Trước ngày em đến 

Tôi sẽ phải lấp đầy những ô chữ nhật màu trắng nhỏ bé đó bằng đủ thứ hoạt động có thể mang lại hạnh phúc, niềm vui, mãn nguyện hoặc sự hài lòng. Tôi sẽ phải lấp đầy chúng bằng mọi trải nghiệm đẹp đẽ mà tôi có thể gợi ra cho một người đàn ông tay chân vô dụng, tức là anh ta không thể tự mình làm nên những trải nghiệm đó nữa. Tôi chỉ có chưa đầy bốn tháng của những ô chữ nhật in trên tấm lịch đó để làm nên những ngày dạo mát ngoài trời, những chuyến đi chơi xa, những buổi tiếp đón khách khứa, hẹn hò ăn trưa và đi nghe nhạc. Tôi phải nghĩ ra mọi phương thức thực tế để khiến chúng diễn ra, phải nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo chúng không thất bại.

Sau đó tôi phải thuyết phục Will thực hiện chúng.

Tôi nhìn chăm chú tấm lịch, cây bút vẫn ở trên tay. Tấm bìa cứng nhỏ bé này bỗng nặng nề biết bao nhiêu nhiệm vụ.

Tôi có một trăm mười bảy ngày để thuyết phục Will Traynor rằng anh có một lý do để sống.

Chương 11

Có những nơi chuyển mùa đánh dấu bởi những đàn chim di trú, hoặc sự lên xuống của thủy triều. Ở đây, trong thị trấn nhỏ của chúng tôi, dấu ấn ấy là sự trở lại của du khách. Đầu tiên, một lượng nhỏ ngập ngừng ướm thử, bước xuống tàu hoặc xe trong những chiếc áo mưa sắc màu tươi sáng, nắm chặt trên tay sách hướng dẫn và thẻ thành viên Hội Bảo tồn quốc gia; rồi khi thời tiết ấm lên, mùa trườn sang, người ta ùn ùn đổ ra từ những chiếc xe buýt, tụ tập đông nghẹt trên xa lộ, người Mỹ, người Nhật, từng đoàn học sinh nước ngoài đứng rải rác xung quanh bốn phía lâu đài.

Trong những tháng mùa đông ít cửa hàng mở cửa. Những chủ tiệm giàu có nhân những tháng ảm đạm dài dằng dặc ấy liền biến về nhà ở nước ngoài để nghỉ ngơi, trong khi đó những người kiên trì hơn ở lại làm chủ các sự kiện mùa Giáng sinh, tích lũy tiền bạc từ những buổi hòa nhạc chào đón Giáng sinh thỉnh thoảng được tổ chức trên bãi đất dưới chân tòa lâu đài, hoặc những hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ. Nhưng rồi khi nhiệt độ nhích lên cao hơn, bãi đỗ xe của lâu đài sẽ chật cứng đủ loại phương tiện cơ giới, các quán rượu trong vùng ghi nhận lượng tăng đột biến yêu cầu bữa ăn nhẹ, và trong dăm ngày Chủ nhật rực nắng, chúng tôi lại chuyển từ một phố chợ ngủ im thành một điểm đến du lịch truyền thống của nước Anh.

Tôi thả bộ lên đồi, tránh né dăm ba du khách vãng lai tới sớm của mùa này, họ nắm chặt túi đeo trước bụng và tờ hướng dẫn du lịch hoen sờn, máy ảnh đã giơ lên sẵn sàng chộp lấy những hình ảnh lưu niệm của tòa lâu đài độ xuân sang. Tôi mỉm cười với mấy người, dừng lại chụp hình cho những ai đưa máy ảnh ra nhờ. Một số người trong vùng cứ phàn nàn về mùa du lịch – kẹt xe, toilet công cộng quá tải, yêu cầu những món ăn lạ ở quán cà phê Bánh Bơ (“Ở đây không có sushi à? Cả temaki cũng không hả?”) Nhưng tôi chẳng thấy phiền. Tôi thích bầu không khí mang hơi thở của người nước ngoài, thích được thoáng nhìn cận cảnh những cuộc đời vốn sống rất xa thị trấn quê tôi. Tôi thích nghe những giọng nói lạ rồi đoán coi chủ nhân của chúng đến từ đâu, thích nghiên cứu quần áo của những người chưa từng xem catalogue Next, cũng chưa bao giờ mua một gói năm chiếc quần lót ở hiệu Marks & Spencer.

“Trông cô vui gớm,” Will nói, khi tôi thả túi xuống hành lang. Anh nói như thể đó là trò trêu ngươi vậy.

“Đó là vì hôm nay là hôm nay.” “Thì sao?”

“Ngày chúng ta đi chơi. Chúng ta sẽ cùng Nathan đi xem đua ngựa.”

Will và Nathan đưa mắt nhìn nhau. Tôi suýt phì cười. Tôi đã nhẹ cả người khi thấy trời đẹp; ngay khi nhìn thấy vầng dương ló ra, tôi biết mọi thứ sẽ đâu vào đó.

“Đua ngựa?”

“Đúng vậy. Đua ngựa ở…” Tôi lôi cuốn sổ nhỏ từ túi áo ra. “… Longfield. Nếu đi bây giờ chúng ta sẽ tới kịp đợt đua thứ ba. Tôi có năm bảng để đặt cược hai bên cho Man Oh Man đây, thế nên tốt nhất chúng ta khởi hành thôi.”

“Đua ngựa.”

“Đúng thế. Nathan chưa bao giờ được xem đua ngựa cả.”

Vì dịp trọng đại này, tôi mặc chiếc váy mini vải bông xanh, cổ quàng chặt chiếc khăn có tua rua là hình hàm thiếc ngựa, chân đi đôi bốt cưỡi ngựa bằng da. Will quan sát tôi thật kỹ, rồi quay xe chênh chếch để nhìn Nathan rõ hơn. “Đây là mong ước bấy nay của ông, phải không Nathan?”

Tôi liếc nhìn cảnh cáo Nathan.

“Phải,” ông nói, nặn ra một nụ cười. “Phải, đúng thế. Đi xem lũ ngựa thôi nào.”

Tôi đã phím trước, tất nhiên rồi. Tôi đã gọi cho ông hôm thứ Sáu để hỏi xem tôi có thể mượn ông đi cùng hôm nào. Nhà Traynor đã đồng ý trả tiền làm thêm cho ông (em gái Will đã về lại Úc, và tôi nghĩ nhà họ muốn có người “hiểu biết” đi cùng tôi) nhưng phải đến Chủ nhật tôi mới xác định chắc chắn chúng tôi sẽ làm gì. Đây xem chừng là một khởi đầu lý tưởng – một ngày đẹp trời đi chơi, lái xe chưa tới nửa giờ đồng hồ.

“Thế nếu tôi nói tôi không muốn đi thì sao?” “Thì anh nợ tôi bốn mươi bảng,” tôi nói. “Bốn mươi bảng? Sao cô tính ra số đó?”

“Tiền thắng cược của tôi. Năm bảng cược hai bên với tỉ lệ một ăn tám.” Tôi nhún vai. “Man Oh Man thắng chắc đấy.”

Có vẻ tôi đã làm anh ta nao núng.

Nathan vỗ tay lên đầu gối. “Nghe hay đấy. Hôm nay lại đẹp trời nữa,” ông nói. “Cô muốn tôi mang chút gì ăn trưa không?”

“Thôi khỏi,” tôi nói. “Ở đó có quán ăn đẹp lắm. Khi ngựa của tôi về đích, tôi sẽ được mời ăn trưa.”

“Cô đi đua thường xuyên lắm hả?” Will hỏi.

Và trước khi anh ta kịp nói thêm điều gì, chúng tôi đã phủ áo khoác lên người anh ta, rồi tôi chạy ra ngoài để quay xe.

Tôi đã lên kế hoạch đâu ra đấy cả rồi, bạn biết đó. Chúng tôi sẽ tới cuộc đua ấy vào một ngày nắng đẹp. Ở đó sẽ có những chú ngựa thuần chủng chân thon lông bóng, kỵ sĩ trên lưng chúng mặc áo lụa phồng sáng màu, chúi người phi nước đại. Có thể có một hai ban kèn đồng. Khán đài sẽ đầy nhóc người cổ vũ, và chúng tôi sẽ tìm được một khoảng trống để đứng ở đó vẫy vẫy những tờ giấy cược thắng cuộc. Tính ganh đua trong Will sẽ trỗi dậy, anh sẽ không ngừng tính toán điểm đua để đảm bảo mình thắng cược cao hơn cả Nathan lẫn tôi. Tôi đã lên kế hoạch cả rồi. Sau đó, khi đã chán nhìn lũ ngựa, chúng tôi sẽ đi tới nhà hàng nhìn thẳng xuống trường đua để thưởng thức bữa ăn thượng hạng.

Lẽ ra tôi phải nghe lời bố. “Muốn biết định nghĩa chính xác của câu còn da lông mọc còn chồi xanh cây không?” ông thường nói. “Lên kế hoạch cả nhà đi chơi một ngày thật vui.”

Ngày thật vui ấy bắt đầu từ bãi đỗ xe. Chúng tôi lái tới đó mà không gặp khó khăn gì, giờ tôi đã tự tin hơn một chút rằng tôi sẽ không hất nhào Will nếu chạy xe nhanh hơn mười lăm dặm một giờ. Tôi đã xem trước hướng dẫn chỉ đường ở thư viện, hầu như suốt đường đi tôi không ngừng nói đùa vui vẻ, bình luận về bầu trời xanh tươi đẹp, về khung cảnh miền quê, giao thông thưa thớt. Không có màn xếp hàng vào xem cuộc đua, phải thừa nhận là hơi ít người hơn tôi mong đợi, và bãi đỗ xe lác đa lác đác.

Không ai cảnh báo tôi rằng mặt bằng bãi đỗ xe đầy cỏ, cỏ mọc rất dày qua cả mùa đông ẩm ướt. Chúng tôi tìm một chỗ trống (không khó, bãi đỗ chỉ kín phân nửa), và ngay khi đường trượt hạ xuống, Nathan lộ vẻ lo lắng.

“Mềm quá,” ông nói. “Cậu ấy bị lún mất.”

Tôi liếc nhìn lên khán đài. “Chắc rồi, nếu chúng ta đưa được anh ấy lên đường mòn kia thì mọi việc sẽ ổn phải không?”

“Cái xe này nặng cả tấn đấy,” ông nói. “Mà từ đây tới đó phải mười mấy mét.”

“Ôi, thôi nào. Người ta làm những cái xe thế này phải trụ được trên đất mềm một chút chứ.”

Tôi thận trọng đẩy xe của Will xuống rồi quan sát khi bánh xe lún xuống bùn dăm phân.

Will chẳng nói gì. Trông anh không thoải mái, anh hầu như im lặng trong suốt nửa giờ lái xe. Chúng tôi đứng bên cạnh anh, ấn lung tung lên bàn điều khiển xe. Một luồng gió lạnh thổi qua khiến hai má Will ửng đỏ.

“Thôi nào,” tôi nói. “Chúng ta phải dùng tay thôi. Tôi tin hai chúng ta có thể xoay xở tới được đó.”

Chúng tôi đẩy Will ngửa ra sau. Tôi nắm bên này tay xe còn Nathan nắm bên kia, rồi cả hai chúng tôi lôi chiếc xe về phía đường mòn. Tiến trình đó rất chậm chạp, vì tôi liên tục phải dừng do hai cánh tay đau nhức và đôi bốt da dính bùn đất mỗi lúc lại thêm nặng trịch. Khi cuối cùng chúng tôi cũng tới được lối mòn, chiếc mền của Will đã tuột khỏi người anh quá nửa, cuốn vào bánh xe khiến một góc mền rách toạc và bết bùn.

“Đừng lo,” Will nói cộc lốc. “Chỉ là vải cashmere thôi mà.”

Tôi phớt lờ lời mai mỉa của anh. “Phải. Chúng ta tới được rồi. Giờ thì vui vẻ chút đi.”

À phải. Vui vẻ chút đi. Ai nghĩ ra rằng đặt cửa quay vào trường đua là một ý tưởng hay ho nhỉ? Đâu có vẻ gì là để quản đám đông, rõ ràng thế còn gì? Đâu có vẻ gì là có những đám đông cổ động viên đua ngựa hò reo ầm ĩ, những lao nhao đe dọa nếu con Charlies Darling không về thứ ba, những cô gái chăm ngựa lộn xộn lúc nào cũng thích làm trò thả ngựa ra rồi nhốt ngựa vào. Chúng tôi nhìn cánh cửa quay, rồi nhìn lại xe lăn của Will, rồi Nathan và tôi nhìn nhau.

Nathan bước tới quầy bán vé và giải thích hoàn cảnh khó khăn của chúng tôi với người phụ nữ ngồi trong quầy. Bà nghiêng đầu để nhìn Will, rồi chỉ chúng tôi đi tít về phía cuối khán đài.

“Lối vào dành cho người tàn tật ở đằng kia,” bà nói.

Bà nói từ tàn tật như người ta đang tham gia cuộc thi phát âm vậy. Lối vào đó cách chúng tôi không dưới 200 mét. Khi cuối cùng chúng tôi cũng tới được đó, bầu trời xanh đột ngột biến mất, thay vào đấy là một trận mưa theo gió từ đâu quật tới. Tất nhiên tôi không mang theo ô. Tôi vẫn bình luận thao thao không ngớt rằng chuyện này thật buồn cười, thật là ngố, nhưng đến cả tôi cũng nghe thấy giọng mình vô cùng não nề bực dọc.

“Clark,” cuối cùng Will lên tiếng. “Đừng nói nữa, được chứ? Cô đang mệt lả rồi đấy.”

Chúng tôi mua vé vào khán đài, với chút xíu nhẹ nhõm khi rốt cuộc cũng tới được đó, tôi đẩy Will tới khu có mái che, ngay bên cạnh khán đài chính. Trong khi Nathan pha nước cho Will, tôi có chút thời gian để ý những đồng đội tham gia cổ vũ đua ngựa với chúng tôi.

Hàng dưới cùng của khán đài quả là vui vẻ rộn ràng, dù thỉnh thoảng lại có một vạt mưa tạt vào. Phía trên chúng tôi, trên ban công có mặt tiền làm bằng kính, những người đàn ông mặc vest bảnh bao nâng ly sâm-banh mời những phụ nữ mặc váy đi hội. Trông họ thật ấm áp thoải mái, tôi ngờ rằng đó là Khu Thành viên, được liệt kê bên cạnh tên của khu vực có mức giá bình dân trên tấm bảng trong buồng vé. Họ đeo tấm biển nhỏ treo dưới sợi dây đỏ, thứ đó xếp riêng họ vào hàng đặc biệt. Trong một thoáng tôi tự hỏi có thể tô sợi dây xanh của chúng tôi thành màu khác đi không, nhưng rồi nghĩ lại rằng chắc chúng tôi sẽ dễ bị lộ vì là nhóm duy nhất có người đi xe lăn.

Bên cạnh chúng tôi, lác đác dọc theo khán đài là những người đàn ông mặc suit vải tuýt và phụ nữ mặc áo khoác bông dài thanh lịch, trên tay nắm chặt ly giấy cà phê hoặc chai rượu nhỏ. Trông họ bình thường như thể hôm nay chẳng khác gì bao ngày khác, và những tấm thẻ đeo trên ngực họ cũng mang màu xanh. Tôi ngờ rằng đa phần họ là huấn luyện viên và người giữ ngựa, hoặc những người có công việc liên quan đến ngựa theo một khía cạnh nào đó. Ở phía dưới gần vòng đua, đứng bên cạnh những tấm bảng trắng nhỏ là mấy ông đếm giờ, cánh tay họ cứ phất lên phất xuống theo một hệ thống kỳ lạ nào đó mà tôi không hiểu nổi. Họ nguệch ngoạc lên bảng những chuỗi minh họa mới rồi lại dùng nẹp tay áo xóa đi.

