Xuân Đinh Dậu nhớ xuân Kỷ Dậu: Trận Đống Đa dưới ngòi bút của Nguyễn Văn Tố

Chu Nguyễn

 

Nguyễn Văn Tố (1889-1947), hiệu là Ứng Hòe, là một học già lừng danh hồi tiền chiến và là một trong bốn nhân sĩ Bắc hà đầu thế kỷ XX: Quỳnh-Vĩnh-Tố-Tốn (Phạm Quỳnh, Nguyễn văn Vĩnh, Nguyễn văn Tố và Phạm duy Tốn). Nổi bật hơn cả, Nguyễn văn Tố rất giỏi chữ Hán lại tinh thông Pháp văn khiến học giả người Pháp, đồng nghiệp với ông ở Viện Viễn đông Bác cổ phải khâm phục.

Về mặt nghiên cứu lịch sử, và văn hóa cổ của ta, với tinh thần quốc gia, cho đến nay cụ Tố xứng đáng là bậc thầy của hậu thế.

Trên báo Tri tân số xuân Nhâm Ngọ 1942, Cụ Tố đã viết một bài tham khảo kỷ niệm đại thắng mùa xuân khi Quang Trung phá tan hai mươi vạn binh Thanh ở Thăng long với tài liệu khách quan nhờ đối chiếu sử cũ của của ta và sử nhà Thanh.

Nhân dịp đầu năm Đinh Dậu, chúng ta trân trọng đọc lại chiến thắng kháng xâm lược ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30-1-1789) qua ngòi bút của học giả Ứng Hòe:

“Năm nào cũng vậy, cứ đến mồng 5 tháng giêng, đồng bào ta lại kéo nhau tới chùa Đồng Quang ở ấp Thái hà, gần Hà nội để kỷ niệm ngày vua Quang Trung (1788-1792) nhà Tây sơn đánh được quân Tàu nhà Thanh ở Đống đa. Ngày kỷ niệm ấy thường được gọi là ngày giỗ trận và trận ấy thường được gọi là trận Đống đa.

Đống đa tên chữ là gì? Sử ta và sử Tàu chép trận ấy ra sao? Tưởng nên đem sách Nho ra lược thuật lại để độc giả có thể so sánh với sách ta và sách tàu. Ba quyển chữ nho mà chúng tôi dùng để kê cứu đoạn sử này là Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên q.47), Thăng long hoài c (sách viết của trường Viễn đông bác cổ số a 1666 và quyển Đông hoa toàn lục (sách khắc lại năm Đinh Hợi Quang Tự 1887 Kiền long tập 108). Hai quyển trên là sách của ta, còn quyền dưới là sách Tàu, trong chép những tờ sắc, tờ chiếu của vua Kiền Long (1736-1795) về việc quân Tàu sang xâm chiếm nước Nam, có một vài đoạn có thể dùngg để bổ khuyết hay để cải chính Cương mục nhưng từ xưa tới nay chưa thấy một nhà làm sử nào chép tới:

1-Hoàng thái hậu nhà Lê sang nhà Thanh xin giúp quân

Trước khi kể trận Đống đa xin nói qua vì nhẽ gì quân Tàu sang đóng ở đất ta. Mùa đông tháng mười ngày Kỷ Hợi, năm Kiền long thứ năm mươi ba (1788) vua Tàu dụ cho lũ quân cơ đại thần rằng An nam thần phục thiên triều rất là kính thuận. Trước kia tới kỳ triều cống đều sai bồi thần đến kinh, sau này tự tôn là Lê Duy Kỳ tức Lê Mẫn Đế hay Lê Chiêu Thống (1786-1789) phục quốc thụ phong, tất sẽ theo lệ thường xin phong. Song nước ấy từ khi lũ Nguyễn Huệ (Sử ta chép Nguyễn văn Huệ tức Quang Trung nhà Tây sơn (1778-1802) khởi binh đuổi vua, đánh hãm thành nhà Lê là thành Thăng long, quyến thuộc sang nội địa, tự tôn đi trốn, ngôi nước không thể giữ. Trẫm nghĩ là thần phục lâu năm không nỡ thấy nhà Lê mất, đặc ân sai đốc phủ truyền hịch sang An nam bắt Nguyễn Huệ vả sai Tôn Sĩ Nghị đốc xuất binh mã tiễu trừ (Chép theo Đông Hoa toàn lục q 108 tờ 37 a).

