Bánh chưng xưa của mẹ

Trần Mạnh Tuấn

1. Quê tôi – miền đất trồng cói nghèo nhất tỉnh Thanh. Thời bao cấp, người dân lam lũ quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, sống chết nhờ cậy vào cây cói. Một năm có 365 ngày là ngần ấy thời gian chạy ăn, thiếu mặc. Làm quần quật cả năm có ba ngày Tết, nhưng không phải nhà nào cũng có cái Tết sum vầy đầy đủ ấm no. Tết đến, chỉ ít nhà khá giả gói bánh chưng gạo nếp, còn đa phần gói bánh chưng lẫn hạt mì – loại hạt nhập khẩu từ Liên xô.

Vào những thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cũng như nhiều gia đình trồng cói của tỉnh Thanh ngày ấy, nhà tôi thuộc dạng nghèo nhất xã. Để có đầy đủ hương vị ngày Tết, mẹ tôi cũng gói bánh chưng, chỉ khác đó là bánh chưng độn mì hạt. Mẹ bảo: Tết mà không có bánh chưng thì đâu gọi là Tết. Dù chiếc bánh chưng “đặc biệt” ấy, tuy không dẻo, không thơm, nhưng đến mồng 3 Tết đã hết veo, vì “nhà đông con của không ngon cũng hết”.

Khoảng 20 tháng Chạp, mẹ tôi đã lo mua hành củ, rau cải bắp lá già muối dưa. Ngày ấy đói lắm. Tết đến, gạo không đủ ăn, nên nhà nào cũng muối sẵn vại dưa lá cải bắp chống đói. Những gia đình có “của ăn của để” khá lắm cũng làm được vài cây giò mỡ, còn giò nạc rất hiếm. Không ít nhà, chưa hết ba ngày Tết đã phải ăn cháo trộn rau muống phơi khô, hoặc ăn khoai lang trừ bữa.

Quê tôi chẳng có lá dong, bánh chưng nhà ai cũng gói bằng lá chuối. Chừng 28 Tết, mẹ sai anh em chúng tôi đi chặt tàu chuối, rọc ra rồi hơ bếp lửa. Cả gia đình ngồi quây quần quanh cái mẹt rộng giữa sân gạch. Tay mẹ thoăn thoắt đong gạo nếp trộn sẵn hạt mì đổ vào lá chuối, vừa gói mẹ vừa kể chuyện cổ tích bánh chưng, bánh dầy. Mẹ bảo, mẹ lấy bố nhà nghèo, nhiều Tết chẳng có bánh chưng, chẳng tiền mua cân thịt, vậy mà vẫn vui, vẫn hạnh phúc.

Cái thời bao cấp nghèo khổ, đêm 30 Tết có nhà còn giã mắm cáy, giờ sang canh vẫn chưa hết việc. Từ 6 giờ chiều, nồi bánh chưng hạt mì bắc lên bếp. Mẹ nhóm lửa bằng bổi, nồi bánh sôi ùng ục. Chúng tôi ngồi quanh nồi bánh chưng chờ giao thừa. Mẹ bảo: “Các con đi ngủ đi, bánh chín mẹ gọi dậy đón giao thừa”. Chúng tôi nằm lăn ra bếp ngủ. Chiếu là bổi, lấy bổi đắp lên người thay chăn. Mẹ vừa nấu bánh chưng, vừa hát ru chúng tôi ngủ.

Chừng 11 giờ khuya, mẹ đánh thức chị em tôi dậy vớt bánh chưng, rồi giúp mẹ múc chè đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Đêm giao thừa giá rét, mẹ bịt khăn, mặc áo bông. Thỉnh thoảng mẹ lại ra ngó lên bầu trời. Theo kinh nghiệm của mẹ, nếu đêm giao thừa trời tối đen như mực thì năm mới làm ăn khó khăn. Còn đêm giao thừa trời đẹp, báo hiệu năm mới ấm no, làm ăn dễ dàng.

Sau khi cúng giao thừa, mẹ ngồi nghe đài tiếng nói Việt Nam phát ra từ chiếc loa truyền thanh của xã. Khi nghe những bài thơ về lính đảo, hoặc những câu chuyện đêm giao thừa của lính Trường Sa, mẹ bảo: “Bộ đội khổ lắm. Các chú bây giờ đang gác ngoài đảo xa, họ chẳng được đón giao thừa như ở đất liền”. Lúc đó, tôi chưa hiểu gì về bộ đội, nhưng tôi cảm nhận được tấm lòng của mẹ giành cho chiến sĩ hải quân đảo xa khi Tết đến xuân về.