Còn nữa, đứng vòng quanh vòng đua là một nhóm đàn ông mặc áo polo sọc, tay ai cũng cầm lon bia và dáng vẻ trông như đi chơi. Cái đầu cạo trọc của họ khiến người ta nghĩ họ đang tham gia quân dịch. Chốc chốc họ lại cất tiếng hát, chuyện trò ầm ĩ, chen lấn xô đẩy, húc nhau bằng cái đầu nhẵn thín hoặc choàng vai bá cổ nhau. Khi tôi đi qua họ tới nhà vệ sinh, họ huýt sáo inh ỏi trêu chọc cái váy ngắn của tôi (không ngờ tôi là người duy nhất mặc váy trên cả khán đài) và tôi giơ ngón tay thối sau lưng. Rồi họ cũng mất hứng thú trêu chọc khi bảy hay tám con ngựa bắt đầu chạy lờn vờn quanh nhau, thong dong tiến vào khán đài với kỹ thuật điêu luyện, tất cả chuẩn bị cho đợt đua tiếp theo.

Thế rồi tôi giật bắn người khi xung quanh chúng tôi một đám đông nhỏ la hét cật lực và lũ ngựa lao ra từ cổng xuất phát. Tôi đứng dậy quan sát chúng chạy, bỗng nhiên sững sờ, không thể ngăn được cảm giác phấn khích bùng nổ khi thấy những cái đuôi đột ngột xòe ra phía sau chúng, nỗ lực điên cuồng của những anh chàng mặc đồ sáng màu ngồi trên lưng chúng, tất cả chen nhau giành thứ hạng. Khi con thắng cuộc vượt qua vạch đích, làm sao có thể không reo hò.

Chúng tôi xem lượt đua Sisterwood Cup, rồi xem Maiden Stakes, và Nathan thắng sáu bảng cho kèo con. Will từ chối cá cược. Anh quan sát từng cuộc đua, nhưng anh im lặng, đầu rụt sâu vào trong cổ áo khoác. Tôi nghĩ có lẽ anh đã ở trong nhà quá lâu tới nỗi chắc hẳn anh cảm thấy tất cả chuyện này hơi kỳ lạ, và tôi nghĩ đơn giản tôi sẽ vờ như không biết điều đó.

“Tôi nghĩ đó là lượt đua của cô, Hempworth Cup,” Nathan nói, liếc nhìn màn hình. “Cô đặt tiền vào đâu? Man Oh Man nhỉ?” Ông cười nhăn nhở. “Tôi không ngờ khi xem đua ngựa mà cá cược lại vui hơn thế này cơ đấy.”

“Ông biết không, tôi chưa nói với ông chuyện này, nhưng quả thực trước đây tôi cũng chưa từng đi xem đua ngựa,” tôi nói với Nathan.

“Cô đang đùa đấy à.”

“Tôi chưa bao giờ ngồi trên lưng ngựa. Mẹ tôi sợ ngựa. Bà thậm chí không dám đưa tôi tới chuồng ngựa.”

“Chị tôi có hai con ngựa, chị sống ở ngoại ô Christchurch. Chị ấy coi chúng như con vậy. Tất cả tiền bạc chị ấy đổ hết vào chúng.” Ông nhún vai. “Chúng có chết đi thì chị ấy cũng chẳng bao giờ ăn thịt đâu.”

Giọng Will lướt về phía chúng tôi. “Thế phải xem bao nhiêu lượt đua thì mới đảm bảo được rằng chúng tôi đã thỏa mãn tham vọng bấy lâu của ông đây?”

“Đừng có cộc cằn thế chứ. Người ta nói đời có trò gì ta cũng phải thử một lần cho biết,” tôi nói.

“Tôi cho rằng đua ngựa rơi vào vế sau ngoại trừ loạn luân và nhảy mô-rít.” “Anh chính là người lúc nào cũng bảo tôi hãy mở rộng chân trời của mình còn gì. Anh rất thích điều đó cơ mà,” tôi nói. “Đừng vờ như không phải thế nhé.”

Đúng lúc ấy họ cán đích. Man Oh Man với nài ngựa mặc đồ lụa tím có hình thoi vàng. Tôi quan sát con ngựa phi nước đại quanh rào chắn trắng, đầu vươn dài ra, đôi chân của tay nài vỗ liên tục, hai cánh tay vụt tới vụi lui trên cổ ngựa.

“Tiến lên, anh bạn!” Vốn tính điềm đạm nhưng Nathan không kiềm chế được cảm giác phấn khích. Nắm tay ông siết chặt, mắt dán vào đám ngựa chạy tận lực đang xuất hiện lờ mờ ở phía xa trên đường đua.

“Tiến lên, Man Oh Man!” tôi hét to. “Nhờ mi mà chúng ta được một bữa bít- tết bò đấy!” Tôi nhìn con ngựa nỗ lực tuyệt vọng để giành chiến thắng, cánh mũi phập phồng, hai tai căng ra sau đầu. Tim tôi như bắn lên. Thế rồi khi họ tiến tới hai trăm mét cuối cùng, tiếng hét cửa tôi dần xìu xuống. “Được rồi, một chầu cà-phê,” tôi nói. “Tôi đãi một chầu cà-phê là được chứ gì?”

Quanh tôi cả khán đài đã vỡ òa trong tiếng la hò gào rú. Một cô gái, cùng hàng với chúng tôi cách hai ghế đang nhảy tưng tưng lên xuống, giọng cô ta khản đặc vì la hét. Tôi nhận ra mình cũng đang nhún nhảy trên đầu ngón chân. Thế rồi khi nhìn xuống tôi thấy Will đang nhắm nghiền mắt, một vết hằn mảnh ngăn giữa cặp mày của anh. Tôi thôi để ý tới đường đua, quỳ xuống bên anh.

“Anh ổn không Will?” tôi nói, xích lại sát anh. “Anh có cần gì không?” Tôi phải gào lên mới nghe được tiếng của chính mình qua tiếng reo ầm ĩ om sòm.

“Rượu mạnh,” anh nói. “Ly đầy.”

Tôi nhìn anh chằm chằm, anh nhấc mi mắt lên nhìn tôi. Trông anh vô cùng tức giận.

“Chúng ta đi ăn trưa thôi,” tôi nói với Nathan.

Khốn thay Man Oh Man, kẻ lừa tiền bốn chân đó, băng qua vạch đích ở vị trí thứ sáu. Tiếng reo hò lại vang lên, rồi tiếng của người thông báo phát ra từ loa phát thanh: Thưa quý ông quý bà, một chiến thắng mạnh mẽ tới từ chú Love Be A Lady, đứng ở vị trí thứ nhất, tiếp theo là Winter Sun, và Barney Rubble về sau hai ngựa đứng thứ ba.

Tôi đẩy xe của Will qua đám người mải mê không để ý gì, cố tình đâm sầm vào gót chân họ khi tôi xin đường tới lần thứ hai mà họ chưa kịp tránh.

Khi chúng tôi vừa tới thang máy thì Will cất tiếng. “Clark, thế này có nghĩa cô nợ tôi bốn mươi bảng nhỉ?”

Tiệm ăn này đã được tân trang lại, thức ăn được một đầu bếp hay xuất hiện trên ti-vi bảo đảm, mặt ông ta xuất hiện trên khắp các poster quanh trường đua. Tôi đã xem thực đơn từ trước.

“Món chính là vịt nấu cam,” tôi nói với hai người đàn ông. “Rõ ràng là quay lại kiểu cách thập niên bảy mươi.”

“Như bộ đồ cô mặc nhỉ,” Will châm biếm.

Tránh được cái lạnh và rời xa đám đông, anh có vẻ vui lên một chút. Anh bắt đầu đưa mắt nhìn xung quanh thay vì rụt sâu vào thế giới cô độc của riêng mình. Dạ dày tôi sôi lên, háo hức đòi thưởng thức một bữa trưa ngon lành nóng hổi. Mẹ Will đã đưa cho chúng tôi tám mươi bảng để “ăn nhẹ”. Tôi đã quyết định từ nhà rằng tôi sẽ tự trả tiền đồ ăn cho mình, rồi đưa hóa đơn cho bà, như thế tôi sẽ không hề phải e ngại khi gọi cho mình món tôi mê mẩn nhất trong thực đơn – vịt quay, hay món gì đó khác.

“Ông muốn vào tiệm ăn không Nathan?” tôi hỏi.

“Bản thân tôi thì thường thích mua thức ăn và một chầu bia mang đi hơn,” Nathan nói. “Nhưng hôm nay thì vào trong tiệm cũng vui đấy.”

“Lần cuối cùng anh đi ăn tiệm là khi nào hả Will?” tôi nói.

Anh và Nathan nhìn nhau. “Chưa bao giờ kể từ dạo tôi tới nhà cậu ấy,” Nathan nói.

“Lạ lùng là tôi chẳng mấy thích thú được bón từng thìa trước mặt người lạ.” “Thế thì chúng tôi sẽ chọn bàn sao cho có thể quay lưng anh ra cửa,” tôi nói.

Tôi đã suy tính trước chuyện này rồi. “Và nếu có ngôi sao nào xuất hiện thì coi như anh mất phần.”

“Vì có vô khối ngôi sao xuất hiện ở một trường đua nhỏ xíu lầy lội vào giữa tháng Ba mà.”

“Anh đừng làm hỏng bữa ăn này của tôi, Will Traynor,” tôi nói khi cánh cửa thang máy mở ra. “Lần gần đây nhất tôi được ra ngoài ăn là tham dự bữa tiệc sinh nhật dành cho đám trẻ lên bốn tại bãi đánh ki trong nhà duy nhất của Hailsbury, và chẳng có thứ gì ở đó không bọc bột. Kể cả lũ trẻ.”

Chúng tôi lăn xe dọc theo hành lang trải thảm. Nhà hàng chạy dọc một bên, phía sau bức tường kính, tôi thấy có rất nhiều bàn còn trống. Ruột tôi bỗng cồn cào vì dự cảm chẳng lành.

“Xin chào,” tôi nói, bước tới quầy tiếp tân. “Tôi muốn một bàn cho ba người.” Làm ơn đừng có nhìn Will, tôi nói khẽ với người phụ nữ. Đừng làm anh ấy cảm thấy bản thân kỳ cục. Điều quan trọng là anh ấy thích thú chuyện này.

“Thẻ, thưa cô,” cô ta nói. “Gì cơ?”

“Thẻ vào Khu Thành viên của cô?” Tôi nhìn cô ta ngơ ngác.

“Nhà hàng này chỉ dành cho những người có thẻ Thành viên thôi.”

Tôi liếc nhìn lại Will và Nathan. Họ không nghe thấy tiếng tôi, nhưng họ đang ở đó háo hức chờ đợi. Nathan đang giúp Will cởi áo khoác.

“Ừm… tôi không biết rằng chúng tôi không thể muốn ăn ở đâu cũng được.

Chúng tôi có thẻ màu xanh.”

Cô gái mỉm cười. “Xin lỗi,” cô nói. “Chỉ tiếp người có thẻ Thành viên thôi.

Điều này ghi rõ trên tất cả phương tiện quảng cáo của chúng tôi mà.”

Tôi hít một hơi thật sâu. “Được rồi. Thế còn hàng ăn ở đâu khác không?”

“Tôi e rằng The Weighing Room, khu nghỉ ngơi ăn uống của chúng tôi, hiện nay đang sửa chữa, nhưng dọc khán đài có mấy quầy đồ ăn, cô có thể kiếm đồ ăn ở đó.”

Khi thấy tôi xịu mặt, cô nói thêm, “Thịt heo ngon lắm. Bánh bao nhân heo quay. Họ làm cả nước xốt táo đấy.”

“Quầy đồ ăn.” “Vâng.”

Tôi cúi sát lại gần cô. “Làm ơn,” tôi nói. “Chúng tôi đã đi một chặng đường rất xa, và bạn tôi không khỏe khi ở ngoài lạnh. Chẳng lẽ không có cách nào để chúng tôi được ngồi một bàn ở đây sao? Chúng tôi thật sự cần để anh ấy ở nơi ấm áp. Anh ấy có được một ngày dễ chịu là điều vô cùng quan trọng.”

Cô nhăn mũi. “Tôi thật sự xin lỗi,” cô nói. “Tôi sẽ bị mất việc nếu làm sai quy định. Nhưng dưới lầu có một khu dành cho người tàn tật mà cô có thể khép cửa lại đấy. Từ đó cô không thể xem cuộc đua, nhưng nó khá ấm áp. Ở đó có hệ thống sưởi, đầy đủ lắm. Cô có thể ăn ở đó.”

Tôi nhìn cô trân trối. Tôi có thể cảm thấy nỗi căng thẳng len lén trào lên từ gót chân. Tôi nghĩ có lẽ mình đã hóa đá rồi.

Tôi nhìn bảng tên cô. “Sharon,” tôi nói. “Ở đây còn rất nhiều bàn mà. Chẳng phải rõ ràng là có thêm người ăn sẽ tốt hơn là để nửa số bàn trống hay sao? Chỉ vì một quy định phân biệt tầng lớp bí hiểm nào đó trong sách nội quy sao?”

Nụ cười của cô ta lóe lên dưới ánh sáng của những ngọn đèn âm tường. “Thưa quý cô, tôi đã giải thích tình huống với cô rồi đấy. Nếu chúng tôi thả lỏng quy định với cô, chúng tôi sẽ phải làm như thế với tất cả mọi người.”

“Nhưng như thế thật vô lý,” tôi nói. “Lúc này là giờ ăn trưa của một ngày thứ Hai ẩm ướt. Cô còn bao nhiêu bàn trống. Chúng tôi muốn mua bữa ăn. Một bữa ăn đắt đỏ phù hợp, với khăn ăn cùng đủ thứ. Chúng tôi không muốn ăn heo quay, không muốn ngồi trong cái phòng để đồ không nhìn được trường đua, dù nó có ấm thế nào đi nữa.”

Thực khách bắt đầu ngoái cổ lại, tò mò ngó xem cuộc cãi vã bên cửa. Tôi thấy lúc này trông Will có vẻ bối rối. Anh và Nathan đã hiểu có chuyện gì đó không ổn.

“Thế thì tôi e là cô nên mua thẻ Thành viên.”

“Được rồi.” Tôi thò tay vào túi, lục loạn xạ để tìm ví. “Thẻ Thành viên giá bao nhiêu?” Khăn giấy, vé xe buýt cũ, một chiếc ô-tô đồ chơi hàng Hot Wheels của Thomas văng ra. Tôi không bận tâm nữa. Tôi sẽ mua cho Will bữa trưa quyền quý trong một nhà hàng. “Đây. Bao nhiêu nào? Mười bảng nữa. Hay hai mươi?” Tôi dứ dứ nắm tiền ra trước mặt cô.

Cô nhìn xuống tay tôi. “Tôi xin lỗi, thưa cô, ở đây chúng tôi không bán thẻ.

Đây là nhà hàng. Cô sẽ phải trở lại quầy bán vé.” “Cái chỗ ở tận cùng đầu kia trường đua ấy hả.” “Vâng.”

Chúng tôi nhìn nhau trân trân.

Giọng Will phá tan im lặng. “Louisa, đi thôi.”

Tôi thấy mắt mình đột nhiên cay xè. “Không,” tôi nói. “Chuyện này thật kỳ cục. Chúng ta đã đi chừng đó chặng đường. Anh cứ ở đây, tôi sẽ đi mua thẻ Thành viên. Rồi chúng ta sẽ ăn trưa.”

“Louisa, tôi không đói.”

“Ăn xong chúng ta sẽ ổn cả thôi. Chúng ta có thể xem đua ngựa. Mọi chuyện sẽ ổn.”

Nathan bước tới đặt tay lên cánh tay tôi. “Louisa, tôi nghĩ Will thực tình chỉ muốn về nhà.”

