“Hạt Giống Đỏ”

Ông Tề Trí Dũng. Ảnh: SGGP

Nhiều người trẻ được nhà nước Việt nam đầu tư, cho du học, đưa về các vị trí đứng đầu nhưng họ làm được gì sau khi về nước?

Lên như diều gặp gió ở tuổi 22 và “ngã ngựa” ở tuổi 38

Trong các năm 2016, 2017, 2018, họp cổ đông thường niên của Công ty SADECO (tức CP phát triển Nam Sài Gòn, là chi nhánh của Công ty Tân Thuận IPC, 100% vốn nhà nước), quyết định trích các quỹ lợi nhuận dành cho khen thưởng, cải thiện đời sống của người lao động…

Theo quy định, Công ty SADECO phải chuyển toàn bộ các khoản tiền thù lao, tiền thưởng về IPC và Văn phòng Thành ủy.

Tuy nhiên, từ tháng 1-2017 đến tháng 2-2018, ông Tề Trí Dũng được sự giúp sức của Hồ Thị Thanh Phúc – tổng giám đốc Công ty SADECO -đã chiếm đoạt 1,7 tỉ đồng từ nguồn thù lao, khen thưởng trên.

Từ khi ông Tề Trí Dũng về làm chủ tịch HĐQT (Hội đồng quản trị) SADECO, muốn lấy nguồn tiền thù lao còn dư cuối năm, ông đã ra lệnh và ký duyệt danh sách chi tiền cho các thành viên HĐQT, BKS (Ban Kiểm Soát) che đậy dưới hình thức chi tiêu cho các hoạt động. 

Tổng cộng, ông Dũng đã duyệt chi hơn 2,2 tỉ, trong đó bà Hồ Thị Thanh Phúc được chi 427 triệu đồng nhưng thực tế bà Phúc chỉ được hưởng 106 triệu, số còn lại thuộc về ông Dũng.

Tương tự, đối với quỹ khen thưởng HĐQT & BKS, từ năm 2017, ông Dũng chủ trương dùng tiền quỹ này chi cho các hoạt động, nhưng thực chất là để hợp thức hóa việc dùng nguồn tiền này cho cá nhân mình và các thành viên HĐQT mà không phải nộp về IPC và Văn phòng Thành ủy. 

Tổng cộng, nguồn quỹ HĐQT & BKS đã chi trong 2 năm 2017, 2018 là 7,2 tỉ chi cho 4 người, trong đó bà Phúc được chi 2,7 tỉ đồng nhưng thực nhận 625 triệu, còn lại ông Dũng hưởng.

Cả hai khoản thù lao và tiền thưởng, ông Dũng đã nhận 1,7 tỉ đồng. Các khoản tiền này được bà Phúc ra lệnh các nhân viên ký nhận tiền mặt rồi chia một phần cho Dũng.

Điều tra các sai phạm khi bán 9 triệu cổ phần của Công ty Sadeco, Tề Trí Dũng ngoài việc phạm tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước gây thất thoát, lãng phí còn Tham ô khi sử dùng tiền của Sadeco tiêu xài riêng, “bao” nhiều người đi du lịch nước ngoài.

Tề Trí Dũng đã duyệt chi nhiều tỷ đồng đưa hàng loạt người ngoài đi du lịch Châu Âu dưới danh nghĩa “học tập kinh nghiệm”.

Đến tháng 10/2017, toàn bộ chi phí du lịch của Sadeco dành cho cán bộ, nhân viên là 949 triệu đồng; quỹ du lịch chỉ còn lại 861 triệu đồng.

Tuy nhiên, Tổng Giám đốc Sadeco, bà Hồ Thị Thanh Phúc đã lập hồ sơ cho 2 đoàn đi “tham quan, khảo sát mô hình phát triển các khu công nghiệp, cảng và bất động sản dân dụng tại một số quốc gia phát triển ở Châu Âu với tổng chi phí hơn 4,6 tỷ đồng – vượt mức quy định hơn 3,7 tỷ.

Nhiều người trong đoàn du lịch không phải là cán bộ, nhân viên của Sadeco. Mục đích của việc đi nước ngoài cũng không nhằm học kinh nghiệm cho sản xuất, kinh doanh bởi Sadeco không có dự án khu công nghiệp hay cảng nào.

