Di dân có phải là gánh nặng cho Hoa Kỳ?

Mai Loan

Trong bối cảnh phân hoá và chia rẽ trầm trọng hiện nay, quả thật là khối di dân đang trở thành tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận trên chính trường hiện nay, đặc biệt là khi Hoa Kỳ có một vị đương kim tổng thống sẵn sàng dùng những lời lẽ hoặc áp dụng những chính sách rất bất lợi, hoặc ít ra là thiếu thân thiện với khối di dân nói chung, dù là di dân hợp pháp hoặc di dân lậu.
Thật ra, cũng đã có nhiều chuyên gia đã bình luận khá chính xác rằng điều này có thể là một trong những chiến dịch hữu hiệu nhất của TT Trump trong việc duy trì sự ủng hộ tối đa của khối cử tri da trắng thuộc lớp bình dân và sẵn có đầu óc kỳ thị sắc tộc nên dễ dàng đổ lỗi tất cả những khó khăn về kinh tế và xã hội trong thời gian qua lên đầu của những thành phần di dân không phải là da trắng đang “xâm nhập” ào ạt vào nước Mỹ. Vì lẽ đó, những ngôn từ như “xâm nhập” (invasion) đã được nhiều chính trị gia như ông Trump sẵn sàng dùng để mô tả vào các làn sóng của những người di dân mới đổ về nước Mỹ trong nhiều thập niên qua.
Gần đây nhất là chuyện tranh luận về vai trò của nước Mỹ có nên tiếp tục mở cửa và giang tay đón nhận những người dân từ các nước khác muốn du nhập vào Hoa Kỳ để cải thiện đời sống của họ, đặc biệt là những di dân đến từ các nước nghèo khó và do đó thường là ở tình trạng trắng tay hoặc thiếu thốn và dễ xin được những trợ cấp cần thiết trong buổi ban đầu.
Từ đó mới dẫn đến những toan tính hầu ngăn cản những người đang xin trợ cấp có thể được nhập tịch cho dù họ có là di dân hợp pháp; hoặc là những đề nghị siết chặt hơn chính sách di trú theo quy chế bảo lãnh thân nhân trong gia đình mà TT Trump đã chỉ trích là “di dân theo giây chuyền” (chain migration), mà trớ trêu thay chính cá nhân Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump là thí dụ điển hình của những người đã được hưởng lợi lớn nhất theo kiểu giây chuyền đó để kéo được bố mẹ mình đi vào nước Mỹ một cách hợp pháp và được trở thành công dân Mỹ.
Để có một cái nhìn đúng đắn trên vấn đề này, chúng ta hãy thử xác định xem liệu khối di dân có phải là một gánh nặng cho xã hội nói chung và cho Hoa Kỳ nói riêng hay không. Trong một bài viết vào cuối năm ngoái trên tờ nhật báo Houston Chronicle, nhà báo Olivier Tallet đã khẳng định trong lời tựa rằng “Di dân tại Houston đã đóng góp hàng tỷ Mỹ-kim cho nền kinh tế” (Immigrants in Houston contribute billions of economy).
Bài báo này thuật lại trường hợp của ông Durga Agrawal và sự thành công của một công ty do ông sáng lập và điều hành có tên là Piping Technology & Products từ năm 1975, công ty sản xuất ống dầu lớn nhất tại Houston.
Ông Agrawal là người sinh đẻ tại một thị trấn ở vùng Madhya Pradesh của Ấn Độ. Nhờ học giỏi, ông được học bổng của chính phủ Ấn để sang học tại Hoa Kỳ. Dù tốt nghiệp Đại học Houston với bằng tiến sĩ trong ngành kỹ sư, ông vẫn không được thuê mướn cho một công việc tương xứng lúc ban đầu. Vì thế nên ông đành phải tự xoay xở để mở công ty riêng cho mình. Thoạt đầu, ông quyết định làm không công cho một viên kỹ sư cao cấp trong một công ty hoá học nổi danh.
Vì mong có được hưởng lương từ công sức khó nhọc của mình, ông Agrawal bèn cải thiện dự án của người kỹ sư này bằng cách sáng chế ra phương pháp sản xuất những loại ống dầu cho nhanh hơn và được dẻo dai hơn. Từ đó, viên chức này mới tin rằng phương pháp và cách chế biến của ông ta khá hơn và nhờ đó, công ty của ông Agrawal mới nhận được thương vụ đầu tiên là một giao kèo với đại công ty Dow Chemical.