Giờ chúng tôi đã trở thành tâm điểm của cả quán ăn. Những ánh mắt chằm chằm của thực khách lướt ngang chúng tôi, băng qua tôi tới chỗ Will, tới đó thì chúng tối sầm lại vì thoáng thương hại hoặc khó chịu. Tôi thấy thương cho anh. Tôi thấy hoàn toàn thất bại. Tôi ngước nhìn cô gái, ít nhất cô ta cũng tỏ ra hơi xấu hổ khi Will lên tiếng.

“Được rồi, cảm ơn cô,” tôi nói. “Cảm ơn vì biết cảm thông đến khốn kiếp.” “Clark…” Giọng Will mang theo lời cảnh cáo.

“Rất mừng là cô linh động tới vậy. Hiển nhiên tôi sẽ giới thiệu về cô với tất cả những ai tôi biết.”

“Louisa!”

Tôi chộp lấy cái túi rồi cặp vào nách.

“Cô quên chiếc xe nhỏ này,” cô ta gọi với, khi tôi băng qua cánh cửa mà Nathan đã mở sẵn cho tôi.

“Sao hả, nó cũng cần một cái thẻ chết tiệt hả?” tôi nói, rồi theo họ vào thang máy.

Chúng tôi im lặng đi xuống. Tôi dành phần lớn khoảng thời gian ngắn ngủi trong thang máy cố giữ đôi tay thôi run bần bật vì giận dữ.

Khi chúng tôi xuống tới chỗ đám đông dưới lầu trệt, Nathan lầm bầm, “Tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên mua gì đó ở mấy cái sạp này, cô biết đấy. Từ lúc chúng ta ăn tới giờ cũng mấy tiếng rồi.” Ông liếc xuống Will, thế nên tôi hiểu thật ra ông đang nói tới ai.

“Đúng thế,” tôi cất giọng vui vẻ. Tôi hít vào nhè nhẹ. “Tôi thích ăn chút bì giòn tan. Chúng ta đi ăn heo quay kiểu cũ thôi nào.”

Chúng tôi gọi ba bánh bao nhân thịt heo, da heo quay và nước xốt táo. Tôi ngồi xuống một cái thùng rác nhỏ để có thể đối mặt với Will và giúp anh ăn từng miếng nhỏ, dùng ngón tay đẩy thức ăn vào miệng anh nếu cần.

Hai cô phục vụ đúng sau quầy vờ như không nhìn chúng tôi. Tôi biết họ đang quan sát Will qua khóe mắt, thỉnh thoảng lại rì rầm với nhau khi họ nghĩ chúng tôi không để ý. Tội nghiệp anh chàng, tôi nghe họ nói rất rõ. Sống thế thì khổ chết đi được. Tôi ném cho họ cái nhìn gay gắt, thách họ dám nhìn anh như thế. Tôi cố không nghĩ quá nặng nề về những gì Will hẳn đang cảm nhận.

Mưa đã ngừng rơi, nhưng trường đua lộng gió bỗng trở nên hoang vắng lạnh lẽo, rải rác khắp bề mặt cỏ xanh pha lẫn cỏ nâu là giấy cược rách tả tơi, chân trời chừng như trải ra vô tận. Bãi đỗ xe vắng hoe vì trời mưa, và phía xa chúng tôi có thể nghe thấy tiếng loa nghèn nghẹt thông báo một đợt đua nữa đang rầm rầm lao về đích.

“Tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên về thôi,” Nathan nói, đưa tay lau miệng. “Ý tôi là trò này vui vẻ cả, nhưng tốt hơn là nên tránh kẹt xe, nhỉ?”

“Phải,” tôi nói. Tôi vò tờ giấy ăn rồi ném vào thùng rác. Will từ chối ăn miếng bánh cuối.

“Anh ấy không thích món đó à?” cô bán hàng hỏi, khi Nathan bắt đầu đẩy chiếc xe lăn dọc theo bãi cỏ.

“Tôi làm sao mà biết được. Có lẽ anh ấy sẽ thích nó hơn nếu không phải ăn với món ăn kèm là kẻ tọc mạch,” tôi nói, rồi thọc mạnh mẩu bánh thừa vào thùng rác.

Nhưng đến được xe, lên lại trên cái đường trượt, thì quả là nói dễ hơn làm. Trong mấy giờ đồng hồ chúng tôi ngồi trong trường đua, bao nhiêu xe đến xe đi đã làm bãi đỗ biến thành biển bùn.

Ngay cả với sức khỏe của Nathan và bờ vai mạnh nhất của tôi, chúng tôi không thể kéo chiếc xe được lấy nửa đường băng qua thảm cỏ tới xe. Bánh xe lăn cứ xệch xoạc và kêu ken két, mãi không nhích nổi dăm phân. Bàn chân tôi và Nathan trơn tuột trong bùn, vì bùn đã ngập vào bên trong giày.

“Không được đâu,” Will nói.

Tôi không thèm nghe anh nói. Tôi không chịu được ý nghĩ ngày hôm nay kết thúc như thế này.

“Tôi nghĩ chúng ta cần giúp đỡ,” Nathan nói. “Tôi thậm chí không thể kéo chiếc xe trở lại đường mòn. Dính cứng rồi.”

Will thở dài đánh sượt. Trông anh chưa bao giờ tức giận tới thế.

“Tôi có thể đưa cậu lên ghế trước, Will, nếu tôi ngả nó ra một chút. Sau đó Louisa và tôi nghĩ xem làm sao để đưa được xe lăn lên phía sau.”

Giọng Will rít qua kẽ răng. “Tôi sẽ không kết thúc ngày hôm nay với trò bế xốc qua vai đâu.”

“Xin lỗi anh bạn,” Nathan nói. “Nhưng Lou và tôi sẽ không xoay xở việc này một mình đâu. Này Lou, cô xinh hơn tôi. Chạy đi tìm thêm người giúp đi, được chứ?”

Will nhắm mắt, siết quai hàm, còn tôi chạy về phía khán đài.

Tôi không tin có nhiều người mủi lòng trước tiếng cầu xin kéo giúp chiếc xe lăn mắc kẹt trong bùn, dù tiếng kêu đó cất lên từ một cô gái mặc váy ngắn đang nở nụ cười dễ mến nhất của nàng. Tôi không dễ tiếp xúc với người lạ, nhưng nỗi tuyệt vọng làm tôi quên hết sợ hãi. Tôi đi qua hết nhóm khán giả này tới nhóm khác trên khán đài lớn, hỏi xem họ có thể giúp tôi vài phút được không. Họ nhìn tôi rồi nhìn quần áo trên người tôi như thể tôi đang có âm mưu đặt bẫy gì.

“Xin hãy giúp một thanh niên ngồi xe lăn,” tôi nói. “Anh ấy bị mắc kẹt.” “Chúng tôi đang đợi đợt đua tiếp theo,” họ nói. Hoặc, “xin lỗi.” Hoặc, “Phải đợi sau hai giờ ba mươi nhé. Chúng tôi đặt cược ván này.”

Tôi thậm chí còn tính chặn đường một hay hai người trông ngựa. Nhưng khi tới gần, tôi thấy họ còn nhỏ hơn tôi.

Khi tới khu vực vòng tròn, cả người tôi đã nóng ran vì cơn giận kìm nén. Tôi nghĩ tôi đang cáu lên với mọi người chứ không phải mỉm cười. Và kia, may mắn làm sao cuối cùng cũng thấy những anh chàng mặc áo polo sọc. Lưng áo họ in dòng chữ “Markys Last Stand”, tay họ cầm lon bia Pilsner & Tennent cỡ đại. Giọng họ cho thấy họ từ vùng Đông Bắc tới, và tôi biết khá chắc là hai mươi bốn giờ qua họ hầu như không ngừng nốc bia bọt. Họ reo hò khi tôi tiến lại, và tôi lại muốn giơ ngón tay thối lần nữa.

“Cười lên nào, em yêu. Đây là tiệc tùng cuối tuần của Marky đấy,” một gã nói líu nhíu, vỗ bàn tay như búa tạ lên vai tôi.

“Thứ Hai rồi.” Tôi cố không nao núng khi đẩy bàn tay xuống.

“Em đùa ư. Thứ Hai rồi hả?” Anh ta lảo đảo lùi lại. “Ôi, em nên hôn nó mới phải chứ.”

“Thật ra,” tôi cất tiếng. “Tôi tới đây để nhờ các anh giúp đỡ.”

“Tôi đây sẽ giúp em bất kể việc gì, bé con.” Kèm theo câu nói này là một cái nháy mắt khêu gợi.

Đám bạn lờn vờn bên cạnh anh ta như những thân cây mọc ven hồ.

“Không, không phải vậy đâu. Tôi cần các anh giúp bạn tôi. Ở trong bãi đỗ xe ấy.”

“Tôi xin lỗi, tôi không nghĩ tôi ở trong tình trạng có thể giúp đỡ được bạn em, bé con à.”

“Này này. Đợt đua tiếp theo bắt đầu rồi, Marky. Cậu đặt cược đợt này không? Tớ nghĩ tớ đặt đợt này đấy.”

Họ quay lại đường đua, rõ là đã mất hứng thú với tôi. Tôi liếc nhìn qua vai về phía bãi đỗ xe, thấy dáng người rù rù của Will, thấy Nathan đang tuyệt vọng nắm vào tay xe lăn kéo mạnh. Tôi tưởng tượng ra cảnh tôi trở về nhà và nói với bố mẹ Will rằng chúng tôi đã bỏ chiếc xe siêu đắt của Will lại bãi đỗ xe. Ngay lúc ấy, tôi nghĩ ra kế.

“Anh ấy là lính,” tôi nói thật to. “Cựu chiến binh.” Từng người từng người một quay lại.

“Anh ấy bị thương. Ở Iraq. Chúng tôi chỉ muốn đưa anh ấy đi chơi một ngày vui vẻ. Nhưng chẳng ai giúp chúng tôi cả.” Khi tôi thốt ra những lời này, mắt tôi ầng ậc nước.

“Cựu binh ư? Cô đùa à. Anh ấy đâu?”

“Trong bãi đỗ xe. Tôi đã nhờ không biết bao nhiêu người, nhưng họ không muốn giúp.”

Dường như phải mất một hai phút để họ tiêu hóa điều tôi vừa nói. Nhưng rồi họ kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau.

“Đi nào các bạn. Chúng ta không thể làm thế.” Họ chếnh choáng đi theo sau tôi trên lối mòn. Tôi nghe thấy tiếng họ càm ràm, phàn nàn với nhau. “Dân thường tệ hại… chẳng hiểu nổi ra làm sao nữa…”

Khi chúng tôi tới bãi đỗ xe, Nathan đang đứng bên cạnh Will, anh rụt đầu vào sâu trong cổ áo khoác vì lạnh, dù Nathan đã phủ một tấm chăn nữa lên vai anh.

“Đây là những quý ông vô cùng tốt bụng đã đề nghị được giúp chúng ta,” tôi nói.

Nathan nhìn chăm chăm những lon bia cỡ đại. Tôi phải thừa nhận là phải nhìn thật kỹ mới thấy họ có vẻ nhà binh.

“Cô muốn đưa anh ấy tới đâu?” một người hỏi.

Những người khác đứng quanh Will, gật đầu chào. Một người đưa lon bia cho anh, rõ ràng không hiểu là Will không thể cầm nó.

Nathan chỉ về phía xe của chúng tôi. “Phía sau xe, sau cùng. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần đưa cậu ấy lên khán đài, rồi quay xe lùi lại chỗ cậu ấy.”

“Ông không cần phải làm thế,” một người nói, vỗ vai Nathan. “Chúng tôi có thể nhấc anh ấy lên xe, phải không các chiến hữu?”

Cả đám cùng đồng tình. Họ bắt đầu chọn vị trí cho mình quanh xe lăn của Will.

Tôi rục rịch ngại ngần. “Khó nghĩ quá… đoạn đường các anh phải nâng anh ấy xa quá,” tôi đánh bạo lên tiếng. “Mà cái xe nặng lắm đấy.”

Họ đã say mềm cả rồi. Một số người còn không cầm vững lon bia. Một người dúi lon Tennent vào tay tôi.

“Đừng lo, bé cưng. Sẽ làm mọi thứ cho đồng đội, phải không các chiến hữu?”

“Chúng tôi sẽ không để cậu lại đây đâu, anh bạn. Chúng tôi chưa bao giờ bỏ rơi đồng đội, phải không nào?”

Tôi nhìn mặt Nathan rồi lắc đầu quầy quậy khi thấy vẻ mặt giễu cợt của ông. Will chừng như chẳng muốn nói gì. Nét mặt anh đăm đăm, rồi chuyển sang hơi lo lắng, khi đám thanh niên xúm quanh xe anh, chẳng hô một tiếng, nhấc bổng nó lên giữa bọn họ.

“Trung đoàn nào vậy, bé cưng?”

Tôi cố mỉm cười, lật giở ký ức để tìm một cái tên. “Súng trường…” tôi nói. “Súng trường số mười một.”

“Tôi không biết trung đoàn súng trường số mười một đấy,” một người khác nói.

“Trung đoàn mới mà,” tôi lắp bắp. “Tuyệt mật. Đóng quân ở Iraq.”

Giày của họ trượt trên bùn, tôi thấy tim mình chao đảo. Xe lăn của Will được nhấc lên khỏi mặt đất chừng mươi phân, như một chiếc kiệu. Nathan chạy đi lấy cái túi của Will, mở cửa chiếc xe trước mặt chúng tôi.

“Những anh chàng đó luyện tập ở Catterick à?”

“Chính thế,” tôi nói, rồi đổi chủ đề. “Thế… ai trong số các anh kết hôn rồi?”

Chúng tôi trao đổi số điện thoại khi cuối cùng cũng được chia tay Marky và đồng đội của anh ta. Họ quyên tiền, đưa cho chúng tôi gần bốn mươi bảng gây quỹ phục hồi cho Will, và chỉ thôi khăng khăng bắt chúng tôi nhận khi tôi nói rằng chúng tôi sẽ vui nhất khi thay vì cho tiền, họ uống một chầu để cầu phước cho chúng tôi. Tôi phải hôn từng người bọn họ, không sót một ai. Khi hôn xong, tôi thấy choang choáng với hơi bia. Tôi vẫy tay mãi cho tới khi họ biến mất trở vào khán đài, và Nathan bấm còi giục tôi lên xe.

“Họ có ích đấy chứ nhỉ?” tôi vừa nói vui vẻ vừa khởi động máy xe.

“Gã cao cao đổ cả lon bia xuống chân phải tôi,” Will nói. “Giờ tôi bốc mùi như nhà máy bia.”

“Ôi không tin nổi,” Nathan nói, khi cuối cùng tôi cũng đánh xe được tới lối vào chính. “Nhìn kìa. Có cả một bãi đỗ xe dành cho người khuyết tật ngay kia, cạnh khán đài. Tất cả đều rải nhựa.”

Phần còn lại của ngày hôm đó, Will hầu như chẳng nói gì. Anh tạm biệt Nathan khi chúng tôi thả ông xuống ngang nhà, rồi anh trở nên lặng lẽ khi tôi chật vật chạy xe trên con đường lên lâu đài, con đường giờ đây trở nên vắng vẻ vì trời lại đổ mưa, và cuối cùng tôi đỗ lại bên ngoài khu nhà phụ. Tôi hạ thấp xe lăn của Will, đẩy anh vào trong nhà, pha cho anh một ly nước ấm. Tôi thay giày và quần cho anh, bỏ chiếc quần dính bia vào máy giặt, rồi đỏ lò sưởi để anh sưởi ấm. Tôi bật ti-vi lên, buông rèm cửa để căn phòng quanh chúng tôi trở nên ấm cúng – có lẽ là ấm hơn khoảng thời gian vật vờ bên ngoài trời lạnh. Nhưng chỉ khi ngồi xuống cùng anh trong phòng khách, nhấm nháp tách trà, tôi mới nhận ra nãy giờ anh không nói gì – vì còn quá mệt mỏi, hoặc vì anh muốn xem ti-vi. Chỉ có điều anh không nói chuyện với tôi.