Ngày 1-11-2017, bà Phúc ký 2 hợp đồng với Công ty Du lịch Bến Thành tổ chức 2 đoàn đi châu Âu với tổng chi phí 4,6 tỉ đồng, trong đó đáng nói là nhiều người tham gia không phải là cán bộ, nhân viên SADECO..

Tháng 4-2018, xác định chi tiền cho những người ngoài công ty là không hợp lý nên SADECO đã yêu cầu và được 4 người trả tiền.

Ngày 9-1-2019, bà Phúc được các thành viên HĐQT SADECO đồng ý dùng quỹ khen thưởng HĐQT và BKS để hoàn lại chi phí cho chuyến đi nước ngoài còn lại và hạch toán vào thu nhập khác của SADECO trong năm 2018, 2019.

Những người tham gia chuyến đi đều thừa nhận họ chỉ đơn thuần đi du lịch nghỉ mát, không gặp gỡ, tiếp xúc bất kỳ cá nhân, doanh nghiệp, đối tác tại nước ngoài; không khảo sát dự án cảng biển, công trình, không liên quan đến công việc của công ty.

Theo lời khai của bà Hồ Thị Thanh Phúc và những người liên quan, ông Tề Trí Dũng là người chủ trương các chuyến đi, trực tiếp tham gia; bàn bạc hợp đồng và điều chỉnh chương trình tham quan với Công ty Du lịch Bến Thành. Dũng cũng là người quyết định danh sách tham gia chuyến đi.

Kết luận, việc chi tiền cho hai chuyến đi trên là trái quy định, gây thiệt 3,6 tỉ đồng cho SADECO. Do đó, bà Hồ Thị Thanh Phúc, ông Tề Trí Dũng và ông Đỗ Công Hiệp (kế toán trưởng SADECO) phải chịu trách nhiệm về thiệt hại này.

Tổng nguồn quỹ được chi trong năm 2017-2018 là hơn 7,2 tỷ đồng. Bà Phúc được chi 2,7 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ nhận 625 triệu, phần còn lại đưa ông Dũng; hàng loạt nhân viên nhận hàng trăm triệu đồng nhưng thực lãnh chỉ một phần. 

Trong thời gian Sadeco bị thanh tra, Dũng chỉ đạo bà Phúc hủy tất cả các tài liệu, chứng từ chi tiêu có tên “Tề Trí Dũng”, thay tên người khác nhận thay các khoản này.

Lúc đầu Dũng thừa nhận lấy 1,7 tỷ đồng thông qua các thư ký, nhân viên của Sadeco để chi cho bà con nghèo, thăm người ốm, đoàn công tác của thành phố, tặng quà Tết…. nhưng sau đó đổi lời khai cho rằng không nhận bất kỳ khoản tiền nào.

Đối với việc Sadeco bán 9 triệu cổ phần cho Công ty Cổ phần đầu tư và Phát triển Nguyễn Kim với giá 40.000 đồng/cổ phần, Tề Trí Dũng có vai trò xuyên suốt từ đầu đến cuối. Giá cổ phần thấp hơn giá trị thực rất nhiều do Dũng sử dụng kết quả thẩm định của doanh nghiệp không có chức năng thẩm định. Tài sản của Sadeco bị đánh giá thấp, sai quy định gây thiệt hại cho Nhà nước 940 tỷ đồng, trong đó có hơn 413 tỷ là vốn của UBND TP HCM và 157 tỷ là vốn của Thành ủy.

Liên quan vụ án, cơ quan điều tra đề nghị truy tố nguyên phó bí thư Thành ủy Tất Thành Cang và 18 người khác về tội Vi phạm quy định vê quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Trong đó có Hồ Thị Thanh PhúcTrần Công Thiện (nguyên Tổng giám đốc Công ty Tân Thuận – thuộc Thành uỷ TP HCM); Lê Hoàng Minh (Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty IPC)…

Tề Trí Dũng, sinh năm 14/8/1981, từng tốt nghiệp Cử nhân Kinh tế – Đại học Kinh tế TPHCM và Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học La Trobe (Úc).

Tề Trí Dũng từng làm Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc IPC, một doanh nghiệp lớn của thành phố.

