Hai Thế Giới

Lời người dịch: Jens Peter Jacobsen (1847-1883): tiểu thuyết gia, thi sĩ và khoa học gia Đan Mạch. Tác giả 2 tiểu thuyết, 7 truyện ngắn và một tập thơ. Là một trong những tác giả tạo nhiều ảnh hưởng trong văn chương Đan Mạch. Người giới thiệu tác phẩm Nguồn Gốc Các Chủng Loại của Darwin qua tiếng Đan Mạch. Jacobsen mất vì bệnh lao năm 38 tuổi. Hai Thế Giới dịch từ bản Anh ngữ Two Worlds của H. Knudsen trong tập Great Short Stories of The World, Hamlyn Publishing Group Limited xuất bản năm 1976.

Salzach chẳng phải là dòng sông hoan lạc. Bên bờ phía đông tọa lạc một ngôi làng nhỏ, rất âm u, rất nghèo nàn, và im vắng một cách khác thường.

Những bờ vai mục nát của dãy nhà ở bờ bên này dựa vào nhau, như lũ ăn mày dúm dó không thể trả tiền đò, bị sựng lại bên bờ sông, đám cột chống trông như những cây nạng mò mẫm vô vọng vào dòng sông xám ngắt, trong khi những cửa sổ u uất dưới hàng lông mày sàm sỡ của mái tranh, nhìn đăm đăm từ sân sau, cái nhìn cau có đầy ganh ghét về phía những ngôi nhà may mắn hơn phía bên kia bờ, những ngôi nhà được xây cất riêng lẻ hay từng đôi, ấm cúng bên nhau, và rải rác đó đây trên những cánh đồng xanh, phía vùng sương mù vàng óng. Những ngôi nhà nghèo nàn không đèn đóm; chỉ có bóng tối và sự tĩnh lặng trầm uất, trì xuống bởi âm thanh dòng sông lượn qua chậm rãi, không ngừng, lẩm bẩm với chính mình suốt lộ trình, quá mệt mỏi vì đời sống, đãng trí đến khác thường.

Mặt trời lặn, lũ châu chấu bắt đầu đổ đầy không gian tiếng rên rỉ rền vang trong vắt như pha lê, được làn gió nhẹ bất ngờ từ bờ bên kia cuốn theo, tăng dần rồi tan biến vào bờ lau sậy mỏng bên bờ sông.

Phía thượng lưu một con thuyền lướt tới.

Trong một căn nhà bên bờ sông, một người đàn bà gầy gò, yếu đuối, khom người trên hàng giậu, nhìn về phía con thuyền. Bà che mắt cho khỏi chói bằng bàn tay gần như trong suốt, bởi ở đằng kia, nơi con thuyền đang bồng bềnh trôi, mặt trời hắt những tia nắng vàng chói gay gắt xuống mặt nước, khiến con thuyền như đang lướt trên mặt một tấm gương hoàng kim.

Xuyên qua cái trong trẻo của buổi hoàng hôn, khuôn mặt trắng bệch như sáp của người đàn bà rực sáng, như thể tự nó phát quang. Người ta có thể nhìn thấy khuôn mặt ấy, rõ ràng và sắc nét, như thể người ta nhìn thấy, ngay cả trong những đêm tối trời, đám bọt nhuộm trắng đầu những ngọn sóng đại dương. Cặp mắt của người đàn bà tìm kiếm một cách vô vọng; đầy sợ hãi; một khóe cười yếu ướt khác thường hé nở bên khóe miệng người đàn bà, tuy nhiên những nếp nhăn thẳng đứng trên vừng trán dồ thoáng hiện trên toàn khuôn mặt người đàn bà ánh phản chiếu một quyết định tuyệt vọng.

Tiếng chuông ngôi nhà thờ của ngôi làng nhỏ bé đổ vang.

Bà xoay lưng về phía mặt trời lặn, và đầu bà lắc lư qua lại, như cố tìm cách trốn tránh tiếng chuông, môi bà lẩm bẩm như đáp lời tiếng chuông rung liên tục.

