Xuân xưa, xuân nay!

Chu Nguyễn

Mùa xuân ở bắc bán cầu năm 2019 tới muộn, mãi tới 20 tháng ba mới khai xuân nhưng lịch Á đông thì ngày 30 tháng chạp đã là ngày lập xuân và 01 tháng giêng (5 tháng 2 dương lịch) đã là nguyên đán, ngày Tết Kỷ Hợi.
Nơi tha hương nhiều người chạnh nhớ quê nhà với hình ảnh nhà thơ tài hoa bạc mệnh Hàn Mặc Tử (1912-1940) đã viết:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió reo tà áo biếc
Trên giàn thiên lý bóng xuân sa
ng.

Đầu thế kỷ trước, nhà thơ Tản Đà (1889-1939) mỗi khi Xuân về, Tết đến lại lại có dịp đắm chìm trong thơ rượu:

Gặp xuân ta giữ xuân chơi
Câu thơ, chén rượu là nơi đi về
Hết xuân, cạn chén xuân về
Nghìn thu nét mực thơ đề vẫn xuân!

Mùa xuân mang nhiều ý nghĩa. Nó là mùa đẹp nhất trong năm. Nó tượng trưng cho tuổi trẻ, cho hạnh phúc. Nhà thơ vốn đam mê hơn chúng ta, lại càng gắn bó với mùa xuân. Nhiều ngôi sao Thơ mới sống say mê, cuồng nhiệt trong mùa xuân, trong tuổi xuân và chỉ sợ xuân tuột khỏi tầm tay mình:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất…

Nhờ sống trọn vẹn với cảnh, với người và với mình như thế nên thi nhân có nhiều kỷ niệm về mùa xuân hơn trong các mùa khác và nếu có cơ hội gợi lại quá khứ thì kỷ niệm mùa xuân, vốn ngủ quên trong tâm tư, lại dễ dàng trở về ký ức.

Thế kỷ 19 ở Pháp, Victor Hugo(1802-1885) đã viết bài Souvenirs du Printemps tức Kỷ niệm mùa xuân để ghi lại những ngày tháng vui vẻ khi gia đình ông sống trong vùng Montlingon và Saint-Leu. Hình ảnh đẹp nhất và làm thi nhân rung động khôn nguôi là bầy con nhỏ của nhà thơ vui đùa xung quanh.
Chúng ta hãy nghe nhà thơ tâm sự vào một buổi sáng mùa xuân ông thức giấc nhưng chưa mở cửa vì muốn yên lặng theo dõi, với nguồn vui vô biên, mấy đứa con thơ ngây của ông chạy nhảy ngoài thềm dưới cửa sổ. Năm 1846 khi ông viết về kỷ niệm xưa thì dĩ vãng êm đềm mà ông từng có, đã thành bóng mây vì sau này bản thân ông bất hòa với con trai, còn cô con gái ông thương yêu là Leopoldine lại chết đuối trước đó mấy năm (1843).

Khi cái đẹp đã mất, mảnh đời êm đềm xưa kia chỉ còn là kỷ niệm, kẻ đa cảm càng nhớ tiếc dĩ vãng. Có lẽ vì thế Hugo đã viết những hàng thực cảm động về kỷ niệm mùa xuân êm ái và được nhà thơ XD (1916-1985) dịch như sau:

Thời ấy chúng tôi sống chung ở đó
Lòng ta ơi, hãy trở lại hôm xưa
Tôi nghe thấy dưới bên cửa sổ
Tiếng con tôi buổi sáng, chơi đùa.
Con gái tôi chạy giữa sương mai,
Không làm ồn, sợ tôi tỉnh cơn say
Tôi đã dậy, nhưng không mở cửa
Sợ con tôi thấy động, vù bay…
Các em của nó cười… Ôi! Trời tinh khiết!
Nơi mát tươi là cảnh vật này:
Gia đình tôi hát cùng tạo vật
Các con tôi hát với chim bầy

(C’est là que nous vivions, – Pénètre,
Mon cœur, dans ce passé charmant !
Je l’entendais sous ma fenêtre
Jouer le matin doucement.

Elle courait dans la rosée,
Sans bruit, de peur de m’éveiller ;
Moi, je n’ouvrais pas ma croisée,
De peur de la faire envoler.

Ses frères riaient… – Aube pure !
Tout chantait sous ces frais berceaux,
Ma famille avec la nature,
Mes enfants avec les oiseaux !)

Thói quen “gợi giấc mơ xưa” là bệnh của khách đa tình và giàu cảm xúc.