“Có… có chuyện gì à?” tôi nói, khi anh không buồn đáp câu bình luận thứ ba của tôi về bản tin địa phương.

“Cô phải nói cho tôi biết mới đúng chứ, Clark.” “Là sao?”

“Ồ, cô biết mọi thứ khác cần biết về tôi cơ mà. Cô nói cho tôi nghe đi.”

Tôi nhìn anh trân trân. “Tôi xin lỗi,” cuối cùng tôi cất tiếng. “Tôi biết hôm nay không được như tôi dự tính. Quả tình tôi chỉ định tổ chức một buổi đi chơi vui vẻ. Thực lòng tôi đã nghĩ anh sẽ thích chuyến đi này.”

Tôi không nói thêm rằng anh đang cộc cằn một cách ngang ngạnh, rằng anh chẳng hề hay tôi đã phải đấu tranh chỉ để được giúp anh thử yêu bản thân, rằng anh thậm chí không cố gắng để có một khoảng thời gian vui vẻ. Tôi không nói với anh rằng nếu anh để tôi mua mấy tấm thẻ ngu xuẩn đó, có thể chúng tôi đã có bữa trưa dễ chịu và mọi phiền toái khác sẽ bị lãng quên.

“Vấn đề nằm ở đó.” “Sao cơ?”

“Ôi, cô chẳng khác gì những người còn lại cả.” “Ý anh là gì?”

“Nếu cô thèm cất tiếng hỏi tôi, Clark. Nếu cô thèm hỏi ý kiến tôi dù chỉ một lần thôi về cái gọi là chuyến đi chơi vui thú này của chúng ta, tôi hẳn đã nói với cô rồi. Tôi ghét ngựa, ghét cả đua ngựa. Luôn luôn như thế. Nhưng cô đâu có thèm hỏi tôi. Cô quyết định cái cô nghĩ cô muốn tôi làm, và cứ thế phăm phăm thực hiện. Cô hành động chẳng khác gì ai. Cô quyết định thay tôi.”

Tôi nuốt khan.

“Tôi không có ý đó…” “Nhưng cô đã làm thế.”

Anh quay xe ngoảnh lưng về phía tôi, sau vài phút im lặng nữa, tôi nhận ra mình đã bị đuổi đi.

Chương 12

Tôi có thể kể chính xác với bạn ngày tôi không còn lòng dũng cảm nữa.

Đó là gần bảy năm trước, vào những ngày cuối cùng nóng nực, trễ nải của tháng Bảy, khi những con phố nhỏ quanh lâu đài chật ních du khách, không gian đong đầy tiếng bước chân ngập ngừng của họ và tiếng rộn ràng của những chiếc xe tải bán kem xếp hàng thường trực trên đỉnh đồi.

Bà ngoại tôi mất một tháng trước đó sau thời gian dài đau ốm, thế nên choàng lên mùa hè năm ấy là nỗi u sầu dìu dịu; nó nhẹ nhàng bao phủ lên mọi việc chúng tôi làm, dập tắt tính ưa hò la sinh sự của chị em tôi, trì hoãn lịch trình quen thuộc của mùa hè với những kỳ nghỉ ngắn ngày và những buổi đi chơi. Mẹ tôi đứng hầu như cả ngày bên chậu giặt, lưng bà căng lên với nỗ lực ngăn dòng nước mắt, còn bố thì sáng nào cũng đi làm với vẻ mặt tư lự, nhiều tiếng sau lại về nhà với khuôn mặt bóng nhẫy vì cái nóng và chừng nào còn chưa mở bia thì chưa cất nổi nên lời. Em gái tôi ở nhà nhân dịp nghỉ hè năm nhất đại học, đầu óc nó đã để ở đẩu đâu xa lắc thị trấn nhỏ của chúng tôi. Tôi hai mươi tuổi, ba tháng sau thời điểm này tôi sẽ gặp Patrick. Chúng tôi đang thưởng thức một trong những mùa hè hiếm hoi được tự do tuyệt đối – không gánh nặng tài chính, không nợ nần, không nợ thời gian bất kỳ ai. Tôi có một công việc thời vụ, và có vô khối thời gian để thực tập trang điểm, đi đôi giày cao gót làm bố tôi nhăn cả mặt, và về cơ bản đã hiểu được mình là ai trên đời.

Những ngày ấy, tôi ăn mặc bình thường. Hay nói đúng hơn, tôi ăn mặc như bao cô gái khác trong thị trấn – tóc dài chấm ngang vai, quần Jean màu chàm, áo phông bó vừa đủ để khoe vòng eo bé tí và bộ ngực nhô cao. Chúng tôi dành hàng giờ để hoàn thiện kỹ thuật tô son bóng và đánh đúng màu khói cho mắt. Trông chúng tôi điểm nào cũng đẹp, thế nhưng chúng tôi vẫn cứ càm ràm suốt ngày về điểm sần không tồn tại và tì vết chẳng thấy đâu trên da dẻ.

Tôi có nhiều ý tưởng. Những thứ tôi muốn làm. Một anh chàng tôi quen ở trường đã chu du vòng quanh thế giới, để rồi khi trở về trông cậu ta thật khác biệt và lạ lẫm, như thể cậu không phải là cái thằng nhóc mười một tuổi còm nhom chuyên trị thổi bong bóng nước bọt trong suốt hai tiết tiếng Pháp. Tôi đã đặt một chuyến bay giá rẻ tới Úc trong phút bốc đồng, và cố tìm người có thể đi cùng mình. Tôi thích vẻ ngoại lai mà những chuyến đi khoác lên con người cậu ấy, sự xa lạ. Cậu ấy đã mang tới những làn gió nhẹ của một thế giới rộng lớn hơn, và điều đó tạo nên nét quyến rũ lạ lùng. Nói cho cùng, mọi người ở đây đều biết tường tận về con người tôi. Và với một đứa em như em tôi, tôi không bao giờ được phép quên bất cứ điều gì về con người ấy.

Hôm đó là thứ Sáu, ngày hôm ấy tôi làm công việc hướng dẫn đỗ xe cùng với một nhóm bạn nữ học cùng trường cũ, chỉ dẫn cho du khách tới tham dự một hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ tổ chức trên sân của tòa lâu đài. Ấn tượng về ngày hôm đó là tiếng cười đùa râm ran, đồ uống có ga tu ừng ực dưới mặt trời nóng rẫy, bầu trời xanh ngăn ngắt, ánh nắng xuyên qua những bức tường thành có lỗ châu mai. Hôm đó chẳng có vị du khách nào không mỉm cười với tôi. Làm sao họ có thể không mỉm cười với những cô gái vui vẻ, luôn cười rúc rích cơ chứ. Chúng tôi được trả ba mươi bảng, và vì quá hài lòng với số người tham dự nên nhà tổ chức đã cho mỗi đứa chúng tôi thêm năm bảng. Chúng tôi ăn mừng bằng một chầu say xỉn cùng mấy cậu trai đã làm việc ở bãi đỗ xe phía xa bên cạnh khu đón khách. Họ ăn nói lịch sự, mặc áo polo chơi bóng bầu dục, mái tóc mềm mại. Một cậu có tên là Ed, hai trong số họ đã vào đại học – giờ tôi vẫn chẳng nhớ ra là trường nào – và họ cũng đang đi làm để kiếm tiền vào kỳ nghỉ hè. Họ có rất nhiều tiền mặt sau cả một tuần làm phục vụ, thế nên khi chúng tôi cháy túi, họ rất vui khi được mua đồ uống cho những cô gái địa phương đã ngà ngà, luôn tay vuốt tóc, ngồi trên lòng nhau, không ngừng nô đùa rồi cười ré lên, và cứ gọi họ là quyền quý. Họ nói thứ tiếng rất lạ; họ nói về những ngày tháng bỏ học bỏ làm để đi du lịch, về những mùa hè ở Nam Mỹ, về du lịch bụi ở Thái Lan, về người đang cố thực hiện chuyến đi thực tập ở nước ngoài. Khi chúng tôi đang vừa uống vừa nghe kể chuyện, em gái tôi dừng lại bên quán bia ngoài trời, nơi chúng tôi đang nằm ngả ngốn trên cỏ. Nó mặc chiếc áo cũ rích cũ rơ và không trang điểm, và tôi quên bẵng mất lẽ ra tôi phải đi gặp nó. Tôi bảo với nó về nói bố mẹ là sau ba mươi tuổi tôi mới về nhà. Chẳng hiểu sao tôi thấy ý tưởng này buồn cười kinh khủng. Nó nhướng mày lên, rồi ngang nhiên bỏ đi như thể tôi là kẻ rắc rối nhất từng có mặt trên đời.

Khi quán Red Lion đóng cửa, tất cả chúng tôi đi vào ngồi giữa trung tâm mê cung của tòa lâu đài. Có đứa xoay xở bò qua cổng, sau khi va đụng tóe lửa và cười rũ rượi, tất cả chúng tôi đều tìm được đường vào chính giữa mê cung để ngồi đó uống rượu táo mạnh, trong khi đó có một đứa chuyền tay một điếu thuốc gai dầu tự quấn. Tôi nhìn chăm chú lên bầu trời đầy sao, cảm thấy mình như biến mất vào chiều sâu vô định của những vì tinh tú, mặt đất dập dềnh chao đảo quanh tôi như một boong tàu khổng lồ. Một người đang chơi guitar, tôi đi đôi giày cao gót sa-tanh hồng, tôi đá văng nó vào bụi cỏ rậm và chẳng bao giờ đi tìm lại. Tôi nghĩ hẳn mình đang làm chủ thế gian.

Phải nửa tiếng sau tôi mới nhận ra đám con gái đã đi hết.

Em gái tôi tìm thấy tôi, ở đó giữa trung tâm mê cung, một hồi sau, rất lâu sau khi mây đêm đã thế chỗ những vì sao. Tôi nói rồi đấy, nó rất thông minh. Quả tình là thông minh hơn tôi.

Nó là người duy nhất tôi từng biết có thể tìm đường ra khỏi mê cung đó một cách an toàn.

“Chuyện này sẽ khiến anh buồn cười cho xem. Tôi vừa làm thẻ thư viện.”

Will đang ngập giữa bộ sưu tập CD của mình. Anh quay xe lại, chờ đợi cho tôi đặt xong ly nước xuống chỗ để ly trên xe. “Thật sao? Cô đang đọc gì.”

“Tôi chẳng có gì sâu xa cả. Anh sẽ không thích nó đâu. Chỉ toàn chuyện trai gái quen nhau thôi mà. Nhưng tôi thích nó.”

“Hôm nọ cô đã đọc cuốn của Flannery OConnor.” Anh uống một ngụm nước. “Bữa tôi bị ốm đó.”

“Tập truyện ngắn ấy hả? Không tin nổi là anh để ý thấy nó đấy.”

“Làm sao tôi không để ý thấy cho được. Cô để cuốn sách bên cạnh tôi. Tôi không cầm nó lên được.”

“À.”

“Thế nên đừng đọc những thứ vớ vẩn. Mang tập truyện của OConnor về nhà. Thay vào đó hãy đọc nó.”

Tôi định nói không, nhưng rồi nhận ra mình không biết chắc tại sao lại từ chối. “Được thôi. Đọc xong tôi sẽ mang trả ngay.”

“Bật nhạc cho tôi nhé Clark?” “Anh muốn nghe gì?”

Anh bảo tôi tên CD, hất đầu chỉ vị trí áng chừng của nó, và tôi lục lọi cho tới khi tìm ra nó.

“Tôi có một người bạn chơi ở vị trí violin trưởng ở dàn nhạc giao hưởng Albert. Cậu ấy đã gọi báo rằng tuần tới cậu ấy sẽ chơi ở gần đây. Đoạn nhạc này đây. Cô biết nó không?”

“Tôi chẳng biết gì về nhạc cổ điển cả. Thỉnh thoảng bố tôi vô tình mở nhạc cổ điển trên đài FM, nhưng…”

“Cô chưa bao giờ đi nghe hòa nhạc hả?” “Chưa.”

Trông anh thực sự kinh ngạc.

“À, thật tình tôi có đi xem Westlife một lần. Nhưng tôi không chắc như thế có được tính không. Đó là lựa chọn của em gái tôi. Ôi, tôi đã định đi xem Robbie Williams vào sinh nhật hai hai tuổi, nhưng tôi lại bị ngộ độc thức ăn.”

Will nhìn tôi ánh mắt kinh điển ấy – ánh nhìn gợi ra ý nghĩ có lẽ thật tình tôi đã bị khóa trái trong ngục thất của ai đó suốt nhiều năm.

“Cô nên đi. Cậu ấy cho tôi vé. Buổi biểu diễn này hay lắm đấy. Đưa mẹ cô đi cùng.”

Tôi bật cười và lắc đầu. “Tôi không nghĩ thế đâu. Mẹ tôi chẳng bao giờ đi chơi. Và đó cũng không phải lãnh địa của tôi.”

“Cũng giống như phim có phụ đề không phải lãnh địa của cô chứ gì?”

Tôi cau có với anh. “Tôi không phải công trình của anh đâu Will. Cái này không phải My Fair Lady. “

“Pygmalion.” “Gì cơ?”

“Buổi biểu diễn cô đang nói tới đó. Nó là Pygmalion. My Fair Lady chỉ là hàng con cháu tầm thường của nó thôi.”

Tôi liếc nhìn anh. Chẳng ích gì. Tôi bật chiếc đĩa. Khi tôi quay lại, anh vẫn lắc lắc đầu.

“Cô đúng là kẻ hợm mình kinh khủng nhất, Clark.” “Cái gì? Tôi ư?”

“Cô loại bỏ mọi loại trải nghiệm đó khỏi cuộc đời mình vì cô tự nhủ mình không thuộc kiểu người đó.” “Thì đúng là thế mà.”

“Làm sao mà cô biết được? Cô chưa từng làm gì, chưa từng đi đâu. Làm sao cô có thể biết được dù chỉ chút xíu cô là kiểu người gì?”

Làm sao một người như anh hiểu chút gì về con người tôi. Tôi thấy gần như tức giận với anh vì cứ ngoan cố không chịu hiểu điều đó.

“Tiến lên. Mở mang trí óc của cô đi.” “Không.”

“Tại sao?”

“Vì tôi thấy không thoải mái. Tôi cảm thấy như thể… tôi cảm thấy như thể người ta sẽ biết.”

“Ai? Biết cái gì?”

“Mọi người khác trên đời sẽ biết, rằng tôi không thuộc về những thứ đó.” “Cô nghĩ tôi cảm thấy thế nào?”

Chúng tôi nhìn vào mắt nhau.

“Clark, giờ đây bất cứ nơi nào tôi tới người ta cũng nhìn tôi như thể tôi không thuộc về nơi đó.”

Chúng tôi ngồi yên lặng khi nhạc nổi lên. Bố Will đang nói chuyện điện thoại trong sảnh, tiếng cười cố nén lan theo sảnh vào khu nhà phụ như thể đến từ một nơi xa lắm. Lối đi dành cho người tàn tật ở đằng kia, người phụ nữ ở cuộc đua ngựa đã nói thế. Như thể anh là một giống loài khác.

Tôi nhìn vào vỏ đĩa. “Tôi sẽ đi nếu anh đi cùng tôi.” “Nhưng như thế đâu phải là tự cô đi.”

“Không khác được.”

Chúng tôi ngồi yên trong khi anh suy ngẫm chuyện này. “Chúa ơi, cô đúng là khó chịu thật đấy.”

“Anh cứ việc nói thế đi.”

***

Lần này chúng tôi không lên kế hoạch. Tôi không mong đợi gì. Tôi chỉ âm thầm hy vọng rằng sau thất bại ở chuyến đi xem đua ngựa, Will vẫn sẵn sàng ra khỏi khu nhà phụ. Bạn anh, người nhạc công, gửi vé miễn phí cho chúng tôi như đã hứa, kèm theo một tờ bướm ghi thông tin địa điểm biểu diễn. Nơi đó cách nhà Will bốn mươi phút lái xe. Tôi chuẩn bị sẵn mọi thứ từ nhà, kiểm tra nơi đỗ xe dành cho người tàn tật, gọi trước cho nhà hát để nắm được cách thuận tiện nhất để đưa xe lăn vào ghế của Will. Họ sẽ cho chúng tôi ngồi trước, tôi ngồi ở ghế gấp bên cạnh Will.