Cứ thực ra Hoàng thái hậu nhà Lê chạy sang Tàu cầu cứu từ mùa thu tháng bảy năm Chiêu thống thứ hai (1788), viên chức Long châu đem việc ấy trình với đốc phủ. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị và tuần phủ Quảng tây là Tôn vĩnh Thanh họp nhau ở Nam Ninh. Hoàng thái hậu dẫn kẻ thị tùng tới định yết, khóc lóc cầu viện. Lũ Tôn Sĩ Nghị tâu vua Kiền Long nói vua Lê chạy trốn nghĩa vụ Tàu nên cứu vớt. Lũ ấy lại thêm một câu rằng: “Vả an nam là đất cũ của Trung quốc, sau khi khôi phục được nhà Lê, để quân ở lại, thế là còn nhà Lê mà lấy được An nam” (Cương mục q 47 tờ 32 b). Vua Thanh chuẩn y, tay viết chiếu rằng: “Trẫm hầu làm việc nghĩa ở thiên hạ, giúp đỡ cương thường ở nước dưới, công việc nam giao cho ngươi cả.”

Tôn Sĩ Nghị nhận được tờ chiếu, mưu làm việc lớn tuyền quân ở Quảng đông, Quảng Tây, Vân nam và Quý châu, tư hịch vài trăm đạo đi khắp gần xa, lại sai lũ tụng thần nhà Lê đi đường tắt về tâu vua Chiêu thống.

II-Tôn Sĩ Nghị đem quân sang đánh Tây sơn

Mùa đông tháng mười 1788, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị đem binh sang Nam thổ lấy cớ là giúp vua Lê. Đề tổng Vân nam và Quý Châu là Ô đại kinh (Cương mục quyển 47 tờ 33a chép thiếu tên, Đông Hoa toàn lục chép đủ là Ô đại Kinh q. 108 tờ 50b ..) tự Tuyên Quang vào, tri phủ Điền châu là Sầm nghi Đống tự Cao bằng vào, Sĩ Nghị và đề đốc Hứa thế Hanh từ Nam quan vào.

Tướng Tây sơn là Phan khải Đức trấn thủ Lạng sơn xin hàng. Sĩ Nghị đến Kinh bắc, tướng Tây sơn là Ngô văn Sở đánh Tàu ở bến đò Xương giang và đem hơn một vạn quân ở Thăng long ra, sai nội hầu là Phan văn Lân đóng ở Thị cầu.Quân nhà Thanh phá tan, rồi lên giữ núi Tam tằng ở huyện Yên dũng. Tiên phong là Trương triều Long (chép theo Đông hoa toàn lục q.108 tờ 22 trong khi sách ta ghi là Trương sĩ Long) đi trước đánh Tây sơn, cung tên bên tả và bên hữu cùng bắn chết không biết bao nhiêu mà kể.

Sĩ Nghị đem quân qua sông đánh úp đồn Thị Cầu. Đồn cháy, quân Tây sơn trèo qua lũy chạy, quân nhà Thanh thừa thắng đuổi theo. Văn Lân chạy về Thăng long, Sĩ Nghị tiến tới bờ phía bắc sông Nhị hà. Văn Sở và Ngô thì Nhậm bàn với nhau rằng Thăng long không thể giữ nổi bèn thu thập dư chúng rút về Thanh hóa, đóng đồn ở Biện sơn miền bể, đóng bộ binh ở núi Tam điệp, đem thư cáo cấp với Văn Huệ.

Lúc ấy vua Chiêu Thống đi từ Phượng nhỡn tới Gia lâm thịt trâu làm rượu khao quân, hôm sau vào kinh thành. Sĩ Nghị làm bè ở Bồ đề chở quân sang, đặt dinh, tướng bên bờ sông gọi là Tây long cung, chia nhau đóng đồn khắp nơi, xem thế trận thực là bền chặt.

III-Tình hình nước nam về cuối thế kỷ thứ XVIII.

