu cười một cách lém lỉnh, bảo hai người khách:
– Các ông đi từ từ chứ kẻo trơn ngã.
Rồi gọi to:
– Chi. Mai ơi! Có khách mua hoa đấy.
Bỗng ở giữa đám cúc vàng, đứng dậy một người con gái chít khăn vuông, mặt trái xoan, da trắng mát. Chắc hẳn cô đã trông thấy khách mua hàng quen ở phía ngoài giậu phên. Cậu em nói sẽ với hai ông khách:
– Xin hai ông hãy đứng chờ đây một phút, cho phép cháu vào hỏi chị cháu tí việc riêng.
Dứt câu, cậu chạy vào trong vườn, ghé tai chị thì thầm:
– Chị nhớ lời em dặn nhé… Ở đời cần gì, phải chiều người lấy của chứ. Chị cứ nói thật cao, bao nhiêu người ta cũng trả.
Mai mủm mỉm cười.
– Vậy dẫu họ hỏi ngớ ngẩn thế nào, chị cũng đừng gắt như hôm qua, cứ trả lời ôn tồn người ta nhé? Bu cũng bảo thế đấy.
Mai vẫn tủm tỉm cười, hai má đỏ hây hây trước luồng gió lạnh, vẻ đẹp càng tăng bội phần:
– Ðược cậu không lo. Thế nào chốc nữa cũng có hai đồng bạc tiêu. Cậu cứ về nhà, để mình chị ở đây.
Cậu em ra tới cổng vườn còn dặn với chị cốt để hai người khách nghe rõ và không ngờ vực.
– Chị nhớ nhé! Chẳng mai phiên chợ rồi đấy.
Quay lại, cậu nói với hai người:
– Mời hai ông vào chọn hoa, đã có chị cháu, cháu xin về lấy giỏ để đựng cây.
Cô hàng hoa cất giọng oanh thỏ thẻ:
– Thưa hai ông mua cúc gì?
Nam Chân tiến lại gần, ngớ ngẩn hỏi:
– Cúc gì đẹp như… cô nhỉ?
– Thưa ông? ở vườn em, cúc gì cũng đẹp. Ông muốn mua thứ gì thì mua?
Rồi cô đăm đăm nhìn Tống Bình, hỏi sẽ Nam Chân:
– Thưa ông, ông kia là bạn ông?
– Phải. Sao…?
– Thưa ông, trông ông ấy bẽn lẽn như con gái.
Nam Chân cười, quay lại thấy Tống Bình vẫn đứng ở gần cổng, liền gọi:
– Này anh Tống Bình…
Ngại Nam Chân ôn lại cho bạn nghe câu mình vừa nói, Mai hai má đỏ bừng, vội vàng cúi mặt xuống nói:
– Ấy, em lậy ông, ông đừng… đấy!
Chuyện vẩn vơ một lúc, rồi khi cúc đã cho vào giỏ, tiền đã trả, hai người đứng mãi cũng ngượng, liền tính đường lui. Mỗi người khệ nệ mang hai giỏ cúc, ra đến cổng vườn còn quay lại nhìn. Cô bán hoa đứng trong vườn cúc, cũng trông theo, nói:
– Vài hôm nữa, hai ông lại xuống mua đào nhà em, nhé!
Nam Chân chạm vào vai bạn:
– Tình không?
Ði khuất hàng rào, Tống Bình nhìn xuống hai giỏ cúc, phàn nàn:
– Nặng quá!… Thôi tôi vứt lại đây, ai muốn lấy thì lấy. Khuân về làm gì cho nhọc xác lại rác nhà. Chỉ tại anh đấy mà!
– Thôi chịu khó mang về làm kỷ niệm.
Tống Bình gắt:
– Kỷ niệm gì, nó lừa mình nó lấy tiền. Con bé ấy nó láu lắm. Tình nghĩa gì!
Hai hôm sau, Nam Chân lại ru? Tống Bình đi mua hoa, nhưng Tống Bình từ chối. Nam Chân cũng không ép, để bạn ở nhà, đi một mình. Lần này, mới đến chỗ dốc, chàng nhìn xuống đã thấy cô hàng hoa đứng ở vườn ngoài, dựa vào gốc đào, chăm chăm cặp mắt nhìn lên đường. Nam Chân dừng lại ngắm nghía. Mái tóc mây lẩn dưới vành khăn đen láy (vì hôm nay cô không chít khăn vuông). Khuôn mặt dịu dàng, nước da trắng hồng in trong cái khung tròn màu hồng phơn phớt của cây đào đầy hoa, khiến Nam Chân lại nhớ đến bức tranh Nhật Bản mà chàng được ngắm ở một hàng sơn.
Nam Chân xuống vườn. Mai ra đón, ngơ ngác nhìn lên đường hỏi:
– Còn ông bạn ông?
Nam Chân có dáng không bằng lòng, hỏi lại:
– Bạn nào?
Mai bẽn lẽn, cúi đầu, thỏ thẻ:
– Ông bạn vẫn đi với ông, ông Bình ấy mà.
– Cô nhớ kỹ tên ông ấy nhỉ?
Rồi lạnh lùng chàng nói:
– Ông ấy không đến.
Mai có vẻ buồn.
Lần này, hai người tuy vẫn nói chuyện với nhau, nhưng lời cứng cỏi, nét mặt cau có. Lại thêm cậu em ở bên nhà sang, cứ đứng nói bông, thỉnh thoảng lại đưa mắt ra hiệu nhắc chị.