“Đó thực sự là chỗ ngồi tốt nhất đấy,” người phụ nữ ở phòng vé vui vẻ nói. “Khi ngồi ở sàn nhà hát, ngay cạnh ban nhạc, cô sẽ thấy âm nhạc tác động mạnh mẽ hơn. Tôi vẫn luôn khao khát được ngồi ở đó.”

Cô thậm chí còn hỏi chúng tôi xem liệu chúng tôi có muốn có người tới gặp chúng tôi trong bãi đỗ xe để giúp chúng tôi tới chỗ ngồi không. Sợ rằng Will sẽ cảm thấy người ta quan tâm quá đáng, tôi cảm ơn cô rồi bảo không cần.

Khi buổi tối đó tới, tôi không biết ai trở nên căng thẳng hơn ai, Will hay là tôi. Tôi còn cảm nhận rõ nỗi thất bại của chuyến đi chơi gần đây. Bà Traynor thì chẳng giúp đỡ gì, cứ đi ra đi vào khu nhà phụ tới mười bốn lần để xác nhận buổi biểu diễn sẽ tổ chức ở đâu, khi nào, chính xác thì chúng tôi cần gì.

Sinh hoạt buổi tối của Will phải thực hiện đầy đủ vào một lúc nào đó, bà nói. Bà cần đảm bảo có người ở đấy để giúp đỡ. Nathan thì có việc riêng rồi. Ông Traynor rõ ràng lại đi chơi tối. “Ít nhất nó cũng phải mất một tiếng rưỡi,” bà nói.

“Và nó sẽ chán kinh hồn,” Will nói.

Tôi nhận ra anh đang kiếm cớ thoái thác để khỏi phải đi. “Tôi sẽ làm việc đó,” tôi nói. “Nếu Will cho tôi biết phải làm gì. Tôi không phiền nếu phải ở lại giúp đỡ đâu.” Tôi nói ra câu đó trước khi kịp nhận ra mình đang đồng ý làm việc gì.

“Ồ, đó là điều mà cả hai chúng ta đều mong đợi đấy,” Will nói nhát gừng, sau khi mẹ anh đã đi ra. “Cô thấy hết mông má của tôi, còn tôi thì được tắm trên giường bởi một cô nàng mà vừa nhìn thấy da thịt trần trụi thì đã chết ngất.”

“Tôi đâu có chết ngất khi thấy da thịt trần trụi.”

“Clark, tôi chưa thấy ai thiếu thoải mái với cơ thể con người như cô. Cô làm như thể nó là phóng xạ không bằng.”

“Vậy thì để mẹ anh làm đi,” tôi phản pháo.

“Được thôi, vì như thế sẽ khiến toàn bộ ý tưởng ra ngoài đi chơi quyến rũ hơn nhiều.”

Rồi lại còn vấn đề với tủ quần áo. Tôi chẳng biết phải mặc gì.

Bữa đi xem đua ngựa tôi đã mặc không hợp lý. Làm sao tôi dám chắc tôi sẽ không mắc lại lỗi đó lần nữa? Tôi hỏi Will mặc gì là tốt nhất, anh nhìn tôi như thể tôi bị điên. “Đèn sẽ tắt,” anh giải thích. “Chẳng ai nhìn cô đâu. Người ta tập trung vào âm nhạc.”

“Anh chẳng biết tí gì về phụ nữ cả,” tôi nói.

Cuối cùng khi đi làm tôi mang theo bốn bộ đồ khác, nhét tất cả vào cái giỏ đựng suit của bố rồi tống lên xe buýt. Rốt cuộc đó là cách duy nhất tôi có thể thuyết phục mình đi.

Nathan tới vào buổi trà chiều lúc năm giờ rưỡi, và trong khi ông để mắt đến Will, tôi chui vào phòng tắm để chuẩn bị. Đầu tiên, tôi mặc vào bộ đồ mà tôi nghĩ đúng “gu” của mình nhất, chiếc đầm suôn màu xanh có đính những viên cườm bự chảng màu hổ phách. Tôi tưởng tượng kiểu người đi nghe nhạc chắc hẳn phải âm thầm toát ra vẻ nghệ thuật và khoa trương. Will và Nathan cùng nhìn chằm chằm khi tôi bước vào phòng khách.

“Không,” Will nói thẳng thừng.

“Trông bộ đó như đồ của mẹ tôi ấy,” Nathan nói.

“Sao chưa bao giờ ông nói mẹ ông là ca sĩ Nana Mouskouri nhỉ,” Will đế thêm.

Tôi nghe rõ tiếng hai người họ cười khùng khục khi tôi chui trở vào phòng tắm.

Bộ thứ hai là chiếc đầm đen tuyền – cắt chéo, đính cổ và nẹp tay màu trắng – mà tôi tự may lấy cho mình. Trông nó vừa sang trọng vừa ra dáng người Paris, ấy là tôi nghĩ thế.

“Trông cô như chuẩn bị đi bán kem không bằng,” Will nói.

“Ôi, cô bạn, dù sao cô cũng sẽ thành người phục vụ tuyệt vời đấy,” Nathan tán thành. “Mặc bộ đó vào ban ngày thì không sao đâu. Thật đấy.”

“Ông sẽ phải đề nghị cô ấy lần tới phủi bụi diềm váy đi rồi hãy mặc.” “Cậu nói phải, cái đầm hơi bụi đấy.”

“Hai người,” tôi nói. “Ngày mai trong trà của cả hai sẽ có nước lau nhà Mr Muscle cho xem.”

Tôi bỏ qua bộ đồ thứ ba – chiếc quần ống rộng màu vàng – vì biết trước thể nào Will cũng liên tưởng tới chú gấu Rupert, và thay vì thế mặc vào lựa chọn thứ tư, chiếc đầm vintage vải sa-tanh đỏ đun. Nó được may cho một thời đại tiết kiệm hơn, và tôi luôn phải thầm cầu nguyện rằng tôi có thể kéo khóa qua eo, nhưng nó cho tôi vóc dáng của một ngôi sao trẻ thập niên 1950, và nó là chiếc đầm “thắng lợi”, một bộ đồ mà khi mặc ta không thể không cảm thấy mình đẹp. Tôi khoác chiếc áo FH màu bạc qua vai, quàng tấm khăn lụa màu xám quanh cổ để che khe ngực, thoa chút son tiệp màu, rồi bước ra phòng khách.

“Oa oa,” Nathan kêu lên tán thưởng.

Mắt Will lướt lên lướt xuống bộ đầm của tôi. Tới lúc đó tôi mới nhận ra anh đã thay áo sơ-mi và suit. Râu cạo nhẵn, mái tóc đã cắt gọn gàng, trông anh đẹp trai kỳ lạ. Tôi không thể không nở nụ cười khi nhìn thấy anh như thế. Không phải vì ngoại hình của anh; mà đó là vì anh đã cố gắng.

“Chiếc này được rồi,” anh nói. Giọng anh vô cảm và đều đều một cách kỳ cục. Khi tôi cúi xuống chỉnh viền áo, anh nói thêm, “Nhưng bỏ áo FH ra.”

Anh nói đúng. Tôi biết nó không thật phù hợp. Tôi cởi nó ra, gấp cẩn thận rồi đặt lên thành xe lăn.

“Cả cái khăn nữa.”

Tôi giật tay lên cổ. “Cái khăn? Tại sao?”

“Nó không phù hợp. Trông cứ như thể cô đang cố giấu cái gì phía sau nó vậy.”

“Nhưng tôi… ừm, nếu không quàng khăn tôi sẽ lộ hết khe ngực.”

“Thế thì sao?” anh nhún vai. “Nghe này, Clark, nếu cô định mặc loại váy này, cô cần phải mặc nó với lòng tự tin. Cô cần phải đong đầy nó bằng cả thể xác lẫn tinh thần.”

“Trên đời chỉ có anh, Will Traynor, là bảo phụ nữ cách mặc một chiếc đầm đỏ.”

Nhưng tôi bỏ cái khăn ra.

Nathan đi xếp túi đồ cho Will. Tôi đang nghĩ xem nên nói thêm gì về cái tính kẻ cả quá quắt của anh, thì khi quay lại tôi thấy anh vẫn đang nhìn tôi.

“Trông cô tuyệt lắm, Clark,” anh nói khẽ. “Rất đẹp.”

Tôi đã quan sát mấy phản ứng thường gặp của những người bình thường – những người mà có lẽ Camilla Traynor sẽ gọi là người thuộc “tầng lớp lao động” – khi nhìn thấy Will. Đa số sẽ nhìn chằm chằm. Số ít sẽ mỉm cười tội nghiệp, biểu lộ sự thương cảm, hoặc hỏi tôi với giọng thì thầm như trên phim xem chuyện gì đã xảy ra. Tôi thường rất muốn được đáp lại rằng, “Nhân viên Cơ quan Tình báo MI6 không may bị lộ,” chỉ để xem phản ứng của họ, nhưng tôi chưa bao giờ nói thế.

Còn với tầng lớp trung lưu thì thế này. Họ vờ như không nhìn, nhưng thực chất lại có nhìn. Họ quá lịch sự nên không nhìn chằm chằm. Thay vì thế, họ làm một việc rất kỳ cục là bắt hình Will trong tầm mắt mình nhưng vẫn kiên quyết không nhìn anh. Cho tới khi anh đi qua hẳn, họ sẽ nhìn thẳng về phía anh, dù miệng vẫn tiếp tục trò chuyện với người khác. Nhưng họ không nói về anh. Vì như thế là quá thô lỗ.

Khi chúng tôi tới sảnh chờ nhà hát Symphony, nơi những nhóm người lịch thiệp đang đứng, tay này cầm túi xách và tờ chương trình, tay kia cầm ly gin và tonic, tôi thấy loại phản ứng này lướt qua họ như một đợt sóng nhẹ nhàng theo chân chúng tôi vào tận chỗ ngồi. Giờ đây khi nghĩ lại, tôi không biết Will có để ý không. Đôi khi tôi nghĩ cách duy nhất để anh đối phó với điều đó là vờ như chẳng thấy gì.

Chúng tôi ngồi xuống, hai người duy nhất ngồi phía trước khu ghế giữa. Bên phải chúng tôi có một người đàn ông nữa ngồi xe lăn đang trò chuyện rôm rả với hai phụ nữ ngồi hai bên ông. Tôi quan sát họ, hy vọng rằng Will cũng để ý thấy họ. Nhưng mắt anh hướng thẳng phía trước, đầu anh vùi sâu giữa hai vai, như thể anh đang cố để ẩn mình.

Chuyện này sẽ chẳng đến đâu cả, một giọng nói vang lên trong đầu tôi. “Anh có cần gì không?” tôi thì thầm.

“Không,” anh lắc đầu. Anh nuốt khan. “Thật ra là có. Thứ gì đó đang chui vào cổ áo tôi.”

Tôi cúi lại gần, thò tay vào trong cổ áo anh; một tấm mác còn sót bên trong.

Tôi lôi nó ra, hy vọng giật được nó đi, nhưng nó ngoan cố trụ lại. “Áo mới. Tấm mác làm anh khó chịu lắm hả?”

“Không. Tôi chỉ nghĩ tôi mang theo nó cho ngộ thôi.” “Anh có mang theo kéo trong túi xách không.”

“Tôi không biết, Clark. Tin hay không tùy cô nhé, tôi chả mấy khi tự mình xếp túi cả.”

Trong túi không có kéo. Tôi liếc ra sau, khán giả vẫn đang dần dần yên vị trên ghế, rì rầm trò chuyện và xem qua tờ chương trình. Nếu Will không thể thư giãn và tập trung vào âm nhạc, buổi đi chơi sẽ thành uổng phí. Tôi không chịu nổi thất bại lần thứ hai.

“Ngồi yên nhé,” tôi nói. “Sao…”

Trước khi anh kịp dứt câu, tôi vươn người tới, nhẹ nhàng lật cổ áo anh ra, đặt miệng lên đó, kẹp tấm mác phiền toái vào mấy chiếc răng cửa. Mất mấy giây tôi mới cắn đứt được nó, rồi tôi nhắm mắt lại, cố giũ bỏ hương thơm đàn ông sạch mát, giũ bỏ cảm giác da thịt anh ấn vào da thịt tôi, sự vô lý của việc tôi đang làm. Thế rồi cuối cùng, tôi thấy nó rụng ra. Tôi kéo đầu ra và mở mắt, vui mừng, với tấm mác đứt nằm giữa mấy chiếc răng cửa.

“Được rồi!” tôi nói, lôi tấm mác ra khỏi răng rồi liệng nó xuống dưới ghế. Will nhìn tôi chăm chăm.

“Gì thế?”

Tôi quay người trên ghế thì nhận ra khán giả phía sau đột nhiên chúi mắt vào tờ chương trình như thể nó vô cùng hấp dẫn. Rồi tôi quay lại Will.

“Ôi, thôi nào, đâu thể nào từ trước tới nay người ta chưa từng nhìn thấy một cô gái gặm cổ áo một chàng trai cơ chứ.”

Có vẻ như tôi đã bịt được miệng anh trong thoáng chốc. Will chớp mắt vài cái, khe khẽ lắc đầu. Tôi ngạc nhiên nhận ra là cổ anh đã đỏ dừ.

Tôi vuốt phẳng váy. “Dù sao,” tôi nói, “tôi nghĩ cả hai chúng ta nên biết ơn vì nó không nằm trong quần của anh.”

Thế rồi, trước khi anh kịp đáp trả, ban nhạc bước ra, người mặc veston dạ tiệc, người mặc đầm cocktail, và khán giả im bặt. Trong tôi bỗng trào lên chút phấn khích. Họ bắt đầu chơi nhạc, thế rồi đột nhiên cả khán phòng đong đầy một âm thanh duy nhất – thứ âm thanh ba chiều sống động nhất tôi từng nghe. Nó khiến tôi dựng tóc gáy, hơi thở nghẹn lại trong cổ họng.

Will nhìn sang tôi, gương mặt anh vẫn mang nét giỡn chơi như mấy phút trước. Okay, vẻ mặt ấy nói. Chúng ta sẽ thưởng thức thứ này.

Vị nhạc trưởng đứng lên, vỗ hai cái vào bục phát biểu, sự im lặng càng sâu hơn. Tôi cảm thấy sự tĩnh tại, cả khán phòng háo hức chờ mong. Rồi ông đưa cây gậy xuống và đột nhiên tất cả chỉ còn lại âm thanh thuần khiết. Tôi cảm thấy âm nhạc như một thực thể; nó không chỉ nằm trong tai tôi, nó trườn vào trong tôi, bao phủ quanh tôi, khiến mọi giác quan ngân rung. Nó khiến tôi sởn gai ốc và lòng bàn tay tôi ướt đẫm. Will đã không hề mô tả về buổi hòa nhạc như thế này. Tôi đã nghĩ chắc chắn tôi sẽ thấy chán. Không ngờ nó lại là thứ đẹp đẽ nhất tôi từng nghe.

Và nó khiến trí tưởng tượng của tôi phiêu du ngoài mong đợi; khi tôi ngồi đó, tôi thấy mình nghĩ tới những điều bao nhiêu năm rồi tôi chưa từng nghĩ, những cảm xúc cũ xưa trào sôi trong tôi, những ý tưởng và tâm tư mới dâng lên như thể bản thân tri giác của tôi đang xáo động dữ dội. Nó dường như bao la, nhưng tôi không muốn ngăn nó lại. Tôi muốn ngồi như thế mãi. Tôi lén nhìn sang Will. Anh đang mê ly, bỗng như vô thức. Tôi quay đi, đột nhiên sợ phải nhìn anh. Tôi sợ nghĩ tới những gì anh đang cảm nhận, sự mất mát vô bờ, nỗi sợ hãi khôn dò. Cuộc sống của Will Traynor thật quá xa so với những trải nghiệm trên đời của tôi. Tôi là ai mà có quyền nói với anh rằng lẽ ra anh phải khát sống cuộc đời đó chứ?