Khi Dũng vừa 22 tuổi đã làm Trưởng bộ phận thị trường – Phòng kinh doanh, Phó Bí thư Thường trực Đoàn TNCS HCM Công ty Dầu khí TPHCM và giữ cương vị này từ tháng 8.2003 đến tháng 10.2007.

Tề Trí Dũng là Đại biểu HĐND khóa IX (nhiệm kỳ 2016 – 2021) 

So với nhiều người trẻ cùng trang lứa ở tuổi 22 là vừa mới tốt nghiệp đại học, phải chạy đôn chạy đáo để xin được một chân nhân viên, thì với cương vị của Dũng quả là niềm mơ ước.

Từ tháng 10.2007 đến tháng 12.2010, Tề Trí Dũng về Tổng Công ty Bến Thành, làm Phó Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, rồi Trưởng phòng Tài chính,  Đảng ủy viên Tổng Công ty Bến Thành.

Chưa dừng lại ở đó, sự thăng tiến của Dũng còn lên nhanh như diều gặp gió, khi được chọn vào chương trình đào tạo 300 thạc sĩ – tiến sĩ của thành phố.

Sau khi hoàn thành chương trình này ở Úc, Dũng về Việt Nam và được đưa vào ngồi ghế Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bến Thành, từ tháng 1.2011 đến tháng 4.2015. Sau đó lên vị trí Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bến Thành.

Tiếp đó là từ tháng 5.2015, Dũng chính thức được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc IPC khi tròn 34 tuổi.

Giám đốc cũ làm ‘nhái’ bia Sài Gòn

Sản phẩm “Bia SaiGon VietNam” được đóng thùng thành phẩm tại cơ sở sản xuất Bia BiVa. Ảnh: Cục quản lý thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu

Hàng nhái tràn ngập khắp nơi. Mới thoáng nhìn nhìn hao hao như hàng thật, Và chính đa số người tiêu dùng đôi khi cũng chẳng để ý cái bề ngoài hao hao đó. Vấn đề làm hàng nhái ở đây lại chính là giám đốc cũ của công ty hàng thật.

Vào tháng 4-2020, tại cơ sở sản xuất bia Biva (Bà Rịa), quản lý thị trường phát hiện hơn 4.700 thùng bia, 116.700 vỏ lon bia và 3.300 vỏ thùng bia chưa sử dụng đều mang nhãn hiệu “Bia Saigon Vietnam”. Số tang vật này bị tạm giữ và chuyển sang điều tra vì có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bia của SABECO.

Cơ sở Biva là nơi sản xuất bia theo hợp đồng ký với Công ty cổ phần tập đoàn bia Sài Gòn Việt Nam. Trước khi bị phát hiện, cơ sở Biva đã sản xuất và bán cho Công ty cổ phần tập đoàn bia Sài Gòn Việt Nam 4.200 thùng bia nhãn hiệu “Bia Saigon Vietnam”, và đã bán 3.300 thùng bia cho các khách hàng lớn ở huyện Krong Pak (Đắk Lắk), thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) và TP Sóc Trăng.

Tuy nhiên đến khi xảy ra vụ án, cơ quan chức năng chỉ thu giữ được 605 thùng bia chưa kịp tiêu thụ tại Đồng Xoài. 900 thùng bia còn lại, ông Lê Đình Trung khai dùng đi biếu tặng, tiếp thị và hư hỏng.  

Ông Lê Đình Trung, 54 tuổi từng làm việc nhiều năm tại Tổng công ty cổ phần Bia – rượu – nước giải khát Sài Gòn (SABECO).

Sau khi nghỉ việc tại SABECO, tháng 5-2019, ông Trung thành lập riêng  Công ty cổ phần tập đoàn bia Sài Gòn Việt Nam (cty Bia Saigon Vietnam) trụ sở tại quận 1, SG, vốn điều lệ đăng ký 30 tỷ đồng. gồm ba cổ đông, trong đó, ông Trung góp vốn 70%, còn lại bà Trần Thị Ái Loan 47 tuổi, và Trần Thị Khánh Hà mỗi người góp vốn 15%.

