Tôi kéo xe ( chương 4-6)


Tam Lang Vũ Đình Chí

Chương 4: Tám Cái Lợi Trong Một Chiếc Nón Lá

Chán, thẹn, vừa ghê lạnh vừa nóng đầu, tôi không còn sức đi, cũng như không còn can đảm nữa.
Nghĩ mãi mới nhớ ra con đường vắng nhất, tôi lôi xe đến phố Hàng Chuối, định gác càng lên bờ hè nằm nghỉ, chờ cho thật tối, vác xe về quẳng trả lại cai xe.
– Ka-ao chu-u!
Tiếng gọi ấy, lúc đó đối với tôi nó chẳng có nghĩa gì tuy tôi nhìn rõ ở đầu phố Hàng Vôi có một người đầm đang giơ tay vẫy gọi nhưng tôi vẫn làm bộ như không nghe tiếng, cứ lẳng lặng kéo xe bước tắt đi, mặc xác cả cái anh chàng nhanh mồm thét vào tai tôi mà bảo:
– Kìa xe, người ta gọi.
Vừa lúc ấy, ở đường bên cạnh nhà Băng, có hai chiếc xe cùng đổ xô lại.
Thấy mấy ông đồng nghiệp tranh nhau làm ngựa, tôi thật không còn can đảm há hốc miệng mà cười.
Ghé vào túp lều bán nước của bà lão phố Hàng Chuối, tôi làm một trinh nước chè tươi. Nước vừa vào khỏi cổ đã toát ngay ra lỗ chân lông rồi, tôi cởi áo, phanh ngực ra, cầm một vạt mà… phẩy.
– Bỏ nón ra mà quạt có làm sao, để làm gì trên đầu ấy!
Chẳng để ai đáp, cũng chẳng chờ ai hỏi, một anh phu xe khác cũng ngồi hàng nước với tôi lúc ấy, nói ba hoa về chuyện cái nón, một thôi dài:
-… Cái nón cu li xe có ba đồng xu mà dùng được nhiều việc hơn cái ô trắng đồng hai. Nó là lá mà nó tốt bằng mười vải ấy chứ lại! Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm để hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống đít mà ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy. Lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho khỏi ruồi nó bu lại; lúc nóng thì làm quạt, quạt; quần áo không kịp về nhà giặt, giặt ở đường, vắt áo thật ráo nước rồi tãi lên đầu vừa đi vừa phơi; mà túng nữa lại còn làm cả cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ đĩ.
Bốn giờ rưỡi chiều.
Bỏ mặc anh chàng vui chuyện, tôi đánh xe sang vỉa hè bên kia.
Gác hai càng xe lên bờ, tôi úp nón lên lòng, nằm dựa lưng vào sân xe, mơ màng nghĩ…
Trên cành cây, tiếng xé vải của những con ve kêu hạ.
Qua mấy chùm lá xanh cợt nhau với gió, nắng xế chiều hè như ném giỡn những đồng tiền vàng đỏ ối trên chiếc nón sơn đen, đỏ lòm hai chữ: P.V.