Từ một công ty nhỏ lúc ban đầu tại vùng Gulfgate ở phía đông nam Houston thuộc một khu bình dân với đa số dân nghèo, công ty này đã lớn mạnh trong hơn 40 năm qua để trở thành một trong những công ty hàng đầu hiện nay trong ngành ống dầu với hơn 750 nhân viên và mức thu nhập hàng năm vào khoảng 229 triệu Mỹ-kim.
Theo đánh giá mới nhất của một tổ chức nghiên cứu có tên là New American Economy đặt trụ sở tại New York, công ty Piping Technology & Products nằm trong số hơn 131,500 doanh nghiệp lớn nhỏ trong vùng Houston mà chủ nhân là những di dân đến từ các quốc gia khác. Bản báo cáo này được lập ra nhằm mục đích nêu rõ sự đóng góp về mặt kinh tế của những người di dân thuộc thế hệ đầu tiên khi đến nước Mỹ.

Durga Agrawal, chủ nhân sáng lập công ty Piping Technology & Products tại Houston
Nó cho thấy một bằng chứng rõ ràng và cụ thể về giá trị của sự đóng góp to lớn cho nền kinh tế toàn vùng đô thị Houston từ những khối di dân nhờ vào những nỗ lực và tinh thần phấn đấu và chịu khó làm ăn của họ, cộng với những chương trình hỗ trợ và cố vấn từ chính quyền cũng như nhiều tổ chức và cơ quan trong cộng đồng địa phương. Có thể nói ông Agrawal là một trong số khoảng 1 triệu 600 ngàn những di dân đợt đầu trong vùng đô thị Houston đã đóng góp khoảng 12 tỷ 700 triệu tiền thuế cho chính quyền các cấp từ địa phương cho đến tiểu bang và liên bang, và coi như đã bơm vào nền kinh tế cho vùng này số tiền tổng cộng lên đến 38 tỷ Mỹ-kim.
Vùng Houston đang đứng đầu trên toàn tiểu bang Texas về số lượng những cư dân không phải là người sinh đẻ tại Hoa Kỳ, cùng với sự đóng góp to lớn của họ về mặt kinh tế và tài chính xuyên qua số tiền thuế mà họ đã trả cho chính quyền các cấp, cùng với khả năng chi tiêu của họ trong nền kinh tế địa phương. Kế đến là vùng Dallas với khoảng 1 triệu 300 ngàn di dân, đã đóng góp hơn 9 tỷ 600 triệu tiền thuế và chi tiêu khoảng 30 tỷ 400 triệu Mỹ-kim vào nền kinh tế tại địa phương.
Vì thế nên bà Kate Brick, một viên chức cao cấp của cơ quan New American Economy, đã không ngần ngại xác nhận rằng: “Tại Texas, và đặc biệt là tại vùng Houston, những người di dân đã đóng một vai trò quan yếu trong việc đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế. Khi nói đến những người có đầu óc kinh doanh, những người di dân có triển vọng và khả năng mở mang cơ sở làm ăn cao hơn những người bản xứ đến hơn 53%, đặc biệt nhất là tại vùng Houston, hơn hẳn các thành phố khác.”
Rõ ràng là sự đóng góp của cộng đồng di dân rất đáng kể cho nền kinh tế địa phương tại Houston. Đó cũng là nhận định của ông Stefano Zullian, chủ nhân một hãng sản xuất kẹo chocolate đặc biệt có tên là Araya Artisan Chocolate: “Quả thật là chúng ta đã luôn thường xuyên bơm tiền vào nền kinh tế địa phương kể từ khi công ty chúng tôi chuyên mua tất cả những vật liệu và đồ dùng cần thiết từ những hãng xưởng tại chỗ.”
Đó cũng là nhận định của một người di dân có đầu óc kinh doanh nên đã không ngần ngại mở ra một dịch vụ kinh doanh mới tại một môi trường thích hợp như ở Houston. Đó là bà Diva Herazo, gốc Colombia, đã cùng với chồng là bác sĩ Jose Habib thành lập công ty Biomedent chuyên cung cấp các dịch vụ về răng theo kiểu lưu động tại mọi nơi. Bà Herazo nói rằng: “Khác với người bản xứ, những người di dân đều phải bắt đầu từ con số không, thành ra họ phải có một nghị lực rất lớn để tìm lấy những cơ hội để thành công. Họ phải biết cố gắng, tìm cách sáng chế ra những khả năng và phương pháp mà có lẽ trước đó họ chưa hề nghĩ tới.”