Hồi bấy giờ mất mùa luôn mấy năm, dân gian cùng cực khổ sở, quân nhà Thanh lại hay nhũng nhiễu. Triều đình thì bắt nào binh nào lương: châu huyện đều không chịu. Vua Chiêu Thống phải sai các quan chia nhau đi thu. Nhân dân khóc lóc mang nộp. Được bao nhiêu cung cấp hết cho người nhà Thanh. Nghĩa binh mọi đạo và lính cũ ở Thanh Nghệ vài vạn người phải nhịn đói: lòng dân ly tán.

Vua Chiêu Thống thì hẹp hòi, hà khắc, sai đem giết hết con gái tôn thất gả cho Tây sơn, có ngưởi đã có thai, lại sai chặt chân ba vị hoàng thúc ném ở chợ cung. Hoàng thái hậu ở Tàu về đến Thăng long nghe nói vua làm điều ngang trái thì giận lắm, nói rằng: “Ta khổ sở bao nhiêu mới xin được quân sang giúp, nhà nước đã mang ơn mấy phen. Kẻ thù phá tan nát tưởng không có ngày nay nữa!” kêu khóc không chịu vào cung, tụng thần khuyên giải mới thôi.

IV-Vua Quang Trung đánh quân nhà Thanh

Tướng Tây sơn là Ngô văn Sở bỏ Thăng long chạy vào nam báo cho Nguyễn văn Huệ biết thanh thế quân Thanh rất thịnh. Văn Huệ cười nói rằng: “phô trương như thế chứ , chứ chẳng việc gì! Kẻ kia tự mình đến chỗ chết. Nên lên ngôi chính vị để ràng buộc lòng dân trong Nam ngoài Bắc, rồi sau bắt kẻ ấy cũng chưa muộn.” Chọn ngày tốt là ngày 25 tháng 11 làm lễ tế nam giao ở Bân sơn địa phận xã Yên cựu (Hương trà) xưng đế và đổi năm Thái Đức thứ 11 (1788) thành Quang Trung thứ nhất. Ngay ngày hôm ấy, đem hết các tướng sĩ lên đò sang Bắc, đi qua Nghệ an, Thanh hóa, lấy thêm tới 8 vạn binh, duyệt quân tại Thọ bạc thuộc huyện Đông sơn Thanh hóa, đem thư xin hàng trước, nhời rất tỳ khuất.

Còn Sĩ Nghị từ khi đem quân ra khỏi cửa ải Nam quan đánh đâu được đấy, xem ý khinh quân Tây sơn. Lúc hạ được thành Thăng long , tự nói là xong việc. Những kẻ hào kiệt ở các trấn vì việc nghĩa tranh nhau đến xin tiến binh, Sĩ Nghị đều bỏ không hỏi. Kịp tới lúc nhận được tờ chiếu của vua Lê chiêu thống, xin lấy lại cho hết đất nhà Lê rồi hãy nghỉ quân, Sĩ Nghị mới nghĩ kế.

Nay quân của Tây sơn đã tới núi Tam Điệp, vua nghe thấy sợ mới hỏi Sĩ Nghị. Sĩ Nghị nói: “Ta dùng kế thong thả để đối phó với quân khó nhọc (dĩ dật đãi lao) không vội đánh.” Vẫn tự đắc không ngờ Tây sơn ruổi binh mã quá mau, nên thua chạy không còn một người lính một con ngựa để chống cự,

Quang Trung đến Sơn nam, Sĩ Nghị mới sai đề đốc Hứa Thế Hanh mang quân tứ dực chia nhau đóng đồn ở xã Hà hồi, thuộc huyện Thượng phúc, và xã Ngọc hồi thuộc huyện Thanh trì.

Mồng bốn tháng giêng năm Kỷ Dậu (29-1-1789 tức là năm Chiêu thống thứ hai, đạo dụ binh của vua Quang Trung tiến lên trước đánh đâu thua đấy cho nên Sĩ Nghị càng coi thường.