“Mình không thể chờ nữa, không thể chờ nữa.”

Nhưng tiếng chuông vẫn tiếp tục ngân vang.

Như đang đau đớn, bà đi tới đi lui bên hàng hiên. Hình bóng của sự tuyệt vọng càng lúc càng đậm nét, và bà kéo hơi thở nặng nề như người bị buộc phải trào nước mắt nhưng không thể khóc được.

Bao năm tháng qua, bà phải gánh chịu căn bệnh đầy đau đớn khiến không lúc nào bà được nghỉ ngơi, dù lúc nằm hay lúc đi lại. Bà đã tham vấn hết nhà thông thái này đến nhà thông thái khác. Bà đã lê lết từ dòng suối “thiêng” này đến dòng suối “thiêng” khác, mà chẳng thay đổi được gì. Cuối cùng bà đã nhập đoàn người hành hương thánh Bartholomew vào tháng chín; ở đó, người đàn ông một mắt đã chỉ cho bà buộc một bó hoa nhung tuyết, một mảnh thủy tinh vỡ, một túm hạt bắp, một ít dương xỉ từ nghĩa địa, một lọn tóc của bà và một mảnh gỗ quan tài, và bà phải ném những thứ ấy về phía một thiếu nữ khỏe mạnh và tươi trẻ và người thiếu nữ ấy phải tiến về phía bà trên dòng nước xuôi chảy. Chỉ nhờ vậy căn bệnh mới rời bỏ bà mà truyền qua người thiếu nữ ấy.

Và bây giờ bà giấu bó hoa ấy dưới tấm khăn choàng. Đàng kia, một con thuyền đang trôi trên dòng nước, đó là chiếc thuyền đầu tiên từ khi bà buộc túm những thứ bùa phép ấy vào bó hoa. Bà bước lại gần hàng giậu của lan can. Con thuyền đã đến thật gần, bà có thể nhìn thấy sáu hành khách trên thuyền. Toàn những người xa lạ. Ở đầu mũi, người lái đò với cây sào. Một thiếu nữ ngồi ở sau lái, cạnh một gã thanh niên đang ngắm nàng bẻ lái theo sự chỉ dẫn của người lái đò. Những người khác ngồi ở giữa lòng thuyền.

Người đàn bà bệnh hoạn nhoài người ra phía trước lan can. Mọi đường nét trên khuôn mặt bà đều căng thẳng, bàn tay bà giấu dưới tấm khăn choàng. Mạch máu đập thình thịch hai thái dương bà. Hơi thở bà như ngưng đọng; hai cánh mũi run rẩy, hai má bừng nóng, và đôi mắt trợn trừng, bà chờ con thuyền trôi lại gần.

Đã có thể nghe được tiếng nói chuyện của đám khách thương hồ, lúc rõ ràng, lúc bị át đi như tiếng thì thầm.

“Hạnh phúc,” một người nói, “là một ý niệm hoàn toàn dị giáo. Bạn không thể nào tìm được chữ ấy, bất cứ chỗ nào trong Tân Ước.”

“Sự cứu rỗi à?” một người khác hỏi.

“Không đâu. Nghe đây này,” một người nào đó nói; “đúng là cuộc đàm thoại lý tưởng tiến càng xa càng tốt khỏi những điều chúng ta đang bàn bạc; nhưng điều đó, tôi thấy, hay nhất vẫn là chúng ta trở lại điểm khởi đầu.”

“Nếu vậy, thì người Hy Lạp…”

“Đầu tiên người Phê-nê-xi!” (*)

“Bạn biết gì về người Phê-nê-xi?”

“Không biết gì hết! Nhưng tại sao người ta luôn bỏ sót người Phê-nê-xi chứ?”

Bây giờ con thuyền đối diện căn nhà, và khi nó lướt qua, ai đó trên thuyền bật lửa mồi điếu thuốc. Ánh lửa lập lòe soi rõ khuôn mặt thiếu nữ ở bánh lái, và trong ánh sáng đỏ rực ấy hiện rõ khuôn mặt con gái trẻ trung với nụ cười rạng rỡ trên đôi môi hé mở và vẻ mơ màng trong cặp mắt trong đang ngước nhìn bầu trời đen. Ánh lửa vụt tắt. Có tiếng nước tạt, như thể có vật gì đó mới được quăng xuống nước, rồi con thuyền trôi xuôi.