Bạn Will gửi lời nhắn mời chúng tôi cuối buổi vào sau sân khấu gặp anh, nhưng Will không muốn. Tôi giục anh một lần, nhưng nhìn cơ hàm siết chặt của anh, tôi biết chắc anh sẽ không lay chuyển. Tôi không thể trách anh. Tôi nhớ lại cách người bạn làm ăn cũ đã nhìn anh ngày hôm đó – hòa trộn giữa thương hại, khiếp sợ, và đâu đó là cảm giác giải thoát sâu sắc, vì chẳng hiểu sao bản thân họ đã thoát được khỏi cú đòn riêng biệt này của số phận. Tôi nghĩ anh chỉ có thể chịu đựng chừng đó những buổi gặp gỡ kiểu ấy thôi.

Chúng tôi chờ cho tới khi mọi người về hết, rồi tôi đẩy Will ra, đi thang máy xuống bãi đỗ xe, rồi đưa Will lên xe  mà không gặp trở ngại nào. Tôi không nói gì nhiều; đầu tôi vẫn reo vang vì âm nhạc, và tôi không muốn nó phai đi. Tôi vẫn nghĩ hoài về buổi biểu diễn, về cách bạn Will chìm đi trong tiếng đàn anh chơi. Trước đây tôi không nhận ra âm nhạc có thể mở khóa mọi thứ trong ta, có thể đưa ta tới những nơi mà ngay cả người soạn nhạc cũng không lường trước được. Nó để lại dấu chân in hằn trong không khí quanh ta, như thể khi ra về ta mang dư vị của nó theo mình. Một đôi khi, khi chúng tôi ngồi đó giữa khán phòng, tôi đã quên bẵng mất có Will ngồi bên cạnh. 

Chúng tôi dừng xe lại bên ngoài khu nhà phụ. Trước mặt chúng tôi, hiện rõ mồn một phía trên bức tường thành, tòa lâu đài đứng đó, tắm đẫm ánh trăng rằm, lặng lẽ nhìn xuống từ đỉnh đồi.

“Thế cô không thuộc lãnh địa nhạc cổ điển hả.” Tôi nhìn gương chiếu hậu. Will đang mỉm cười. “Chẳng thích nó tẹo nào cả.”

“Rõ rồi.”

“Tôi đặc biệt không thích đoạn gần cuối, khi cây đàn violin tự nó ngân lên lời ca.”

“Tôi biết cô không thích đoạn đó. Thực tình, cô ghét nó quá nên mắt cô đầy lệ.”

Tôi cười nhăn nhở với anh. “Tôi thích nó lắm,” tôi nói. “Tôi không chắc mình sẽ thích mọi loại nhạc cổ điển, nhưng tôi nghĩ âm nhạc hôm nay quả là kỳ diệu.” Tôi xoa mũi. “Cảm ơn. Cảm ơn vì đã đưa tôi đi nghe.”

Chúng tôi ngồi yên lặng, nhìn lên tòa lâu đài. Bình thường vào đêm, nó tắm trong ánh sáng vàng cam của những ngọn đèn lác đác quanh bức tường thành. Nhưng đêm nay, dưới vầng trăng mười sáu, dường như tòa lâu đài ngập một sắc xanh siêu phàm.

“Anh nghĩ người ta đã chơi loại nhạc nào ở đó?” tôi nói. “Chắc họ đã từng nghe loại nhạc nào đó chứ.”

“Tòa lâu đài ấy hả? Nhạc cụ thời trung đại. Đàn luýt, đàn dây. Không phải thứ tôi rành, nhưng tôi có vài thứ có thể cho cô mượn, nếu cô thích. Cô nên nhét tai nghe vào tai rồi dạo bộ quanh lâu đài, nếu cô muốn trải nghiệm vẹn tròn.”

“Không. Tôi chẳng thích tới lâu đài.”

“Luôn là thế đấy, bụt chùa nhà không thiêng.”

Tôi trả lời vu vơ. Chúng tôi ngồi yên lặng một lát lâu hơn, lắng nghe tiếng máy rù rù nhỏ dần rồi im bặt.

“Thôi,” tôi nói, mở khóa an toàn. “Tốt hơn tôi nên đưa anh vào nhà. Công việc cần làm buổi tối đang chờ.”

“Chờ một phút thôi, Clark.”

Tôi quay người trên ghế. Mặt Will chìm trong bóng tối nên tôi không trông ra.

“Cứ ngồi yên. Một phút thôi.”

“Anh ổn không?” Tôi thả mắt xuống chiếc xe lăn, lo sợ rằng phần nào đó trên cơ thể anh bị kẹp, bị mắc kẹt, lo sợ tôi đã làm sai điều gì.

“Tôi ổn. Tôi chỉ…”

Tôi thấy được cổ áo sáng màu của anh, bộ suit đen tương phản với nó.

“Chỉ là tôi chưa muốn vào nhà. Tôi chỉ muốn ngồi và không phải nghĩ về…” Anh nuốt khan.

Dù trong không gian tranh tối tranh sáng, mọi thứ dường như vẫn thật khó nói.

“Tôi chỉ… muốn là một người đàn ông vừa đi nghe nhạc về cùng một cô gái mặc váy đỏ. Chỉ thêm vài phút nữa thôi.”

Tôi buông tay nắm trên cửa xe. “Được mà.”

Tôi nhắm mắt, ngả đầu lên tấm nệm trên thành ghế, và chúng tôi ngồi cùng nhau thêm một lúc thật lâu, hai con người lạc trong hồi ức âm nhạc, gần như ẩn mình dưới bóng của tòa lâu đài trên đồi trăng.

Chị em tôi chưa bao giờ nói chuyện rõ ràng về những gì đã xảy ra trong mê cung đêm đó. Mà thực tình tôi không biết chúng tôi phải nói gì nữa. Nó khẽ đỡ tôi dậy, rồi giúp tôi tìm quần áo, sau đó nỗ lực tuyệt vọng tìm kiếm đôi giày của tôi trong bụi rậm cho tới khi tôi bảo nó đừng bận tâm nữa. Dù sao tôi cũng sẽ chẳng bao giờ đi lại đôi giày ấy. Thế rồi chúng tôi chậm rãi đi về nhà – tôi đi chân trần, nó quàng tay qua tay tôi, dù chúng tôi đã không đi với nhau như thế kể từ ngày nó vào lớp một, và mẹ tôi cứ khăng khăng rằng tôi không bao giờ để nó khoác tay.

Khi về tới nhà, chúng tôi đứng trên thềm, nó vuốt tóc tôi, chùi mắt cho tôi bằng miếng khăn giấy ướt, rồi chúng tôi mở khóa cửa trước và bước vào như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

Bố vẫn còn thức xem bóng đá. “Hai cô con gái về hơi trễ đấy nhé,” ông gọi với ra. “Bố biết hôm nay là thứ Sáu, nhưng mà…”

“Được rồi bố,” chúng tôi đồng thanh đáp to.

Hồi đó, phòng riêng của tôi là phòng mà hiện nay ông ngoại ở. Tôi đi nhanh lên lầu, và trước khi em gái kịp nói gì, tôi đóng cửa lại sau lưng.

Tuần sau đó, tôi cắt phéng tóc. Tôi trả vé máy bay. Tôi không đi chơi với đám bạn gái cùng trường cũ nữa. Mẹ quá chìm đắm trong nỗi buồn đau nên chẳng để ý gì, bố thì gọi sự thay đổi tâm trạng trong nhà và thói quen mới thường xuyên khóa cửa trong phòng riêng của tôi là “vấn đề phụ nữ”. Tôi đã hiểu ra mình là ai, đó là một người hoàn toàn khác cô gái cười khúc khích say xỉn với đám người lạ. Đó là người chẳng biết mặc cái gì có thể gọi là khêu gợi. Dù sao đi nữa, quần áo cũng chẳng phải là thứ lôi cuốn những gã tới nhậu trong quán Red Lion.

Cuộc sống trở lại bình thường. Tôi nhận việc ở hiệu cắt tóc, rồi quán Bánh Bơ, bỏ lại mọi điều phía sau lưng.

Từ ngày ấy tôi đã đi qua tòa lâu đài cả năm ngàn lần. Nhưng tôi không bao giờ đi vào mê cung nữa.

Chương 13

Patrick đứng bên mép đường, giậm chân chạy tại chỗ, chiếc áo thun và quần soóc Nike mới cứng của anh ôm sát vào chân tay bóng nhẫy. Tôi phải ghé qua chào để báo cho anh biết tôi không thể tham dự cuộc gặp của hội Triathlon Terrors tại quán rượu tối mai được. Nathan nghỉ làm nên tôi phải làm thay các công việc buổi tối cho Will.

“Đây là cuộc họp thứ ba mà em vắng mặt rồi.” “Thật thế sao?” Tôi đếm ngón tay. “Chắc đúng rồi.”

“Tuần sau em phải có mặt đấy. Sẽ bàn toàn bộ kế hoạch đi lại cho nhóm Xtreme Viking. Mà em cũng chưa nói với anh em muốn làm gì trong ngày sinh nhật.” Anh bắt đầu thực hiện các động tác co duỗi, nâng chân lên cao rồi ép ngực vào đầu gối. “Đi xem phim nhé? Anh không muốn ăn uống thịnh soạn, vì đợt này anh đang luyện tập.”

“À. Bố mẹ dự định tổ chức một bữa tối rất đặc biệt rồi.” Anh cầm một bên gót chân, hướng đầu gối xuống dưới đất.

Tôi không thể không để ý thấy cái chân đó của anh bắt đầu trở nên gân guốc một cách lạ lùng.

“Đó không phải là một bữa đi nhà hàng ăn tối đúng không?”

“Ôi, thì cũng chẳng phải một buổi xem phim. Nhưng dù sao em vẫn cảm thấy nên như vậy, Patrick. Mẹ đang hơi buồn.”

Treena đã đi từ cuối tuần trước (không thể mang theo chiếc túi du lịch in hình trái chanh của tôi – tôi đã lấy lại cái túi đêm trước hôm nó đi). Mẹ rất đau khổ; lần này thật sự tệ hơn rất nhiều so với lần đầu Treena đi học đại học.

Mẹ nhớ Thomas như rụng cánh tay. Đồ chơi của nó, vốn dĩ vứt đầy trên nền phòng khách trong suốt thời thơ ấu đã được đóng hộp cất đi. Không còn những thanh sôcôla hay hộp sữa nhỏ trong tủ. Bà không còn lý do để tới trường vào lúc ba giờ mười lăm chiều, không còn ai nói chuyện trên quãng đường ngắn ngủi trở về nhà. Trước đây, đó là khoảng thời gian duy nhất mẹ thật sự ra khỏi nhà mỗi ngày. Bây giờ thì mẹ hoàn toàn chẳng đi đâu nữa, ngoại trừ đi siêu thị hằng tuần với bố.

Mẹ dật dờ trong nhà suốt ba ngày trông như mất hồn, rồi mẹ bắt đầu dọn dẹp nhà đầu xuân với sự miệt mài khiến ông ngoại cũng phát hoảng. Ông rên khe khẽ phản đối khi mẹ cố gắng hút bụi dưới chiếc ghế mà ông đang ngồi hay khi gạt chổi trúng vào vai ông. Treena nói nó sẽ không về nhà trong vài tuần đầu tiên để Thomas có thời gian làm quen. Mỗi tối khi nó gọi về, mẹ nói chuyện với mẹ con nó rồi sau đó nằm trên giường khóc trọn nửa giờ đồng hồ.

“Mấy hôm nay em toàn phải làm việc muộn. Anh có cảm giác hầu như không thể gặp được em.”

“Ờ, còn anh thì lúc nào cũng luyện tập. Nhưng mà kiếm được khá tiền Patrick ạ. Em khó mà nói không với việc làm thêm giờ được.”

Anh không thể cãi lại điều đó.

Tôi đang kiếm được nhiều tiền hơn bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời. Tôi đưa cho bố mẹ gấp đôi số tiền trước đây, hằng tháng để một ít vào tài khoản tiết kiệm, thế mà vẫn còn lại số tiền nhiều hơn số tôi cần tiêu. Một phần đó là vì tôi đã làm việc nhiều giờ đến nỗi chẳng bao giờ rời khỏi nhà Granta khi các cửa hiệu còn mở cửa. Một phần khác đơn giản là vì tôi thật sự không có nhu cầu tiêu pha gì nhiều. Những giờ rảnh rỗi có được tôi lên thư viện, tra cứu thông tin trên internet.

Có cả một thế giới sẵn sàng bày ra trước mắt tôi từ chiếc máy tính cá nhân đó, tầng tầng lớp lớp, và nó bắt đầu đem lại những điều đầy thú vị.

Bắt đầu là lá thư cảm ơn. Một vài ngày sau buổi hòa nhạc, tôi nói với Will rằng tôi định viết thư cảm ơn anh bạn nghệ sĩ violin của anh.

“Tôi đã mua một chiếc thiệp rất đẹp trên đường đến đây,” tôi nói. “Anh hãy nói cho tôi biết anh muốn nói gì để tôi viết vào. Tôi cũng mang theo cả một cái bút viết rất đẹp nữa.”

“Tôi không nghĩ vậy,” Will nói. 

“Sao cơ?”

“Cô nghe thấy tôi nói rồi đấy.”

“Anh không nghĩ vậy? Anh ấy đã giúp cho chúng ta ngồi hàng trên. Anh đã nói là thật tuyệt vời mà. Ít ra thì anh cũng có thể cảm ơn anh ấy chứ.”

Quai hàm của Will vẫn bất động, không di chuyển.

Tôi đặt bút xuống. “Hay anh chỉ quen với vệc người ta làm cho anh còn anh thì không cảm thấy mình phải làm gì cho người ta?”

“Cô không hiểu gì đâu Clark, cảm giác tức giận đến mức nào khi phải dựa vào một người khác để viết ra những lời của mình. Cái cụm từ viết thay mặt cho thật… quá nực cười.”

“Thật sao? Rõ ràng là vẫn còn tốt hơn hoàn toàn chẳng nói gì mà,” tôi càu nhàu. “Dù sao tôi cũng sẽ cảm ơn anh ấy. Tôi sẽ không đề cập đến tên anh, nếu anh thật sự muốn làm một thằng tồi trong chuyện này.”

Tôi viết tấm thiệp rồi gửi đi. Tôi không nhắc gì đến chuyện đó nữa. Nhưng tối hôm đó, những lời nói của Will cứ vang lên trong đầu tôi, tôi vùi đầu trong thư viện, tra cứu trên một chiếc máy tính còn trống, tôi truy cập internet. Tôi tìm kiếm xem có loại thiết bị nào Will có thể sử dụng để tự mình viết ra được không. Trong một tiếng đồng hồ tôi tìm ra được ba loại – một loại là nhu liệu nhận biết giọng nói, một loại nhu liệu khác dựa trên cái nháy mắt và, như em gái tôi đã từng đề cập, một loại thiết bị gõ đeo trên đầu.

Tất nhiên anh xem thường chẳng thèm quan tâm đến cái thiết bị gắn vào đầu nhưng thừa nhận rằng nhu liệu nhận biết tiếng nói có thể rất hữu ích, thế nên trong vòng một tuần, cùng với sự giúp đỡ của Nathan, chúng tôi đã nỗ lực cài nhu liệu này vào máy tính của anh, thiết lập cho anh để với chiếc khay đặt máy tính gắn vào xe lăn, anh không còn phải cần đến một ai đó khác đánh máy giúp mình. Ban đầu anh hơi lúng túng, nhưng sau khi tôi hướng dẫn anh để bắt đầu mọi thứ với nó, “Nhận thư này, cô Clark,” anh đã làm được.