Đó cũng là cách mà Biomedent đã thành công. Chẳng hạn như việc nhiều cư dân tại đây bị mất quyền lợi về bảo hiểm y tế về răng chẳng hạn như được khám răng miễn phí mỗi 6 tháng, phần lớn vì họ không có thì giờ rảnh để lấy hẹn đi khám răng. Công ty Biomedent bèn nghĩ ra cách đến tận nơi sở làm để khám răng và cạo vôi trong vòng 30 phút, giúp cho nhân viên được hưởng lợi mà chủ nhân sở làm cũng vui vì nhân viên không phải xin nghỉ cả buổi để đi khám răng. Kết quả này được xem là có lợi cho cả đôi bên, và giúp cho Biomedent thu hút được nhiều khách hàng lớn như Khu Học Chính Houston, toà thị chính Pasadena và Đại học Houston-Downtown.
Để kết luận, bản báo cáo cho rằng khi những người di dân có đầu óc kinh doanh làm ăn thành công, họ sẽ có nhiều khả năng và cơ hội hơn để quay trở lại giúp đỡ cho cộng đồng địa phương. Chẳng hạn như trường hợp của ông Agrawal. Sau khi đã thành công trên thương trường, giờ đây ông đã đóng góp trong cương vị là một thành viên trong Hội Đồng Quản Trị Đại Học Houston.
Trong nền kinh tế theo mô hình tư bản, động lực lớn nhất cho sự phát triển kinh tế chính là sự tăng trưởng về dân số. Nơi nào càng có đông dân thì nơi đó sẽ càng có nhiều nhu cầu của người dân muốn có chỗ ở, cùng với việc sắm sửa một lô những hàng hoá và máy móc đủ loại trong nhà để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của mọi người. Nơi nào càng có đông dân thì càng có nhiều công nhân hơn để đảm đương nhiều công việc khác nhau, và từ đó giúp cho nền kinh tế được sung túc thêm.
Thế nhưng kể từ năm 1971, những người Mỹ sinh trưởng tại nội địa lại không chịu sinh con đẻ cái đầy đủ để có thể duy trì được dân số cao, theo như những thống kê của Tổng Nha Kiểm Kê Dân Số (Census Bureau). Nếu tính theo đầu người, Texas là nơi có nhiều trẻ em nhất, và lý do chính là nhờ vào những người di dân. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 7/2018, dân số Texas đã tăng thêm 187,545 người, và trong số này có đến 104,976 người là thành phần di dân đến từ những quốc gia khác nhau. Phần lớn họ chọn định cư tại những thành phố lớn như San Antonio và Houston.
Gần đây, những người có đầu óc “da trắng thượng đẳng” nói rằng họ muốn thấy chính quyền liên bang cần phải đảo ngược những chiều hướng kể trên để giúp cho nước Mỹ trở thành một nước của người da trắng nhưng không phải là gốc Mễ. Những người quá khích này cho rằng nước Mỹ đang bị thiệt thòi vì sự đa dạng của nó đang càng ngày càng lớn mạnh. Nhưng những con số và dữ kiện về kinh tế đều cho thấy những điều ngược lại.
Trong số 10 thành phố có mức tăng trưởng mạnh nhất tại Hoa Kỳ, đã có 4 thành phố thuộc về Texas (San Antonio, Fort Worth, Austin, Frisco). Người dân đổ xô đến Texas không phải vì chính quyền tiểu bang có những chương trình giúp đỡ về dân sinh tốt đẹp, bởi vì mọi người đều biết rằng quốc hội Texas vốn rất keo kiệt trong việc chuẩn chi ngân sách cho các chương trình phúc lợi xã hội. Nhưng người dân vẫn đến Texas bởi vì con số công ăn việc làm khá cao và họ có thể có được nhiều cơ hội để làm ăn tại tiểu bang này.
Kể từ sau cuộc đại suy thoái kinh tế hơn một thập niên trước, Texas cũng là tiểu bang đầu tiên thoát ra khỏi tình trạng trì trệ để bắt đầu vươn lên, nhờ vào sức mạnh của kỹ nghệ năng lượng, cùng với những cơ sở kinh doanh trong lãnh vực kỹ thuật cao (high tech) và cả hai ngành xuất-nhập-cảng với lân bang Mễ Tây Cơ. Texas cũng là tiểu bang đầu tiên có tỉ lệ thất nghiệp tụt dưới mức 4% trên toàn quốc, và cả năm sau thì các tiểu bang khác mới bắt theo kịp.