Chương 5: Cái “Cuốc” Từ Đồn Thủy Lên Yên Phụ

Phía sau chiếc xe bị xô mạnh, tôi cũng văng mình đi. Ngẩng nhìn lên, ánh cây đèn giữa phố đã rọi sáng xuống vỉa hè một con đường vắng tanh vắng ngắt.
Trước mắt tôi lù lù một người đứng.
Chẳng kịp để tôi dụi mắt, người ấy đã nhảy lên xe, gieo mạnh đít xuống đệm, rồi nện gót giày xuống sân xe, mà thét:
– A lê! Đi mao leen!
Tôi tất tả chụp nón vào đầu, nâng cao càng gỗ hi hoay quay xe ra đường. Tại sao tôi lại chịu, kéo người? Thật lúc đó, chính tôi, tôi cũng không biết.
Máu trong người tôi, bấy giờ hình như luân chuyển hăng lắm. Cắm cổ đưa hai khuỷu tay lên khỏi lưng như hai chiếc càng châu chấu rồi xoạc chân bước bước thứ nhất, tôi tưởng chừng như có thể nuốt nổi được một lúc mấy dặm đường.
Nhưng sự thật nó khác hẳn với bụng nghĩ của mình.
Chạy đến bước thứ ba, tôi đã thấy như mất hết thịt ở hai gót chân, chỉ còn trơ có cái xương nhói buốt. Người tôi, vốn mập. Cái bụng bấy giờ, tôi thấy như chảy xệ thêm ra mà đưa lủng lẳng như bụng lợn dưới cái khung xương sườn.
– Mao leen! A lê, mao leen!
Mỗi cái gót giày nện vào sân xe như đánh thẳng lên gáy tôi cho gục xuống. Chân tôi, ngày thường vẫn đi chữ bát, lúc ấy hình như đi vòng kiềng. Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cố thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp.
Ì ạch mãi, rồi tôi cũng tha được ông khách của tôi đến đầu Cầu Đất… Miệng thở, mũi thở, rồi đến cả tai cũng thở, mồ hôi thì toát ra như mồ hôi chõ, tôi thấy tôi không phải là người nữa, chỉ là một cái… nồi sốt de.
Từ Cột Đồng Hồ trở đi, bước chân tôi chạy đã thuần, nhưng miệng tôi vẫn há hốc ra mà thở;
cũng như hai bánh cao su tuy vẫn quay vòng trên con đường nhựa mà chiếc xe thì cứ bập bềnh như muốn đưa tôi lên khỏi mặt đất, hay dúi tôi ngã khuỵu xuống rãnh hè.
Ai chẳng bảo tôi đã khiến nổi hai tay xe. Tôi thì tôi bảo: làm thân người phu xe tay là tự nguyện cúi đầu dưới quyền sai khiến của hai cánh tay gỗ!
Dãy đèn điện đường Bờ Sông, mọi tối, tôi trông chẳng sáng là bao, mà đêm ấy như đèn pha ô tô cả. Bóng trăm rưởi nến sáng như bóng ba trăm nến, chiếu hết những đường chỉ áo cho đến những sợi lông của cập giò.
Dọc đường, những tiếng ồn ào, huyên náo, tôi nghe thấy hết mà không nghe thấy gì; mỗi lần có chiếc ô-tô tung bụi vút qua, tôi lại thấy khách qua đường, trong đó có cả người quen, đang chỉ trỏ tôi mà phỉ nhổ. Ngang dọc, quanh tôi có không biết bao nhiêu xe! Xe ấy kéo những ai? Người quen biết tôi cả! Rồi một sức mạnh như vít ngang lấy cổ. Mặt tôi cúi sấp xuống. Chân tôi chạy rảo đi.
– Ếp!
Người qua đường không tránh, có lẽ vì tôi kêu nhỏ tiếng quá, chớ không phải người ta lơ đễnh không nghe.
– Mù! Chạy thế à?
Một đầu càng xe tôi kéo đã thích vào vai anh ta, anh ta còn bị người Cai Tây ngồi trên xe tôi sừng sộ.
Qua gầm cầu, qua bến ô-tô, qua nhà Máy nước nóng… qua nhà Thuốc lá cũ.
Miệng tôi thử lửa, cằm tôi đổ tong tỏng những dòng mồ hôi xuống như chiếc ống máng cụt đổ nước hôm trời mưa.
– Tôôi! Assez!
Lại một cái gót giày nữa đánh mạnh xuống sân xe.
Tôi ghé đỗ trước một tòa nhà ngoài hiên có một người đàn bà An Nam quần trắng sơ mi đen, nằm duỗi dài trên ghế.
Hất chiếc áo xanh tụt xuống nửa lưng, cầm nón quạt, tôi ngồi phịch xuống vỉa hè, ngay chỗ xe đỗ. Giá lúc đó người bồi không mang đồng hào con ra trả, tôi cũng quên bẵng cái việc: còn phải đợi khách cho tiền xe.
– Bác vào nói hộ ông ấy cho thêm chứ. Một cuốc từ Đồn Thủy về!
Người bồi chưa bước vào, một cái mũi lõ thô lố hai mắt đã thò ra:
– Qué qu’il y a? Qué qu’il y a? – Dồn mấy tiếng.
– Lúc điếc bẩy-dề ăng-co.
– Dix sous et encore pas content?
Tôi đứng lên, chìa đồng hào người bồi vừa trao tay xong:
– Me-sừ bẩy-dề moa ăng-co, me-sừ a-lê loong tắng.
Ông khách tôi sừng sộ nhảy ra:
– Tu veux encore des cadouilles? Sale vache!
Miệng nói, tay anh ta cởi chiếc thắt lưng da đóng đai ngoài bụng, nhấp nhoáng một chiếc khóa đồng.
Lúc ấy tôi mới nhận biết ông khách của tôi là một ông Cai mắt xanh, tóc quăn. Nghe người ta chửi vào mặt đã xong, tôi còn muốn được thêm một trận đòn, phải cứ làm ra mặt bướng:
– Bẩy-dề ăng-co, moa ba con-nét.
Quả nhiên tôi không đỡ kịp một quả đấm, vùng chạy kêu ầm lên:
– Ối ông Đội xếp! Ối Cập tên!(capitaine = quan ba)
Phố vắng, mà người đổ ra xem đông.
Tôi nghe rõ một tiếng đàn bà:
– Ói, còn chuyện gì, lại cu li xe vòi tiền, bị nó đánh!
Đội xếp, Cập tên, rồi cũng không ông nào đến! Hàng phố, rồi họ cũng mặc!
Cho cả đến cái bà cóc xê quần trắng cũng vẫn ung dung nằm duỗi dài trên ghế như thường.
Tôi quay lại, cầm hai càng xe lên.
Một ông quần nẹp trắng ngồi bó gối bên chiếc xe dưới gốc đèn nói một câu bâng quơ:
– Lạ gì các “bố Vườn rau” (1) còn không biết!
(1)Dãy nhà ở mé ngoài phố Trúc Lạc, bên trên trường học Yên Phụ cũ, làm cạnh một vườn trồng rau, là chỗ có đông cai Tây, đội Tây ở. Những người Tây ấy, bọn phu xe quen gọi là Tây Vườn Rau.