Biết rõ uy tín và danh tiếng của thương hiệu bia SABECO, khi chưa được cấp chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, ông Lê Đình Trung đã tự thiết kế mẫu mã, kiểu dáng và công bố sản phẩm “Bia Saigon Vietnam” đưa ra thị trường. Sản phẩm này rất giống, dễ gây nhầm lẫn với sản phẩm SABECO đã được nhiều người biết đến, đã được bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Tháng 4/2020, bà Loan ký hợp đồng với ông Vũ Tuấn Châu, chủ cơ sở sản xuất bia BiVa tại TP Bà Rịa, sản xuất bia bán ra thị trường. Hai tháng sau, cơ sở của ông Châu bàn giao hai lô hàng 4.200 thùng bia (thùng 24 lon, loại 330 ml), giá thành 87.000 đồng mỗi thùng bia thành phẩm. 

Cuối tháng 6, khi Cty Bia Saigon Vietnam đang nhận lô hàng thứ ba thì bị lập biên bản tạm giữ 4.712 thùng bia thành phẩm, 116.700 vỏ lon bia cùng loại và 3.300 vỏ thùng bia bằng giấy chưa sử dụng.

Vỏ lon được Công ty “Bia Saigon Vietnam” đặt mua từ Công ty TNHH H.N (Q.Tây Hồ, Hà Nội). Công ty H.N này lại nhập khẩu vỏ lon từ Trung Quốc, qua cảng Cát Lái (SG). Còn thùng giấy đựng bia lon được một công ty “ma” lấy ở một địa chỉ tại Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, SG sản xuất.

Trước khi bị phát giác, công ty của ông Trung đã bán 3.300 thùng bia ở các tỉnh Bình Phước, Sóc Trăng, Đăk Lăk và hiện thu hồi, tiêu hủy được 605 thùng. Ông Trung khai đã dùng 900 thùng đi tiếp thị, biếu, tặng.

Theo điều tra, mỗi thùng bia của Công ty Bia Sài Gòn Việt Nam thu lợi hơn 29.000 đồng, chưa tính chi phí khác. Hàng hóa vi phạm có tổng trị giá hơn 1,4 tỷ đồng.

Sau khi vụ làm “nhái” bia bị phát hiện, Công ty bia Sài Gòn Việt Nam dừng hoạt động. 

Cơ quan giám định thuộc Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, xác định dấu hiệu trình bày trên vỏ lon Bia Saigon Vietnam; hình khiên đứng; hình con rồng gắn trên mặt trước và sau lon bia, thùng đựng bia “là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Bia Saigon” – thuộc sở hữu của Sabeco.

Cuối tháng 11-2020, Cục Sở hữu trí tuệ đã từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Bia Saigon Vietnam” của công ty này.  

Do Công ty Bia Sài Gòn Việt Nam cam kết chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nhãn nhiệu, cung cấp toàn bộ công thức chưng cất, pha chế và đóng gói sản phẩm, cơ sở sản xuất bia BiVa chỉ gia công thuê nên không bị truy tố.

Chuyện nữ đại gia “chạy chức”

Nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao lại có người bỏ ra hàng tỉ đồng, thậm chí hàng triệu đô để mua một chân công chức hay một vị trí “quan quyền” trong bộ máy công quyền?

Mới đây đã có một người phụ nữ đã bị lừa “chạy chức” phó vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế thuộc Văn phòng Chính phủ với chi phí hơn 27 tỉ đồng cùng nhiều tài sản khác.

Dư luận theo dõi nhưng không quá bất ngờ vụ “Nữ đại gia khai đã đưa 150.000 USD cho một cục trưởng để “chạy chức”.

Không chỉ có vậy, người chạy chức còn khai đã bỏ ra hơn 27 tỉ đồng cùng nhiều tài sản khác để mua chức “Phó Vụ trưởng” tại một cơ quan cấp bộ. Việc không thành hóa ra vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản,

Tòa án Hà Nội đã truy tố Lê Văn Hồng (SN 1976, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu sách và học liệu giáo dục); Cù Đăng Thành (SN 1989, nguyên cán bộ Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bà P.T.P.H. (SN 1968, trú tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội), Giám đốc một trường đại học, nói với Hồng việc bà bị áp lực, muốn chuyển lên làm việc tại cơ quan trung ương. Hồng liền giới thiệu bà H. với Thành để nhờ xin việc và qua đây, Thành sẽ trả cho Hồng 2 tỉ đồng.