Ngay cả bà Traynor cũng không tìm ra lý do gì để phàn nàn. “Nếu có bất kỳ loại thiết bị nào mà cô nghĩ có thể cần thiết,” bà nói, hai môi vẫn mím lại giống như thể bà không tin nó là một thứ thật sự tốt, “hãy nói cho chúng tôi biết.” Bà nhìn Will một cách căng thẳng như thể anh sắp vặn món đồ đó ra bằng quai hàm đến nơi.

Ba ngày sau đó, đúng lúc tôi chuẩn bị đi làm, người đưa thư trao cho tôi một lá thư. Tôi mở thư trên xe buýt, nghĩ rằng nó có thể là một tấm thiệp mừng sinh nhật sớm của một người họ hàng nào đó ở xa. Thư được viết bằng chữ đánh máy:

Gửi cô Clark,

Thư này để cho cô thấy rằng tôi không hẳn là một thằng tồi ích kỷ. Và tôi thật sự đánh giá cao nỗ lực của cô.

Cảm ơn. 

Will

Tôi cười lớn tới nỗi bác tài xế xe buýt phải hỏi xem có phải tôi trúng số không.

Sau những năm sống trong cái gác lửng, quần áo phải treo trên một thanh ngang ở bên ngoài hành lang, căn phòng của Treena mang lại cảm giác như một cung điện. Đêm đầu tiên ở trong căn phòng đó, tôi đã dang rộng tay quay vòng quanh chỉ để hưởng cảm giác sung sướng khi không thể chạm cả hai bức tường cùng một lúc. Tôi mua sơn và rèm cửa mới, cùng với một chiếc đèn ngủ và vài cái giá mà tôi thấy hợp với mình. Không phải bởi vì tôi giỏi những công việc này; tôi nghĩ chỉ là tôi muốn xem liệu tôi có thể làm được không.

Tôi bắt tay vào trang trí lại, quét sơn mỗi buổi tối một tiếng đồng hồ khi trở về nhà sau giờ làm việc và đến cuối tuần ngay cả bố tôi cũng phải công nhận tôi đã làm thực sự rất tốt. Ông nhìn chằm chằm một lúc vào những đường sơn tôi quét, chỉ vào những tấm rèm mà tôi đã tự treo và đặt tay lên vai tôi. “Con làm việc này giỏi lắm, Lou.”

Tôi mua một chiếc chăn lông vịt mới, một tấm thảm và vài chiếc gối ôm ngoại cỡ – đề phòng trường hợp có ai đó ghé qua phòng và muốn dựa người. Nói vậy không có nghĩa có người nào muốn ghé phòng tôi. Cuốn lịch được treo ở phía sau cánh cửa mới. Không ai nhìn thấy nó ngoại trừ tôi. Dù sao chẳng có ai khác có thể hiểu được ý nghĩa của nó.

Tôi cảm thấy mình hơi tệ vì sự thật là một khi đã đặt chiếc giường xếp của Thomas bên cạnh giường của Treena trên căn gác lửng thì sẽ chẳng còn chút không gian nào nữa, nhưng rồi tôi tự giải thích – mẹ con nó thực ra đâu còn sống ở đây. Và gác lửng cũng chỉ là nơi để ngủ thôi. Chẳng có lý do gì để trống căn phòng rộng rãi này suốt cả tuần.

Hằng ngày đi làm tôi vẫn nghĩ về những nơi khác nữa mà tôi có thể đưa Will đến. Tôi chưa có một kế hoạch lớn nào, tôi chỉ tập trung vào việc mỗi ngày đưa anh ra khỏi nhà đi loanh quanh và cố gắng làm anh cảm thấy hạnh phúc. Cũng có những ngày – những ngày khi mà tay chân anh đau đớn hoặc khi những vết thương nhiễm trùng, anh nằm sốt khốn khổ trên giường – khó khăn hơn những ngày khác. Nhưng trong những ngày khả quan hơn tôi cố gắng đưa anh ra ngoài ngắm ánh nắng mùa xuân nhiều lần. Tôi biết giờ đây một trong những điều mà Will ghét nhất là sự thương hại của người lạ, vậy nên tôi chở anh đến những cảnh đẹp trong vùng, nơi mà có những khi trong khoảng chừng một tiếng đồng hồ chỉ có hai chúng tôi. Tôi tạo ra những cuộc picnic để chúng tôi được ngồi ngoài trời, bên rìa những cánh đồng, chỉ để hưởng những làn gió mát và rời xa khu nhà phụ.

“Bạn trai tôi muốn gặp anh,” tôi nói với anh vào một buổi chiều khi đang cắt nhỏ những mẩu pho mát và sandwich nhân dưa leo muối cho anh.

Tôi đã lái xe nhiều dặm ra ngoài thị trấn, lên một ngọn đồi, từ đó chúng tôi có thể nhìn thấy tòa lâu đài ở bên kia, cách chúng tôi những cánh đồng chăn cừu.

“Tại sao?”

“Anh ấy muốn biết tôi đang ở cùng ai vào tất cả những buổi tối muộn.” Thật lạ lùng, tôi có thể thấy anh cảm nhận điều này khá thú vị.

“Ông Chạy.”

“Tôi nghĩ bố mẹ tôi cũng muốn.”

“Tôi thấy căng thẳng khi có một cô gái nói cô ấy muốn tôi gặp bố mẹ cô ấy đấy nhé. Nhưng mà mẹ cô dạo này thế nào?”

“Vẫn thế.”

“Công việc của bố cô thì sao? Có gì mới không?”

“Không. Tuần sau có tin, hiện giờ họ trả lời với ông ấy như vậy. Dù sao bố mẹ tôi vẫn hỏi tôi có muốn mời anh đến tham dự tiệc sinh nhật tôi vào tối thứ Sáu không? Mọi người đều rất thoải mái. Chỉ có gia đình thôi. Nhưng tốt rồi… tôi nói là anh sẽ không muốn đến đâu.”

“Ai bảo tôi sẽ không muốn đến?”

“Anh ghét người lạ. Anh không thích ăn trước mặt mọi người. Anh cũng không ưa gì bạn trai của tôi. Chẳng cần suy nghĩ nhiều tôi cũng biết rồi.”

Giờ đây tôi đã hiểu được Will. Cách tốt nhất để khiến Will làm một việc gì đó là nói với anh rằng tôi biết anh không muốn làm việc ấy đâu. Phần tính cách bướng bỉnh, chống đối trong anh sẽ không chịu được điều đó.

Will suy nghĩ một lát. “Không. Tôi sẽ đến dự sinh nhật cô. Phải cho mẹ cô điều gì đó để quan tâm chứ, nếu bà không còn mối quan tâm nào khác nữa.”

“Thật chứ? Ôi Chúa ơi, nếu tôi nói ra mẹ sẽ bắt đầu đánh chùi lau dọn từ đêm nay cho coi.”

“Cô có chắc đó là mẹ đẻ của cô không đấy? Chẳng phải là mẹ con thì phải có tí giống nhau di truyền nào sao? Cho miếng sandwich nữa đi cô Clark. Thêm một ít dưa leo muối nhé.”

Chỉ một nửa trong câu nói của tôi là đùa. Mẹ tôi vô cùng bối rối với ý nghĩ phải tiếp một vị khách bị liệt tứ chi. Bà đưa tay ôm lấy mặt rồi bắt đầu sắp xếp lại đồ đạc trên tủ như thể anh sẽ đến ngay trong vòng vài phút sau khi tôi nói với bà.

“Nhưng phải làm thế nào nếu cậu ấy muốn đi vệ sinh? Nhà mình làm gì có phòng tắm ở tầng trệt. Mẹ không nghĩ là một mình bố có thể bưng được cậu ấy lên lầu đâu. Mẹ có thể giúp… nhưng mẹ hơi lo không biết đặt tay vào chỗ nào. Patrick làm việc đó được không?”

“Mẹ không cần phải lo lắng về những việc như vậy đâu. Thật đấy.”

“Thế còn thức ăn cho cậu ấy? Cậu ấy có cần những món nghiền không? Có món gì cậu ấy không ăn được không?”

“Không, anh ấy chỉ cần đút thức ăn thôi.” “Ai làm việc đó?”

“Con làm. Thoải mái đi mẹ. Anh ấy rất dễ thương. Mẹ sẽ thích anh ấy.”

Và mọi thứ đã được sắp xếp xong. Nathan đưa Will lên xe, chở anh đến rồi quay lại đón anh sau hai tiếng và tiếp tục công việc hằng đêm. Tôi đã đề nghị để tôi làm, nhưng cả hai người khăng khăng tôi nên “thảnh thơi hoàn toàn” trong ngày sinh nhật của mình. Họ rõ ràng là chưa hiểu gì về bố mẹ tôi.

Đúng chính xác bảy giờ ba mươi phút tối, tôi mở của chính để đón Will và Nathan ở ngoài cổng trước. Will mặc áo sơ-mi và veston lịch sự. Tôi không biết nên vui vì anh đã rất nỗ lực hay nên lo lắng vì mẹ tôi sẽ phải trải qua hai giờ đồng hồ đầu tiên của buổi tối băn khoăn không biết bà ăn mặc đủ lịch sự chưa.

“Chào anh,”

Bố chạy vội ra đường ngay sau tôi. “Aha. Các anh xem đường trượt này đã ổn chưa?” Bố đã hì hục suốt cả buổi chiều để làm tấm ván trượt nhỏ cho bậc tam cấp bên ngoài.

Nathan cẩn thận điều chỉnh chiếc xe lăn của Will lên con đường vào chật hẹp của nhà tôi. “Tốt lắm,” Nathan nói khi tôi khép cửa nhà lại sau lưng ông. “Rất tốt. Tôi thấy mấy đường trượt trong bệnh viện đâu có được như vầy.”

“Bernard Clark.” Bố đưa tay ra bắt tay Nathan. Ông đưa tay về phía Will rồi vội rút lại với một thoáng giật mình bối rối. “Ber… nard. Xin lỗi, ừm… tôi không biết làm thế nào để chào một… tôi không thể bắt tay cậu…” Ông bắt đầu nói lắp bắp.

“Một cái cúi chào là tốt rồi.”

Bố tôi nhìn anh chằm chằm rồi sau đó khi nhận ra Will nói đùa, ông cười to đầy nhẹ nhõm. “Haha!” ông vừa nói vừa vỗ vỗ lên vai Will. “Phải, phải. Cúi đầu chào. Ý hay lắm. Haha!”

Chuyện đó phá tan không khí lạnh lẽo. Nathan rời nhà tôi với một cái vẫy tay chào và nháy mắt, sau đó tôi đẩy Will xuống gian bếp. Mẹ tôi, thật may mắn làm sao, đang bưng một nồi thức ăn nên bà tránh được tình huống bối rối tương tự.

“Mẹ, đây là Will. Will, mẹ tôi Josephine.”

“Hãy gọi tôi là Josie.” Bà tươi cười nhìn Will, đôi găng tay nhắc nồi dài lên tận khuỷu. “Thật vui khi cuối cùng cũng được gặp cậu, Will.”

“Rất vui được gặp bác,” anh nói. “Đừng để cháu làm bác gián đoạn.”

Bà đặt chiếc nồi xuống rồi đưa tay vuốt tóc, một hành động quen thuộc của mẹ tôi. Mỗi khi bối rối bà không thể nhớ nổi phải bỏ găng tay ra trước đã.

“Xin lỗi,” bà nói. “Món nướng. Mọi thứ phải làm đúng giờ, cậu biết rồi đấy.”

“Cháu không rõ lắm đâu,” Will nói. “Cháu không biết nấu ăn. Nhưng cháu rất thích các món ngon. Đó là lý do vì sao cháu rất chờ tối nay.”

“Thế…” bố tôi mở cửa tủ lạnh. “Chúng ta phải làm thế nào được nhỉ? Cậu có chiếc… cốc uống bia đặc biệt nào không, Will?”

Tôi nói với Will, nếu phải trường hợp bố, ông sẽ kiếm một chiếc cốc uống bia phù hợp trước khi kiếm xe lăn.

“Phải hưởng quyền ưu tiên của ta chứ,” bố nói. 

Tôi tìm được trong túi xách của Will chiếc cốc bê-se của anh.

“Bia sẽ rất tuyệt. Cảm ơn bác.”

Anh uống một ngụm còn tôi đứng trong gian bếp, đột nhiên để ý đến căn nhà bé nhỏ tồi tàn của chúng tôi với những tờ giấy dán tường từ thập niên 80 và những chiếc tủ bếp sứt mẻ. Nhà Will được lắp đặt nội thất sang trọng, không gian rộng rãi và đẹp mắt. Nhà chúng tôi trông giống như 90 phần trăm đồ đạc được lấy ra từ cửa hàng từ thiện trong thị trấn. Những tấm tranh vẽ quăn queo của Thomas dán đầy mọi khoảng trống trên bức tường. Không biết có để ý không, nhưng Will chẳng nói gì. Anh và bố tôi đã nhanh chóng tìm thấy một chuyện quan tâm chung đó là sự vô tích sự của tôi. Tôi không phật lòng. Câu chuyện đó làm cả hai người thích thú.

“Cậu biết không, nó đã từng lùi xe đâm phải cọc buộc thuyền và thề rằng đó là lỗi của cái cọc…”

“Bác phải xem cô ấy hạ tấm ván trượt cho cháu ấy. Đôi khi thật chẳng khác gì người ta trượt tuyết từ xe hơi ra vậy…”

Bố tôi cười phá lên.

Tôi để mặc hai người với câu chuyện đó. Mẹ theo tôi ra ngoài vẻ bực bội. Bà đặt một khay đựng cốc lên bàn ăn rồi nhìn đồng hồ chằm chằm. “Patrick đâu rồi?”

“Anh ấy sẽ đến thẳng đây từ chỗ luyện tập,” tôi nói. “Có lẽ anh ấy bị kẹt xe.” “Nó không thể nghỉ một hôm vào sinh nhật con được à? Món gà sẽ hỏng mất nếu nó còn đến muộn nữa.” “Mẹ à, sẽ ổn thôi mà.”

Tôi chờ mẹ đặt khay cốc xuống rồi vòng tay ôm bà. Người mẹ đang gồng lên vì lo lắng. Tôi đột nhiên cảm thấy trỗi lên lòng cảm thương với mẹ. Cuộc sống của mẹ tôi thật chẳng dễ dàng gì.

“Ừ phải. Sẽ ổn thôi.”

Mẹ buông tôi ra, hôn lên đầu tôi rồi cọ hai bàn tay vào tạp dề. “Mẹ ước gì có em gái con ở đây. Thật buồn khi lễ sinh nhật mà không có nó.”

Với tôi thì không có nó chẳng sao hết. Chỉ một lần thôi, tôi được hưởng trọn vẹn cảm giác làm trung tâm của sự chú ý. Nghe quá trẻ con nhưng đó lại là sự thật. Tôi hạnh phúc khi Will và bố cười đùa về chuyện của tôi. Tôi hạnh phúc vì tất cả các món ăn của bữa tối – từ món gà rán đến kem sô-cô-la – đều là món yêu thích của tôi. Tôi thích cảm giác mình có thể làm con người mình muốn mà không có giọng nói của cô em gái gợi nhắc rằng tôi đã như thế nào.

Chuông cửa vang lên, mẹ tôi vỗ vỗ hai tay. “Cậu ấy đến đây rồi. Lou, sao con không bắt đầu dọn bàn ăn đi?”

Patrick mặt vẫn còn đỏ bừng vì những nỗ lực trên đường tập. “Chúc mừng sinh nhật, em yêu,” anh nói, cúi người hôn tôi. Anh toát ra mùi nước hoa cạo râu, lăn khử mùi và hương thơm ấm áp của làn da mới tắm xong.

“Tốt nhất là anh nên đi vào luôn đi.” Tôi hất đầu về phía phòng khách. “Mẹ sắp hết kiên nhẫn với chuyện thời gian rồi đấy.”