Chương 6: Nhớ Đến Ông Già Ba Năm Trước

Gió hồ Trúc Bạch hây hây quạt mát.
Đường Cổ Ngư tấp nập những xe nhà gọng đồng sáng nhoáng, những torpédo với limousine của các khách thừa lương.
Được tắm gội bằng luồng gió mát, người họ chắc nhẹ như chiếc lông hồng.
Cùng ngọn gió hồ, cùng cảnh mặt nước gọn trăng mà tôi thì thấy như bứt rứt.
Cái đấm bị ở vai, không đau bằng xương sườn, xương gáy với xương ống chân mỏi rức. Rức xương lại chưa bằng rức óc. Mà lúc ấy thì tôi mỏi rức cả óc lẫn xương.
Cái óc bảo cái xương: “Mày cũng như tao, đang đau rức”, rồi lại bảo cái mắt: “Chúng mày hãy trông trên đường”.
Trên đường có cái gì?
Một anh chàng béo như con trâu trương với bốn đứa con – thiếu chị vợ để họp thành cả một gia đình – cùng ngồi trên chiếc xe, một người kéo đi bước một.
Đổi địa vị, bây giờ cho người này ngồi lên, người kia bước xuống. Kéo được ba bước, người kia rồi phải trỏ vào mặt người này mà nghiên hai hàm răng thật chặt:
– Chúng mày tàn nhẫn lắm, quân bất lương!
Những buổi tối mùa hè người ta thường nghe những tiếng:
– Mày đánh xe kéo mợ đi chơi mát!
– Mười lăm xu một giờ, có đi không?
Rồi, ngang dọc, khắp đường, người ta thấy những gái đã năm con còn phấn đắp như trát, ngồi lấy bộ cho đẹp trên những chiếc xe sơn đỏ, sơn đen; thằng xe thì kéo bở hơi tai, ống chân phải bó xà cạp để tỏ cho người biết bà chủ nó là nhà sang trọng. Lại những thằng vai so đầu mướt, to lớn như ông Hộ pháp, nằm sóng sượt trên những chiếc xe đi giờ, miệng phì phào hơi thuốc Ăng-lê, hai mắt như mắt Long thần, hết nhìn ngang lại nhìn dọc…
– Mười lăm xu một giờ, có đi không?
– Mày kéo mợ đi chơi mát!
Mười lăm xu một giờ. Ba đồng một tháng. Bát mồ hôi pha máu của người, họ đánh giá không được một đồng kẽm. Thật quân bất lương!
Ngồi nghĩ ngợi lan man sau khi đã mặc bộ quần áo phu xe, nghe người ta mắng chửi, chịu người ta đánh đòn, tôi lại sực nhớ đến một ông già tôi gặp khoảng ba năm trước.
– Kéo xe đôi, – Bạn tôi với tôi – ông già chạy chậm.
Bạn tôi gắt:
– Chạy nhanh lên chứ, khéo khỉ lắm!
Ông già vừa thở vừa đáp:
– Các thầy có kéo xe như tôi, các thầy mới biết.
Bạn tôi nhảy xuống xe toan đánh thằng xe hỗn, nếu tôi không tốt can.
Chuyện ấy, đã ba năm.
Bây giờ, chắc ông già ấy đã chết.
Mà làm cái nghề này, sống lâu làm sao được? Chạy suốt ngày. Ăn không đủ. Tấm thân lại dầm mưa dãi nắng…
Người ta nói:
– Quả ở xứ nóng, quả chín sớm.
Tôi bảo:
– Người làm cu li xe kéo, người chết non!

Tin tức khác...