Những gì đang xảy ra ở Texas đều phản ảnh những gì đang xảy ra cho nhiều nơi khác trên nước Mỹ. Hiện nay, thế hệ những người sinh trưởng tại Mỹ đang mỗi ngày mỗi già đi và càng sinh con ít hơn so với trước đây. Trong năm 2018, tỉ lệ sinh đẻ của khối người sinh trưởng tại Mỹ đã tụt đến mức thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Trong khi đó, có đến 92% của sự tăng trưởng về dân số trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2018 là dựa vào các khối di dân, trong đó khối di dân gốc Latino chiếm gần phân nửa mức tăng trưởng trên toàn quốc.
Di dân và mậu dịch quốc tế là hai động lực chính giúp đẩy mạnh sự hưng thịnh của Texas. Mễ Tây Cơ gần đây đã trở thành quốc gia hợp tác về mậu dịch lớn nhất của Hoa Kỳ, với hàng tỷ Mỹ-kim hàng hoá được chuyên chở mỗi ngày dọc theo tuyến đường xa lộ I-35. Tại Houston, bến cảng địa phương cũng có số lượng hàng hoá xuất cảng gia tăng mỗi năm.
Nếu muốn biết tình trạng kinh tế của Hoa Kỳ sẽ ra sao nếu như chính phủ quyết định đóng cửa biên giới để cho di dân nhập cảnh vào Hoa Kỳ, người ta chỉ cần nhìn vào những gì đã diễn ra tại hai nước Nga và Nhật. Trước đây, Liên Sô được xem là nước hùng mạnh thứ hai trên địa cầu; và nước Nhật cũng là nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới trong suốt thập niên 1980. Nhưng giờ đây tầm ảnh hưởng quan trọng trên toàn cầu của cả hai quốc gia này đều đã bị tụt giảm rất nhiều cùng với tỉ lệ tụt giảm về dân số của cả hai nước.
Sự có mặt của di dân là điều cần thiết để duy trì dân số và đẩy mạnh sự thành công về kinh tế. Nếu người ta dẹp bỏ đi khối di dân thì sự tăng trưởng về tổng sản lượng kinh tế (GDP) cũng sẽ bị tụt giảm ít nhất là 1%, và từ đó nền kinh tế của Hoa Kỳ có lẽ cũng sẽ èo uột như tình trạng của đa số các nước Âu Châu hiện nay.
Dân số tại Hoa Kỳ ngày nay quả tình đã thay đổi rất nhiều do hậu quả của các làn sóng di dân liên tục đổ xô đến từ cả mấy trăm năm qua. Riêng tại vùng đô thị Houston, hiện nay số người da trắng không phải gốc Mễ chiếm 37.3%, sau đó là đến khối dân gốc Mễ (36.5%), rồi đến khối dân Mỹ đen (17%) và khối dân gốc Á cũng chỉ mới có 7.5%. Theo nhiều chuyên gia ước đoán, có lẽ đó cũng là tình trạng cho toàn nước Mỹ vào thời điểm năm 2045.
Đây chính là thời điểm mà Hoa Kỳ cần phải sống đúng với những lời hứa của những vị “khai quốc công thần” trước đây khi tuyên bố rằng nước Mỹ sẽ là một quốc gia đặt nền tảng trên những lý tưởng và giá trị xứng đáng, chứ không phải dựa vào chuyện máu mủ của tổ tiên hoặc là giai cấp; và nước Mỹ cũng là một nơi mà người dân được đánh giá trên thành quả làm việc của họ, chứ không phải vì nơi sinh đẻ hoặc gốc gác của họ. Hoa Kỳ không hề là một quốc gia của người da trắng, mà nó chính là quốc gia của người di dân.
Chính những người di dân luôn là những thành phần cốt cán của nước Mỹ. Chính họ đã giúp cho quốc gia này luôn sinh động, và bất cứ ai lên án những người di dân mới chính là những kẻ chống lại nước Mỹ.

MAI LOAN
Houston, Texas, ngày 20 tháng 8/2019

Tin tức khác...