Tháng 7-2016, cả hai đến gặp bà H. tại nhà riêng, Thành nhận mình là bạn học của ông H., là Phó vụ trưởng thuộc Tổng Cục thuế, nên có thể nhờ ông H. xin cho bà H. làm phó Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế thuộc Văn phòng Chính phủ với giá 800.000 USD. Cả hai yêu cầu bà H. phải chuyển trước 10 tỉ đồng và mua 1 xe Camry làm quà tặng ông H.. Khi thắc mắc với Hồng về số tiền quá cao, bà H. nhận được câu trả lời chuyển lên vị trí đó thì giá phải cao như vậy.

Sau đó, bà H. đã chuyển 10 tỉ đồng cho Thành và Thành chia cho Hồng 1 tỉ đồng. Bà H. cũng mua 1 xe Camry trị giá hơn 1,6 tỉ đồng cho Thành, sau đó Thành nhờ một cán bộ Tổng cục An ninh đứng tên. Chiếc xe này Thành không tặng cho ông H mà để sử dụng.

 Bà H. đã bị lừa như thế nào?

Tháng 11-2016, Thành lại yêu cầu và được bà H. mua cho 1 ôtô Prado trị giá hơn 2,2 tỉ đồng làm phương tiện đưa đón ông H.. Lần này Thành không dùng chiếc xe để sử dụng riêng như chiếc xe Camry mà bà H. mua cho lần trước, nhưng cũng không dùng vào mục đích xin việc. Thành bán xe ô tô Prado hơn 2,2, tỷ đồng này cho người khác.

Thành cũng yêu cầu bà H. chuyển thêm cho mình 5 tỉ đồng cùng một bộ hồ sơ để xin việc. Thành sau đó nói dối đã chuyển hồ sơ của bà cho ông H. và được ông H. khen hồ sơ “đẹp”, đủ điều kiện làm phó Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế.

Nghĩ chuyện đã thành, đã xin được việc, trong giai đoạn 2017 – 2018, bà Hạnh chuyển thêm cho Thành hơn 11 tỷ đồng. Sau đó, biết Thành không thể “chạy chức” được nên bà H. đòi lại tiền. Tuy nhiên, Thành nhờ người quen đưa bà H. đến nhà một lãnh đạo cấp cao để đặt vấn đề xin việc nhưng lãnh đạo này từ chối.

Tổng cộng bà H. đã đưa hơn 27,7 tỉ đồng cho Thành và Hồng để xin việc và bị 2 người chiếm đoạt, hiện mới trả lại hơn 3 tỷ đồng. Quá trình giải quyết vụ án, cảnh sát đã trả lại cho bà H. chiếc xe Camry.

Ngoài số tiền trên, bà H. còn “bán chịu” cho Thành một căn chung cư tại Hà Nội nhưng bị Thành sang tên cho người khác, không trả tiền cho bà H..

Bà H. còn khai trong năm 2015 đã nhờ Hồng giới thiệu cho một cục trưởng thuộc Bộ Xây dựng để xin việc. Cục trưởng này yêu cầu bà H. đưa 150.000 USD rồi cả 2 cùng đến nhà một lãnh đạo cấp cao. Sau đó, bà H. vẫn không xin được việc và không lấy lại được số tiền này. Tuy nhiên, do chỉ có lời khai của bà H., không có chứng cứ khác thể hiện cục trưởng cầm 150.000 USD nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý việc này.

Thật ra trong những trường hợp này không bao giờ có giấy biên nhận, biên lai mà chỉ giao dịch bằng miệng. Khi bị tố giác, cơ quan điều tra không bao giờ có chứng cứ…

Tuy nhiên, do chỉ có lời khai của bà H., không có chứng cứ khác thể hiện cục trưởng cầm 150.000 USD nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý việc này. Ai tìm ra chứng cứ tôi mất 50 tỉ….

Đủ các kiểu chạy, từ thực thực hư hư, là lời đồn đoán đến sự thật hiển nhiên. Nhiều thủ đoạn, từ tinh vi đến đơn giản liên quan các kiểu chạy. Các «vụ án chạy» có đủ từ cấp cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh đến Trung ương, liên quan từ cán bộ cấp thấp đến trung, cao cấp. Không hiếm người giữ quân hàm cấp tướng, chức vụ thứ trưởng, bộ trưởng «nhận tiền chạy» bị phơi bày.

Lâu lâu lại thấy xì ra một vụ…

San Hà (tổng hợp)

Tin tức khác...