Hồ Dzếnh (1916-1991) là nhà thơ điển hình cho trường thơ hoài cổ trong Thơ Mới. Tác phẩm của ông, thơ cũng như văn xuôi, phần lớn phản ánh tâm trạng tiếc thương dĩ vãng, như Chân trời cũ, Quê ngoại và cả các các tác phẩm tiểu thuyết ký tên Lưu thị Hạnh như Một truyện tình mười lăm năm về trước và Hai mối tình cũng chỉ là hồi ức các bi kịch tình ái thuở tay trắng mộng đầy của tác giả.
Thơ Hồ Dzếnh kể lại kỷ niệm mùa xuân xưa nhẹ nhàng, thi vị, gây cảm xúc lâng lâng như người uống rượu xuân, ru hồn kẻ biết tiếc thương cái đẹp tìm lại “ít nhiều hương phấn khi còn ngây thơ” trong khung cảnh hương trầm thoang thoảng, quần áo xênh xang, tiếng chuông đổ hồi, tiếng khánh leng keng, với hình ảnh thiện nam tín nữ quỳ lạy trước bàn thờ Phật. Bài Rằm tháng giêng của Hồ Dzếnh vì thế trở thành một tác phẩm xuân bất hủ:

Ngày xưa còn nhỏ, ngày xưa
Tôi đeo khánh bạc, lên chùa dâng nhang.
Lòng vui quần áo xênh xang,
Tay cầm hương, nến, đỉnh vàng mới mua.
Chị tôi vào lễ trong chùa,
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên:
“- Lòng thành lễ Phật đầu niên,
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng!”
Chị tôi phụng phịu má hồng,
Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi.
Tam quan, ngoài mái chị ngồi,
Chị nghe đoán thẻ, chị cười luôn luôn.
Quẻ thần thánh mách mà khôn:
– Số này chồng đắt, đường con cũng nhiều
Chị tôi nay đã xế chiều,
Chắc còn nhớ mãi những điều chị mơ.
Hàng năm tôi đi lễ chùa,
Chuông vàng, khánh bạc ngày xưa vẫn còn.
Chỉ hơi thấy vắng trong hồn
Ít nhiều hương phấn khi còn ngây thơ.
Chân đi, đếm tiếng chuông chùa,
Tôi ngờ năm tháng ngày xưa trở về…

Nếu tác giả Chân trời cũ tiếc thương cái đẹp của mùa xuân dĩ vãng vì nó gắn liền với tuổi thơ êm đềm của mình thì tác giả thi tập Anh với Em, nhà thơ Lan Sơn, lại tiếc xuân xưa chỉ vì hiện tại phũ phàng, đen bạc không thể so sánh được với dĩ vãng vàng son:

Ước mơ tàn lửa với thân đời.
Tiết trinh bán hết cho sương gió
Làm điếm hai mươi tám tuổi trời
.

Ta hãy nghe kỷ niệm xuân trong thơ Lan Sơn (1912-1974). Sao mà những vần đầu đầy chất thơ, chất mộng muôn vàn trân quý như thế mà những vần sau lại cay đắng như kẻ thua trắng những gì mình quý báu nhất?
Có lẽ chỉ nên đọc những vần sau đây trong bài Tết và người qua… của Lan Sơn vì qua đó những kẻ yêu thơ, nhớ quê hẳn bồi hồi trong dạ vì bắt gặp hình ảnh mình trong cái thuở để chỏm vô tư:

Thủa bé tôi đeo chiếc khánh vàng,
Quần đào xẻ đũng, áo hàng lam,
Chân đi hài đỏ, tay thu pháo,
Nhộn cả nhà lên tiếng hát vang!
Muôn màu tươi sáng, phấn, hoa, hương,
Đời ngọt ngào như có vị đường.
Tôi sống, tôi say và mỗi Tết
Lòng tơ thêm động chút yêu đương.
Khói pháo say người rượu ái ân,
Cõi lòng thắm nở một vườn xuân.
Nàng thơ năm ấy cười mê đắm
Trong mắt em nhung hiện giữa trần.

Rằm tháng giêng và Tết và người qua… được sáng tác trước 1945 nên kỷ niệm mùa xuân chỉ xoay quanh niềm nhung nhớ, vị ngon, vị ngọt của dĩ vãng. Nhưng đó là dĩ vãng cá nhân chứ chưa có hương vị của thời cuộc và số phận của giống nòi.

Sau 45, chiến tranh tàn phá quê hương và sau 1954 đất nước chia đôi và tình trạng tử biệt sinh ly diễn ra ngoài xã hội và trong lòng mọi người. Những tâm hồn bén nhậy, với vết thương trong lòng và trước đau thương của dân tộc, khi nhớ lại kỷ niệm xuân đã để lại những vần thơ thống thiết như trường hợp Vũ Hoàng Chương.

Vũ Hoàng Chương (1916-1976) tuy ra đời ở Nam định nhưng lên Hà nội học Albert Sarraut từ nhỏ. Đậu tú tài, ra đi làm và sau đó hoạt động văn hóa, ông cũng “đóng đô” ở Hà Thành hoa lệ. Thuở mới thành danh, Vũ Hoàng Chương được mô tả là “chàng thanh niên khá khỏe mạnh, lanh lợi, có vẻ ăn chơi của Thơ Say” như Bàng Bá Lân viết trong cuốn Vài kỷ niệm với văn thi sĩ hiện đại. Ông lại là người phóng khoáng và tài hoa nên mỗi độ xuân về, không hội xuân nào không có vết chân người tài tử và chẳng mấy nơi cảnh đẹp, người xinh, men nồng, phách ngọt lại không có hình bóng thi nhân.
Sau này khi rời miền Bắc vào miền Nam, vào xuân 1972, khi tóc đã phai màu, thế sự đã làm đau lòng kẻ sĩ, nhớ lại kỷ niệm xuân xưa trên đất Bắc, lòng hoài hương trỗi dậy, gợi tâm trạng nhớ nước, nhớ nguồn nhà thơ đã viết bài Hội Xuân:

Người đi, bóng ở lại cùng
Non Hương vách Phật, núi Hùng đu tiên
Bóng chưa nhòa, dễ ai quên
Mơ chùa Hương chín, mộng đền Hùng xanh
Giờ đây các chị các anh
Mộng phai mơ héo cho đành được sao?
Tháng Ba trẩy hội năm nào
Đường lên Hùng Lĩnh, nẻo vào Hương sơn
Mấy vòng đu, mộng chập chờn;
Một rừng mơ, gió từng cơn thoát trần.
Còn ai không là cố nhân!
Đã quen từ những tiền thân kia rồi,
Từ trong ý thức Giống nòi,
Từ trong tâm tưởng kết lời Nam Mô,
Từ trong mây nước hẹn hò:
Lâm Thao ngược bến, xuôi đò Hà Nam.
Chưa tươi nụ Lạc, hoa Đàm,
Lá chưa về cội, chưa cam lòng này.
Có ai mặt nước chân mây
Cùng ta nhớ bóng, thương ngày hội xuân?

Bài thơ trên ghi lại kỷ niệm về hai địa danh không những tiêu biểu cho cảnh đẹp mà còn cho cả văn hóa và lịch sử dân tộc. Chùa Hương và Đền Hùng mấy ai quên! Nhắc tới Chùa Hương không riêng gợi trong lòng ta “thiên nam đệ nhất động” mà còn nhắc nhở ta nền văn hóa truyền thống của Dân Việt. Nhắc tới Đền Hùng cũng chẳng phải chỉ ghi lại hình ảnh thơ mộng và huy hoàng của ngày hội xưa mà còn nhắn nhủ kẻ xa quê đừng bao giờ quên nguồn gốc Lạc Hồng.

Lịch sử tiếp nối bi kịch. Sau 1975, biết bao nhiêu người phải bỏ quê hương ra đi tìm đất hứa. Nơi tha hương, xuân về, nhìn chung quanh tuyết phủ, mấy ai quên những vần thơ xuân của Thanh Nam (1931-1985) có tên là Mưa đêm trừ tịch viết bằng máu lệ khi sống kiếp lưu dày ở Seattle vào 1983:

Đất khách năm tàn vẫn gió mưa
Ngồi bên ly rượu đón giao thừa
Nhìn qua khung cửa mờ hơi nước
Chợt nhớ mưa phùn đất Bắc xưa

Ôi! cố hương xa nửa địa cầu
Nghìn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thuở nào

Thấy lại con đường tuổi ấu thơ
Cỏ mềm nhung biếc đón chân tơ
Cành non lộc mới ngang tầm mắt
Trang sách thần tiên bụi chửa mờ

Ta bước tham lam, chân vội vàng
Lượng đời mặc sức tháng năm hoang
Lòng vui nào biết chân khờ dại
Đã chọn cho mình luỵ gió sương

Mê mải theo người nhập cuộc chơi
Lớn khôn cùng với nắng mưa đời
Bao nhiêu mơ ước thời niên thiếu
Mỗi Tết tàn theo xác pháo rơi…

Thảng thốt quay nhìn rụng mấy xuân
Trái tươi nhân thế héo khô dần
Đêm nao thức giấc cùng trăng xế
Thấy lạnh riềm mi giọt lệ thầm

Trong góc hồn đau dĩ vãng buồn
Vẫn còn xanh ngát cõi xuân non
Tưởng như khói pháo chưa mờ nhạt
Trên lối hoa đào trải mộng thơm

Thôi, hãy vào đây tránh gió mưa
Những lòng hoang dại, mộng bơ vơ
Đêm nay ta đốt sầu lưu lạc
Trong khói men nồng hạnh phúc xưa.

Kỷ niệm mùa xuân nếu trong thơ nấu từ gạo nếp, men gia truyền và nước giếng khơi tự nhiên Đa BútHồ Dzếnh, Lan Sơn có thể so với rượu bồ đào, Ice wine, làm dịu nhẹ tâm hồn ta khi xuân về thì trong thơ Vũ Hoàng Chương, Thanh nam nó lại là thứ men Rượu Ba Trăng Đa Bút: rượu ( Ba trăng nghĩa là 3 tháng, nhiều nơi gọi là rượu Bách Nhật) làm cháy lòng những kẻ xa quê khi Tết đến.

Cả hai mỹ tửu đều quý vì khách tha hương có lúc cần quên nhưng có lúc cần nhớ nên những vần thơ trên hình thành với xúc động chân thành, mực mài nước mắt, xứng đáng được chúng ta gìn vàng giữ ngọc mãi mãi.
Chu Nguyễn

Tin tức khác...