Các nước Đông Nam Á với OBOR của Trung cộng

Lý Anh

Sau khi trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012, Tập Cận Bình luôn có tham vọng biến nước Tàu thành cường quốc bá chủ thế giới. Tháng 05/2017, trong một diễn đàn quốc tế vềsángkiến “Một vành đai, Một con đường” (One Belt, One Road – OBOR) ở Bắc Kinh, họ Tập chính thức đề nghị các nước liên kết phát triển kinh tế quaOBOR, một dự án kinh tế dọc theo đường biển, khởi đầu từ thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, đi qua một số thương cảng phía nam nước Tàu, kết nối một số thành phố, thương cảng Đông Nam Á, qua eo biển Malacca, vươn tới các thành phố phía tây Ấn Độ Dương, sau đó qua Hồng Hải, Địa Trung Hải, cuối cùng đến Venise, Ý Đại Lợi. Từ đó đi Naorobi (Kenya) và một số thành phố khác ở Châu Phi.

Để đạt được mục đích làm bá chủ thế giới, Trung Quốc bỏ ra hàngtrămtỷ Mỹ kim dụ dỗ các nước tham gia OBOR nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường ảnh hưởng chính trị và văn hóa …
Lúc bấy giờ nhiều chính khách, học giả đã nghĩ rằng, sáng kiến này tốt hay xấu, thành công hay thất bại, còn là một bài toán chưa có đáp số!?

Đông Nam Á với OBOR

Trung Quốc sẵn sàng tài trợ nguồn tài chính đáng kể cho các dự án xây dựng kiến trúc hạ tầng và đầu tư công nghiệp vào các nước tham gia OBOR. Đông Nam Á là mục tiêu chính trong việc triển khai dự án này. Một số nướcnghèo trong khu vực Đông Nam Á thấy có tiềnhoan nghênh sáng kiến này, nhưng không ít nước tỏ ra thận trọng trong việc hợp tác với Trung Quốc.
Sáng kiến OBOR phản ánh tham vọng của Trung Quốc nhằm tạo ra những lệ thuộc về kinh tế, gây ảnh hưởng chính trị, cuối cùng áp đặt chính sách bá quyền đối với các nước Đông Nam Á.Bởi vậy, nhiều người cho rằng,OBOR không phù hợp lợi ích các nước tham gia để đạt kết quả “hai bên cùng có lợi”. Nó chỉ mang lại lợi ích cho Trung Quốc.
Tệ hơn là, khi đầu tư theo sáng kiếnOBOR,Trung Quốc không sử dụng người lao động bản xứ, chỉ sử dụng ngườiTrung Quốc, khiến dân địa phương phẫn uất vì đã tước đoạt cơ hội làm việc của họ. Vả lại, đó cũng là cơ hội biến người Trung Quốc thành dân bản xứ.
Một số nhà phân tích tại Đông Nam Á còn lưu ý rằng,khi Trung Quốc ngày càng mạnh hơn về kinh tế và chính trị, đa số quan chức và doanh nhân Trung Quốc lại bộc lộ thái độ trịch thượng. Trước đây họtỏ ra khiêm tốn thì giờ đây họ cao ngạo với tâm trạng các nước cần Trung Quốc, cần các khoản viện trợ của Trung Quốc. Họ đặt niềm tin vào kinh tế Trung Quốc, bỏ qua sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau khi hợp tác với nước khác.

Đối với dân Tàu, Đông Nam Á là đối tượng hợp tác không thể thiếu trong việc thực hiện sáng kiến “Một vành đai, Một con đường”. Đông Nam Á là điểm kết nối chủ chốt và chỗ dựa đáng tin cậy để thực hiện sáng kiến OBOR.Trong khi đó, các nước Đông Nam Á nhìn chung hoan nghênh đầu tư của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng và đề xuất mở rộng các liên kết thương mại cũng như đầu tư trong khu vực, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Một số nướcđồng minh lâu dài và bằng hữu đáng tin cậy của Trung Quốc như Cambodia, Lào và Miến Điện,hết sức ủng hộ sáng kiến này. Họ sẵn sàng tham gia đầy đủ. Tuy nhiên, các nước khác như Indonesia, Mã Lai Á và Phi Luật Tân … lại tìm cách tiếp cận thận trọng hơnvì lo sợ nguy cơ an ninh do quá phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế. Họ cho rằng, Bắc Kinh đề ra sáng kiến này với ý đồ biến Trung Quốc trở thành trung tâm Châu Á, các nước xung quanh phải lệ thuộc vào Bắc Kinh. Đó là nguyên nhân một số nước Đông Nam Á không sẵn sàng tham gia đầy đủ vào OBOR hay cho phép các công ty Trung Quốc tham gia các dự án quy mô lớn trong lãnh thổ của họ.
Bẫy nợ OBOR