2. Tháng 3/1989 tôi lên đường nhập ngũ. Mặc dù đất nước bước sang thời kỳ đổi mới được 3 năm, song với nghề trồng cói ở xứ Thanh như quê tôi còn đói khổ lắm. Bữa cơm sáng trước lúc lên đường, mẹ luộc một nồi khoai và niêu cơm nhỏ. Nói là khoai cho “oai” chứ đúng nghĩa là chạc khoai. Cả nhà quây quần bên mâm khoai sáng. Mẹ in cho tôi một bát cơm gạo trắng đầy, bảo: “Nay con được ưu tiên, cứ ăn no rồi đi, không phải ăn khoai đâu, đường xa đói lắm đó”. Mẹ bóc vỏ củ khoai nhỏ đưa lên miệng giấu giọt nước mắt ngân ngấn chực trào. Cả nhà cười vui tiễn tôi lên đường bằng bữa cơm đặc biệt ấy.

Tạm biệt gia đình tôi lên huyện giao quân. Tiễn chân tôi ra đầu ngõ, mặt mẹ thoáng buồn. Tôi hiểu, mẹ đang cố nén những giọt nước mắt xúc động khi phải xa con và chẳng biết bao giờ gặp lại. Lúc đó, tôi cũng chưa hiểu thế nào là nhớ nhà. Mãi đến lúc trèo lên thùng xe tải, xe chuyển bánh, rặng tre đầu làng xa dần, bỗng nhiên tôi ứa nước mắt. Khuôn mặt mẹ hiện đầy tâm trí tôi.

Tết năm 1992, tức là sau 7 năm đất nước chuyển mình từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Mặc dầu nhiều nơi đã khởi sắc, song quê tôi vẫn nghèo nàn lạc hậu. Tết năm đó, tôi học năm thứ hai Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự. Ngày mùng 6 Tết, tôi nhận được đồng bánh chưng mẹ gửi từ quê qua người đồng hương học trước một khóa. Vẫn đồng bánh chưng lẫn hạt mì, chỉ khác có thêm nhân đậu xanh. Cầm đồng bánh chưng trên tay, tôi trào nước mắt. Hình ảnh khuôn mặt mẹ già nhăn nhúm hiện lên trong tiềm thức. Dẫu miếng bánh chưng lạnh ngắt, nhưng tôi vẫn cảm thấy ấm lòng.

Thời gian như mũi tên bắn đi, thoáng cái đã 20 năm xa quê hương. Tết 2012, từ trời Nam tôi về thăm mẹ. Nhắc lại chuyện bánh chưng độn hạt mì ngày xưa, mẹ bảo: “Bây giờ chẳng ai ăn độn nữa đâu. Ngày đói khổ, nhà ai cũng vậy. Không có ngày xưa, sao có bây giờ”.

Trưa 30 Tết, vẫn dáng người hao gầy, cái lưng còng ấy, mẹ cặm cụi lau lá chuối, gói bánh chưng. Tay mẹ run run đong gạo nếp đổ lên lá chuối, rồi gói lại. Những chiếc bánh chưng không khuôn vẫn vuông vức như ngày nào, chỉ khác ruột bánh không có hạt mì như ngày xưa nữa, mà thay vào đó là những hạt gạo tám thơm trắng ngần. Đêm 30, trời rét căm căm, mẹ ngồi bên nồi bánh chưng kể chuyện ngày xưa đói khổ. Những câu chuyện cổ tích tôi đã được nghe từ thuở ấu thơ, giờ nghe lại vẫn thấy xao lòng.

Thời khắc giao thừa tới, mẹ vớt bánh chưng cho ráo nước, rồi chọn cặp đẹp nhất đặt lên bàn thờ tổ tiên. Xôi trắng, chè lam, bánh dùng cũng được đặt trang trọng trên bàn thờ. Vẫn chiếc áo bông sờn cũ, mẹ khấn cầu mong sức khỏe cho cả nhà, một năm mới an lành, mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt.

Một mùa xuân nữa lại về trên khắp nẻo đường, góc phố làng quê. Thời kinh tế thị trường, đất nước phồn thịnh, việc gói bánh chưng ngày Tết đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của mỗi gia đình Việt Nam. Bây giờ chẳng ai gói bánh chưng độn hạt mì. Song với những ai đã từng sống thời bao cấp, chắc hẳn đã được thưởng thức nó. Với tôi, hình ảnh mẹ ngày nào gói bánh chưng, cặm cụi bên bếp than hồng đêm ba mươi Tết giờ chỉ còn là hoài niệm. Dẫu bánh chưng xuân này nhiều thịt, nhiều đậu thơm ngon, nhưng vẫn nhớ bánh chưng mẹ nấu ngày xưa. Đó là những cái bánh mang nặng tình yêu thương của một đời tần tảo. Cái bánh chất chứa bao nhọc nhằn gian khó thấm đẫm mồ hôi và cả những giọt nước mắt của người mẹ quê mùa.

TRẦN MẠNH TUẤN

Tin tức khác...