Nam Chân chê thứ cúc nọ hoa gầy, thứ cúc kia hoa rữa, rồi chẳng mua khóm nào.
Lúc chàng ra về, Mai theo đến tận cổng vườn. Bỗng cô quay lại bảo em:
– À cậu, cậu về thay nước hộ chị mấy chục bát thủy tiên nhé. Sáng nay chị quên bẵng đi mất.
Cậu em ngoan ngoãn lắm, vui vẻ về ngay. Nam Chân đoán rằng Mai muốn ở lại một mình để nói câu chuyện riêng gì, thấp thỏm mừng thầm. Quả thực, chàng đoán không sai.
Mai lại gần, tươi cười nói sẽ:
– Thưa ông, em muốn nhờ ông một việc, chả biết ông có giúp cho không?
– Ðược, cô cứ nói, thế nào tôi cũng giúp.
– Hôm nay, ông không mua hoa…
– Vậy cô muốn tôi mua… Ừ thì tôi mua.
– Thưa ông, cái đó có hề chi, ông mua cũng đã nhiều rồi. Hôm nay ông không mua hoa, vậy em nhờ ông tiện xe cho em gửi đôi khóm cúc với cành hoa của ông… bạn ông mua hôm qua nhưng còn gửi lại.
Nam Chân tuy tức uất người, phần giận cô hàng chỉ nghĩ đến Tống Bình, phần giận bạn lẻn đi mà không rủ mình. Song đã trót hứa giúp thì chàng cũng phải nhận lời.
Lúc chàng về tới nhà, Tống Bình ra đón cửa hỏi:
– Anh lại mua hoa cúc? Lại thêm cả cành đào, đẹp nhỉ?
Nam Chân bĩu môi:
– Lại còn vờ!
Tống Bình ngơ ngác:
– Anh bảo tôi vờ cái gì?
Nam Chân dằn từng tiếng:
– Vờ cái gì! Hôm qua lẻn đi một mình… rồi mua hoa lại không đem về, bắt người ta phải hầu, lại còn vờ cái gì nữa.
Tống Bình biết rằng bạn tức giận lắm, ôn tồn phân trần:
– Thì sáng hôm qua, tôi ngồi bàn giấy với anh từ sáu giờ tới mười một giờ, anh không nhớ?
Nam Chân ngẩn người ra, ngẫm nghĩ. Nhưng lúc hiểu câu chuyện chàng lại ghen đầy ruột:
– Hừ! Con bé!…
Tống Bình hỏi dồn:
– Con bé bảo anh cái gì? Cái gì thế? Nó bảo anh đem hộ cho tôi hai giỏ cúc và cành đào này à?
Tống Bình yên lặng một lúc, rồi mủm mỉm cười, nói một mình:
– Tình tứ quá!
Trong lòng tự nhiên chàng thấy sung sướng.
Ngồi chống tay vào cằm, Nam Chân cười mát bảo bạn:
– Thế thì con bé giỏi thật, nó đánh lừa mình để bắt mình đem tặng tình nhân nó.
Hôm sau, Tống Bình thấy bạn vẫn còn tức tối, đến khẽ vỗ vai:
– Này, đi mua hoa đi!
Nam Chân quay lại trợn mắt nhìn bạn, đáp:
– Anh muốn đi thì cứ đi, tôi đi làm gì?
Tống Bình thân mật hỏi:
– Anh giận em đấy à?
Nam Chân giọng khinh khỉnh:
– Vì cớ gì tôi lại giận anh? Phải! Vì cớ gì?
Biết bạn bực tức, Tống Bình kéo ghế ngồi liền bên cạnh, thong thả nói:
– Hỏi đùa anh đấy… chứ tôi không đi đâu! Chúng ta không nên đi vì hai lẽ. Lẽ thứ nhất, anh em ta không nên vì một cô hàng hoa mà đến giận nhau, có khi đến lìa nhau. Lẽ thứ hai, ta chỉ nên coi cô bé ấy như một khóm cúc ở trong vườn cô ta.
“Ta cứ để khóm cúc mọc ở vườn thì sang năm ta lại cùng nhau xuống Yên Phụ ngắm nghía, vì còn ở vườn, nó còn nằm đấy sang năm khác nẩy chồi phát hoa, chứ về nhà ta thì bất quá chơi được ba hôm tết, rồi nhị tàn cánh úa, ta chẳng khỏi ném nó vào trong chiếc xe rác qua đường.
“Vả, có lẽ chỉ ở vườn, nó mới đẹp, chứ khi trồng nó vào chậu sứ để trong nhà thì vị tất nó sẽ còn đẹp… Vậy thôi đấy nhé. Phải để dành nó đấy đến sang năm”.
Nam Chân nghe bạn nói, ngẫm nghĩ một lúc rồi thở dài:
– Anh nghĩ thế mà phảị
Từ hôm ấy, Nam Chân và Tống Bình không đi mua hoa cúc nữa.
Còn cô Mai chiều chiều nhớ đến người mua hoa, vẫn đứng tựa gốc đào trông ngóng. Nhưng người đi không trở lại, rồi tết hết, xuân qua, tình cô cũng một ngày một phai như hoa đào dần dần tàn rụng trước gió…”
(Chép theo bản 1948)
Chu Nguyễn

Tin tức khác...