Sau một thời gian hợp tác với Trung Quốc thực hiện sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (OBOR), một số nước Đông Nam Á bắt đầu cảm thấy mình đã sa lầy vào bẫy nợ OBOR.
Thái Lanlà nước đầu tiên xem xét giảm hoặc ngừng các dự án Trung Quốc đầu tư vì lo bẫy nợ OBOR.Miến Điện cũng không khác gì. Tờ Nikkei Asian Review, chuyên đăng tải các tin liên quan đến kinh tế, chính trị, ngoại giao ở khu vực Châu Á, dẫn lời ông Soe Win, Bộ trưởng Kế hoạch và Tài chính Miến Điện, bày tỏ lo ngại về đặc khu kinh tế tại thị trấn Kyaukpyu (bang Rakhine) với kinh phí vay từ Trung Quốc lên đến 10 tỷ Mỹ kim.
Ông Soe Win cho biết, Miến Điện đã giảm bớt quy mô dự án đặc khu kinh tế nói trên từ kế hoạch ban đầu gồm một hải cảng lớn nhất Miến Điện và khu công nghiệp 1.000 ha.

Ông Soe Win nói: “Chúng tôi rút ra được nhiều bài học từ các quốc gia khác, theo đó đầu tư quá mức đôi lúc mang đến kết quả xấu… Vấn đề đặt ra là chúng tôi có đủ khả năng trả nợ hay không? Chúng tôi sẽ phải cắt giảm quy mô và tất cả chi phí không cần thiết của dự án. Điều này tùy thuộc vào các cuộc đàm phán, nên chúng tôi không thể nêu cụ thể. Tôi nghĩ rằng Trung Quốc phải có trách nhiệm đảm bảo lợi ích cho hai bên”.

Tính đến cuối năm 2017, nợ nước ngoài của Miến Điện là 9,6 tỷ Mỹ kim, trong đó 40% đến từ Trung Quốc.

Đầu năm 2018, Thái Lanlên kế hoạch lập quỹ khu vực với các nước gồm Việt Nam, Cambodia, Lào, Miến Điện hỗ trợ cơ sở hạ tầng và các dự án phát triển, giảm phụ thuộc vào đầu tư từ Trung Quốc, Ngày 16/06/2018, tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 8 của Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady- Chao Phraya- Mekong (ACMECS) với sự tham dự của lãnh đạo các nước Cambodia, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam, Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha đã đưa vấn đề này ra bàn bạc để tránh sa lầy vào bẩy nợ OBOR.
Tuyến đường sắt cao tốc của Thái Lan dài 873 km với tổng chi phí đầu tư do Trung Quốc ước tính là 10,8 tỷ Mỹ kim nối Thái Lan với vùng biên giới Lào là dự án chung của Thái Lan và Trung Quốc do Bắc Kinh cấp vốn vay.Tuy nhiên, từ lúc bắt đầu đến nay, Thái Lan và Trung Quốc đã ngồi lại đàm phán hơn 20 vòng, do lãi suất Trung Quốc đưa racao hơn mức vay thông thường của Thái Lan.
Làn sóng xét lại dự án sử dụng vốn vay Trung Quốc ở một số nước Đông Nam Á cho chúng ta thấy, nỗi lo “không trả được nợ OBOR” ngày càng xuất hiện ở những nước tham gia sáng kiến này.