Ngày hôm sau, vào lúc trống canh năm, vua Quang Trung khỏi binh, tự tay cầm quân cho hơn một trăm voi đi trước. Mờ mờ sang quân Tàu đuổi theo, tinh kị tiến trước, chợt thấy voi, ngựa sợ hãi mà chạy, quân vấp ngã và xéo lẫn nhau. Vua Quang Trung cho voi đuổi theo, quân địch chạy vào lũy, súng bắn như mưa, tên sắt tứ phía. Tây sơn lại cho đốt những bó rơm to đi trước, quân sau kế tiếp hết sức đánh Tàu. Cả lũy tan hoang, Tây sơn đuổi theo tới đồn Nam đồng gần Hà nội thừa thắng đánh úp, quân Tàu chết hại quá nửa. Thế Hanh và tiên phong Trương triệu Long và tà dực là Thượng Duy Thăng đều chết trận. Sầm nghi Đống đóng đốn ở Loa sơn tục gọi là Đống đa, vì không có quân cứu nên tự thắt cổ chết.

Lúc ấy Tôn Sĩ Nghị đóng ở bờ sông Nhị hà, nghe thấy Tây sơn gần tới Thăng long, vội nhảy qua lũy lên bè sang sông để chạy thì bè vỡ, lính chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Thế là trận Đống đa kết liễu.

V-Vua Tàu hiểu dụ:

Trong bộ Đông hoa toàn lục (tập 108 q. 50) chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị và Ô đại kinh đem người đi đường Khai hóa mang binh sang tiễu trừ Tây sơn và khôn ngoan đề ra ba sách lược mà bọn Sĩ Nghị nên tuân theo nhưng bọn Tôn đã làm hỏng việc.

Sách lược thứ nhất là nếu dễ dàng bắt được Nguyễn Huệ nên diệt trừ là thượng sách. Nếu chỉ đuổi được Tây sơn và thu phục kinh thành nhà Lê thì trả lại cho Lê duy kỳ , dùng bọn phù Lê làm phên giậu bảo vệ rồi rút quân là trung sách. Còn thất bại thì phải rút ngay và đợi thời cơ khác. Nhưng bè lũ họ Tôn chỉ có nhận thức thiển cận là mong xâm chiếm nước ta và coi thường Tây sơn đang có kẻ hùng tài đại lược cầm quân, lại có thiên thời, địa lợi và nhân hòa nên bại trận thảm thương.

Qua lời dụ, không phải Kiền long không có dã tâm xâm chiếm nước ta mà tên hoàng đế nham hiểm này, tuổi đã cao, ăn chơi trác táng đã nhiều, lại tin dụng gian thần (Hòa Thân) nên tinh thần suy thoái. Hơn nữa, nhà Thanh đã đến lúc bắt đầu suy vi vì bên trong còn mầm mống nội loạn do phong trào phản Thanh phục Minh nhất là ở các tỉnh ven biển và biên giới với Miến điện, lại còn phong trào đòi tự chủ ở Tân cương và Tây tạng (Dù Niên Canh Nghiêu thời Khang hy đã ra công bình định) lại thêm áp lực từ Nga và áp lực của chủ nghĩa thực dân từ Tây phương bắt đầu xuất hiện, nên Kiền long phải áp dụng chính sách nhu viễn nghĩa là vỗ về bên ngoài để ổn định quốc nội.

VI-Sách ta kết luận:

Học giả Nguyễn văn Tố dùng bốn câu thơ sau đây rút từ sách Thăng long hoài c (sách viết của của trường Bác cổ số A 1666 tờ 9b) để kết luận với ý mỉa mai việc cõng rắn cắn gà nhà của Chiêu thống và cũng cảnh tỉnh thế hệ sau đừng bao giờ sa vào vết xe đổ của người trước.

Tá vấn Thanh lai đắc nhất vương

Giải giao nghịch tặc chuyển vi cường

Long thành thử địa y hà tự

Thanh sứ trùng lai đỗng nhất trường

(Hỏi Tàu lại được việc gì

Để cho quân giặc có bề mạnh thêm!

Long thành này hãy chờ xem

Sứ Tàu qua nữa càng thêm não nùng)

(Trích Tri tân tạp chí số xuân năm nhâm ngọ 1942)

Chu Nguyễn

Tin tức khác...