Khoảng một năm sau.

Mặt trời lặn xuống giữa những đám mây nặng nề tỏa sáng rực rỡ, hắt lên mặt nước đen xẫm của dòng sông ánh phản quang đỏ rực như máu. Một ngọn gió mát thổi khắp đồng bằng. Không có lũ châu chấu – chỉ có tiếng thì thầm của dòng sông và tiếng rì rào của lau sậy. Từ xa một con thuyền lướt xuôi dòng.

Người đàn bà già nua ngồi bên bờ sông. …Sau khi ném bó hoa bùa phép về phía người thiếu nữ bà đã ngất đi, và cảm xúc mạnh mẽ – có lẽ cùng với sự kiện một bác sĩ mới về hành nghề gần đó – đã làm biến đổi căn bệnh của bà. Vài tháng qua, bệnh tình của bà tiến triển tốt đẹp, và cuối cùng bà phục hồi sức khỏe hoàn toàn. Ban đầu bà cảm thấy như ngộ độc bởi cảm giác khỏe mạnh; nhưng cảm giác ấy không kéo dài bao lâu. Bà bắt đầu ngã lòng, buồn chán, bất an và tuyệt vọng, bởi lúc nào bà cũng bị ám ảnh bởi hình ảnh cô gái trẻ trên chiếc thuyền. Dường như cô gái quỳ dưới chân bà, ngước nhìn bà bằng đôi mắt van nài. Sau đó hình ảnh ấy tan biến nhưng bà biết cô gái vẫn còn đó. Cô gái luôn miệng rên rỉ. Rồi cô ta nín lặng nhưng hình ảnh cô ta lại hiện rõ. Sau này hình ảnh cô ta luôn hiện trước mặt bà, xanh xao và gầy mòn, nhìn bà đăm đăm bằng con mắt đầy ngỡ ngàng mở lớn khác thường…

Tối nay bà ra bờ sông; mang trong tay một cành cây, và bà vẽ hết cây thánh giá này đến cây thánh giá khác trên bùn mềm; thỉnh thoảng bà đứng lên và nghe ngóng; rồi bà lại cúi xuống vẽ những cây thánh giá.

Lúc này tiếng chuông bắt đầu ngân vang.

Bà cẩn thận vẽ cho xong hình thập giá cuối cùng, bỏ nhánh cây qua một bên, quỳ xuống và cầu nguyện. Rồi bà lội xuống dòng sông tới khi nước ngập tới nách. Bà khoanh tay lại và buông mình vào dòng nước đen. Con nước tiếp nhận bà, kéo bà vào lòng sâu của nó, và cuồn cuộn, như vẫn thường, nặng nề và buồn thảm, qua ngôi làng, qua những cánh đồng – trôi xa.

Bây giờ con thuyền đã lại rất gần. Cũng những người trẻ tuổi ấy đã từng tiếp tay nhau chèo lái con thuyền năm trước, họ đang đi trên chuyến đò hôn lễ. Chàng ngồi ở bánh lái; nàng đứng ở giữa lòng thuyền, choàng chiếc khăn lớn mầu xám, với cái chỏm nhọn mầu đỏ trên đỉnh đầu… đứng dựa vào cây cột ngắn không giăng buồm, thì thầm hát.

Họ lướt qua căn nhà. Nàng sung sướng gật đầu với người lái đò, rồi ngước nhìn bầu trời, trong lúc dựa vào cột buồm đôi mắt hướng về những đám mây trôi dạt… và bắt đầu hát thì thầm một bài ca chứa đầy sự đắc thắng của hạnh phúc.

(*) Phê-nê-xi (Phoenicia): bộ tộc sinh sống phía bắc Địa Trung Hải khoảng cuối thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên.
Bản tiếng Việt
– Hoàng Chính

Tin tức khác...