Chính phủ Sri Lanka cũng cho biết,do không thể hoàn trả khoản vay xây dựng cơ sở hạ tầng cảng nước sâu Hambantota có vị trí chiến lược quan trọng thời cựu Tổng thống Mahinda Rajapakse (2005-2015), họ phải cho Trung Quốc thuê cảng này 99 năm với giá 1,12 tỷ Mỹ kim,
Ngày 02/07/2018, Trang mạng Lanka Business Onlineloan tin, Sri Lanka đã thông báo cho Trung Quốc hay, họ không thể sử dụng cảng Hambantota cho mục đích quân sự. Thứ Bảy 30/06/2018, văn phòng Thủ tướng Sri Lanka tuyên bố nước này đã chuyển Bộ tư lệnh Hải quân miền Nam sang cảng Hambantota, hiện đang được cho Trung Quốc thuê. Đồng thời, Sri Lanka thông báo rằng Trung Quốc không có quyền sử dụng cảng này cho mục đích quân sự.

Cựu Tổng thống Mahinda Rajapaksa cũng cho rằng, dù có vay tiền Trung Quốc xây dựng cảng này, nay không thể trả nợ được, ông cũng không hề có kế hoạch cho thuê toàn bộ cảng Hambantota 99 năm cho bất kỳ công ty nước ngoài nào.
Thuê cảng Hambantota, Trung Quốc có thể kiểm soát lãnh thổ gần bờ biển Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đang lo ngại Trung Quốc sử dụng cảng này cho mục đích quân sự.

Các nước phương Tây lo ngại Trung Quốc coi cảng Hambantota là một vị trí chiến lược, giúp nước này triển khai sáng kiến “Một vành đai- Một con đường”, đồng thời sử dụng cảng này như một căn cứ hải quân. Đây là một trong những ví dụ cho thấy mưu đồ của Bắc Kinh trong việc cho vay số tiền khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng khi chính quyền địa phương vượt quá khả năng trả nợ, buộc phải nhường quyền kiểm soát dự án cho phía Trung Quốc.

Phát ngôn viên Hải quân Sri Lanka Dinesh Bandara cho hay, một đơn vị hải quân Sri Lanka đã đến ở Hambantota với mục đích biến cảng này thành căn cứ hải quân Sri Lanka.
Đây là một trong những nỗ lực của Sri Lanka nhằm giảm sự kiểm soát cả về hoạt động thương mại, cơ sở hạ tầng cảng Hambantota và vị trí quân sự chiến lược của cảng này trong tay Trung Quốc.Sri Lanka cũng đã “cho”Trung Quốchải cảng Colombo khi cảng này được cải tạo với nguồn kinh phí lớn từ Trung Quốc.
Năm 2014, tờ Namibian của Ấn Độ loan tin, Trung Quốc dự kiến thiết lập 18 căn cứ hải quân ở Sri Lanka, Pakistan, Miến Điện và nhiều nơi khác ở tây và nam Ấn Độ Dương.

Trong khi đó, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói rằng, tàu ngầm của quân đội Trung Quốc chỉ hai lần “neo đậu kỹ thuật” tại cảng Colombo ở Sri Lanka trong lúc đang làm nhiệm vụ hộ tống cho hoạt động chống cướp biển ở vịnh Aden tại Somalia.
Ông Nihal Rodrigo , cựu Đại sứ Sri Lanka tại Trung Quốc cho biết, trong quá trình đàm phán, các quan chức Trung Quốc nói rất rõ, chia sẻ tin tức tình báo là một bộ phận của dự án, do Bắc Kinh muốn biết tàu thuyền nước ngoài nào đến và đi từ cảng này.
Các dự án rót vốn khổng lồ của Trung Quốc đặc biệt chú trọng tới các vị trí chiến lược ở mỗi quốc gia có thể giúp ích cho hoạt động phát triển hành lang kinh tế của nước này.

Trung Quốc một mực khẳng định sáng kiến OBOR chỉ phục vụ mục đích phát triển kinh tế. Tuy nhiên, căn cứ quân sự đầu tiên ở nước ngoài tại Cộng hòa Djibouti, một quốc gia ở Đông Châu Phi, đã tố cáo Trung Quốc có sẵn mưu đồ quân sự và mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Đó là lý do nhiều nước không còn lòng tin đối với Trung Quốc, quốc gia bành trướng luôn có dã tâm muốn làm bá chủ thế giới.

Lý Anh

Tin tức khác...