“Ồ.” Anh nhìn xuống đồng hồ. “Xin lỗi. Chắc quên để ý thời gian.” “Dù sao thì cũng không phải thời gian của anh, nhỉ?”

“Sao cơ?”

“Chẳng có gì.”

Bố đưa chiếc bàn xếp lớn ra phòng khách. Dưới sự hướng dẫn của tôi, bố cũng kéo một trong những chiếc sofa áp sang bức tường khác để Will có thể vào phòng mà không gặp trở ngại nào. Anh điều khiển xe lăn vào vị trí mà tôi đã chỉ rồi tự nâng xe lên một chút để có chiều cao ngang với tất cả mọi người. Tôi ngồi phía bên trái anh còn Patrick ngồi đối diện. Anh và Will và ông ngoại gật đầu chào nhau. Tôi đã nhắc nhở Patrick từ trước là không được bắt tay. Dù đã ngồi xuống, tôi vẫn có thể cảm thấy Will đang dò xét Patrick và tôi thoáng băn khoăn tự hỏi không biết anh có cuốn hút được bạn trai tôi giống như anh đã tạo được với bố mẹ tôi không.

Will quay đầu về phía tôi. “Nếu cô tìm ở phía sau lưng xe, sẽ có một thứ nho nhỏ cho bữa tối đấy.”

Tôi dựa người ra sau và với tay vào chiếc túi của anh. Tôi ngồi thẳng lại, lấy ra một chai sâm-banh Laurent-Perrier.

“Cô luôn phải có sâm-banh trong ngày sinh nhật của mình đấy nhé,” anh nói. “Ôi, xem kìa,” mẹ thốt lên khi bưng những đĩa thức ăn vào. “Tuyệt quá! Nhưng chúng ta không có ly uống sâm-banh.”

“Những chiếc ly này là được rồi ạ,” Will nói.

“Để tôi mở.” Patrick với tay lấy chai rượu, tháo dây sắt quanh cổ chai rồi đặt hai ngón tay cái bên dưới nút chai. Anh vẫn liên tục liếc về phía Will như thể anh chẳng chờ đợi sự có mặt của Will chút nào.

“Nếu anh làm như thế,” Will nói, “nó sẽ tóe ra khắp nơi đấy.” Anh nâng cánh tay lên được khoảng vài phân, làm một cử chỉ mơ hồ. “Tôi thấy nên giữ chiếc nút rồi quay quay chai rượu xem ra sẽ an toàn hơn.”

“Phải có ai đó biết cách mở chai sâm-banh này chứ,” bố nói. “Cháu làm đi, Patrick. Cậu nói gì nhỉ, quay quay cái chai đúng không? Ai biết cách làm?”

“Cháu biết,” Patrick nói. “Cháu đã định làm như vậy mà.”

Chai sâm-banh nổ bốp và phun lên một cách an toàn, buổi sinh nhật của tôi được nâng cốc chúc mừng.

Ông ngoại gọi to lên một tiếng gì đó nghe như là, “Nghe nào, nghe nào.”

Tôi đứng dậy cúi đầu. Tôi đang mặc chiếc váy chữ A màu vàng của thập niên 1960 kiếm được ở cửa hàng từ thiện. Cô bán hàng cho rằng nó có thể là đồ của hãng Biba tuy nhiên mác váy đã bị cắt.

“Chúc cho năm nay cuối cùng Lou của chúng ta cũng trưởng thành,” bố nói. “Tôi muốn nói là làm được điều gì đó với cuộc đời của nó nhưng hình như sau cùng nó đã làm rồi. Tôi phải nói với cậu, Will ạ, kể từ khi làm việc cho cậu nó đã – phải, nó đã thật sự thoát ra được khỏi chính mình.”

“Hai chúng tôi rất tự hào,” mẹ nói. “Và biết ơn. Tới cậu. Vì đã tuyển nó, ý tôi là vậy.”

“Cháu phải biết ơn mới phải chứ ạ,” Will nói. Anh liếc về phía tôi. “Chúc mừng Lou,” bố nói. “Chúc con tiếp tục thành công.”

“Chúc cả những thành viên gia đình vắng mặt,” mẹ nói.

“Ôi trời ơi,” tôi nói. “Con phải tổ chức sinh nhật thường xuyên hơn mới được. Hầu như ngày nào tất cả mọi người cũng chỉ biết mắng mỏ con thôi.”

Mọi người bắt đầu nói chuyện, bố kể cho mọi người nghe vài câu chuyện khác nữa về tôi làm cả bố và mẹ cười rất to. Thật vui khi được nhìn bố mẹ cười. Mấy tuần vừa rồi trông bố đã rất suy sụp còn mẹ thì hai mắt trũng sâu và thẫn thờ giống như đang ở một nơi nào khác. Tôi muốn hưởng thụ những giây phút này khi bố mẹ thoáng quên đi những nỗi niềm của mình, được chia sẻ những chuyện đùa vui và tình thương mến gia đình. Trong một lát tôi nhận ra tôi sẽ không chút phiền lòng nếu Thomas có mặt ở đây. Hay cả Treena nữa.

Tôi đã quá chìm vào ý nghĩ của mình đến nỗi phải mất cả phút đồng hồ mới nhận ra cảm xúc của Patrick. Tôi đang đút cho Will ăn trong lúc nói chuyện với ông ngoại, nhón một miếng cá hồi xông khói đặt vào miệng Will. Giờ đây đó là một phần vô thức trong cuộc sống thường nhật của tôi, thế nên tôi chỉ giật mình nghĩ tới cử chỉ gần gũi đó khi tôi nhìn thấy vẻ kinh ngạc trên gương mặt Patrick.

Will đang nói chuyện gì đó với bố, còn tôi nhìn chằm chằm vào Patrick, hy vọng anh sẽ dừng lại. Bên tay trái anh, ông ngoại ăn từng miếng trên đĩa rất thích thú, phát ra những tiếng nhai mà gia đình tôi vẫn gọi là “tiếng kêu của thức ăn” – những tiếng rột roạt và chóp chép khe khẽ vui tai.

“Món cá hồi ngon lắm,” Will nói với mẹ tôi. “Mùi vị rất tuyệt vời.”

“Vậy à, đây không phải là món ăn mà gia đình tôi có thể ăn hằng ngày đâu,” mẹ tôi mỉm cười nói. “Nhưng tôi rất muốn ngày hôm nay thật đặc biệt.”

Thôi nhìn đi, tôi âm thầm ra hiệu cho Patrick.

Sau cùng, anh nhìn vào mắt tôi rồi quay đi. Trông anh rất tức giận.

Tôi đút cho Will một miếng nữa rồi thêm một ít bánh mì khi tôi thấy anh liếc nhìn mẩu bánh. Trong giây phút đó tôi nhận ra mình đã nắm bắt được toàn bộ nhu cầu của Will đến mức tôi hầu như không cần nhìn mà vẫn biết được anh muốn gì. Patrick, ngồi đối diện, đang cúi đầu ăn, cắt cá hồi xông khói thành những miếng nhỏ rồi xiên chúng bằng dĩa. Anh trừ miếng bánh mì lại.

“Anh Patrick,” Will nói, có lẽ anh cảm nhận được sự không thoải mái của tôi. “Louisa nói với tôi anh là một người luyện tập chuyên nghiệp. Anh làm những gì?”

Tôi mong ước làm sao anh đừng hỏi câu đó. Patrick bắt đầu bài diễn văn quảng cáo bất tận của anh, về chuyện vận động cơ thể, rồi chuyện một cơ thể khỏe mạnh sẽ tạo ra một trí tuệ khỏe mạnh như thế nào. Rồi sau đó anh chuyển sang lịch luyện tập của anh cho nhóm Xtreme Viking – nhiệt độ của vùng Biển Bắc, tỉ lệ mỡ trong cơ thể thích hợp cho chạy marathon, những thời gian thích hợp nhất cho từng phương pháp luyện tập.

Tôi thường làm ngơ trước chủ đề này nhưng bây giờ, có Will ngồi bên cạnh, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là chủ đề ấy không thích hợp đến mức nào. Tại sao anh không thể chỉ nói sơ sơ rồi bỏ qua chủ đề đó?

“Sự thật lúc Lou nói với tôi anh đến đây, tôi đã nghĩ tôi nên đọc qua mấy cuốn sách của tôi để xem coi có phương pháp vật lý trị liệu nào tôi có thể giới thiệu cho anh không.”

Tôi sặc rượu sâm-banh. “Đó là việc chuyên môn, Patrick. Em không chắc anh hiểu rõ được đâu.”

“Anh có thể làm chuyên gia mà. Anh đã gặp những chấn thương trong thể thao. Và đã được huấn luyện về trị thương.”

“Đây không phải là việc trẹo mắt cá chân, Pat. Không phải.”

“Có một người tôi đã làm việc cùng vài năm trước có khách hàng bị liệt hai chân. Anh ấy nói là bây giờ ông ta đã hoàn toàn bình phục. Có thể tham gia cuộc thi ba môn phối hợp và làm mọi việc.”

“Tuyệt thế,” mẹ tôi nói.

“Anh ấy chỉ cho tôi nghiên cứu mới này ở Canada cho rằng cơ bắp cũng có thể luyện tập để hồi nhớ lại những hoạt động trước đây. Nếu anh khiến chúng hoạt động đầy đủ, hằng ngày, thì cũng sẽ giống như một khớp thần kinh – có thể hồi phục được. Tôi cá với anh là nếu chúng ta chuẩn bị cho anh một chế độ luyện tập thật sự tốt, anh có thể thấy khác biệt trong việc gợi nhớ hoạt động của cơ bắp. Rốt cuộc, Lou cũng có nói với tôi trước đây anh đúng là một người đàn ông hành động mà.”

“Patrick,” tôi nói to lên. “Anh đâu có biết gì về chuyện này.” “Anh chỉ cố gắng để…”

“Thôi không cần. Thật đấy.”

Cả bàn ăn rơi vào im lặng. Bố tôi ho một tiếng rồi xin lỗi mọi người. Ông ngoại nhìn xung quanh bàn với sự im lặng đầy cảnh giác.

Mẹ làm bộ mời mọi người ăn thêm bánh mì rồi sau đó lại thôi.

Khi Patrick cất tiếng trở lại, có một thoáng ân hận mơ hồ trong giọng nói của anh. “Đó chỉ là nghiên cứu mà tôi nghĩ có thể sẽ có ích. Nhưng tôi sẽ không nói thêm gì nữa.”

Will ngước lên mỉm cười, gương mặt anh không cảm xúc, rất lịch sự. “Tôi chắc chắc sẽ lưu ý điều này.”

Tôi đứng dậy để dọn những chiếc đĩa, muốn thoát ra khỏi bàn ăn. Nhưng mẹ quát tôi, bắt phải ngồi xuống.

“Con là chủ buổi lễ sinh nhật,” bà nói như thể bà chịu để cho ai đó khác nhúng tay vào việc gì không bằng. “Bernard. Sao anh không vào mang món gà ra nhỉ?”

“Ha ha. Hy vọng là nó không còn bay phành phạch vòng quanh nữa nhỉ?” Bố mỉm cười, hàm răng nhe ra thành một nụ cười nhăn nhở.

Phần còn lại của bữa ăn trôi qua mà không gặp rắc rối nào. Tôi có thể nhận thấy bố mẹ tôi đã hoàn toàn bị Will chinh phục. Patrick thì không. Anh và Will hầu như không nói với nhau thêm câu nào. Vào khoảng lúc mẹ đem món khoai tây nướng ra – bố đang làm trò quen thuộc là cố gắng chôm thêm ít miếng – tôi đã thôi lo lắng. Bố hỏi Will đủ thứ chuyện trên đời, về cuộc sống của anh trước đây, thậm chí cả về vụ tai nạn và anh dường như rất thoải mái trả lời thẳng thắn. Thực sự tôi đã biết được thêm khá nhiều điều mà anh không bao giờ nói với tôi. Ví như công việc của anh dường như hết sức quan trọng, dù anh đã nói giảm bớt đi. Anh mua bán các công ty và đảm bảo tạo ra lợi nhuận trong khi mua bán. Bố phải ép anh mới nói ra mức lợi nhuận lên tới sáu, bảy chữ số. Tôi nhìn Will chằm chằm, cố dung hòa con người mà tôi biết với thương nhân thành thị ghê gớm mà anh đang mô tả. Bố nói với anh về công ty sắp thâu tóm xưởng đồ gỗ gia dụng, khi bố nói tên của công ty đó Will đã gật đầu đầy vẻ thông cảm và nói vâng, anh có biết những công ty đó. Vâng, anh lẽ ra có thể cũng đã nhảy vào vụ đó. Qua cách anh nói thì dường như không có chút hy vọng nào cho công việc của bố tôi.

Mẹ chỉ thủ thỉ với Will và vô cùng quan tâm tới anh. Khi nhìn nụ cười của bà, tôi nhận ra, từ một lúc nào đó trong bữa ăn này anh đã trở thành chàng thanh niên hấp dẫn trước mắt mẹ tôi. Chẳng có gì lạ khi Patrick rất tức giận.

“Bánh sinh nhật đâu rồi?” ông ngoại hỏi khi mẹ bắt đầu dọn chén đĩa.

Câu hỏi đó thật bất ngờ và đáng ngạc nhiên, thế nên bố con tôi nhìn nhau sửng sốt. Cả bàn ăn rơi vào im lặng.

“Không có,” tôi chạy vòng qua bàn tới hôn ông. “Không có ông ạ. Cháu xin lỗi. Nhưng có kem sô-cô-la. Ông thích món này mà.”

Ông gật đầu đồng ý. Mẹ nở nụ cười rạng rỡ. Tôi không nghĩ có ai trong chúng tôi có thể có được một món quà ý nghĩa hơn nữa.

Kem sô-cô-la được đưa ra bàn cùng với một hộp quà lớn, vuông vắn, có kích cỡ khoảng bằng một cuốn danh bạ điện thoại, bọc trong giấy gói quà.

“Đến lúc mở quà rồi, phải không?” Patrick nói. “Đây. Đây là quà của anh.” Anh mỉm cười với tôi rồi đặt nó vào giữa bàn.

Tôi mỉm cười lại với anh. Xét cho cùng đây không phải lúc để tranh cãi. “Tiếp tục đi nào,” bố nói. “Mở quà đi.”

Tôi mở quà của bố mẹ trước tiên, tôi bóc lớp giấy bọc thật cẩn thận để không làm rách nó. Đó là một cuốn album ảnh mà trên mỗi trang có một tấm hình của mỗi năm trong cuộc đời tôi. Tôi lúc sơ sinh; tôi và Treena khi còn là những cô bé tiểu học mũm mĩm; tôi trong ngày đầu tại trường trung học, những chiếc kẹp tóc và chiếc váy rộng thùng thình. Gần đây hơn có một tấm hình của tôi và Patrick, thật tình trước khi chụp tấm hình đó tôi vừa nói anh cút đi. Và tôi, trong chiếc váy màu xám, ngày đầu tiên làm công việc mới. Ở giữa những trang ảnh đó là những tấm hình của gia đình tôi do Thomas chụp, những lá thư mẹ còn giữ từ những chuyến dã ngoại của trường học, những bản viết tay của tôi lúc còn bé kể về những ngày đi tắm biển, làm rơi những chiếc kem bị lũ mòng biển chôm mất. Tôi giở lướt qua và chỉ dừng lại một thoáng khi tôi nhìn thấy cô gái với mái tóc đen dài, thổi bồng phía sau. Tôi lật sang trang sau.

“Tôi có thể xem được không?” Will nói.

“Đây không phải là… năm tốt nhất,” mẹ tôi nói với anh khi tôi lật giở từng trang ảnh cho anh xem. “Ý mẹ là, chúng ta vẫn ổn cả. Nhưng, con biết đấy, mọi việc đã diễn ra như thế. Tuy nhiên ông ngoại con đã xem chương trình gì đó trên truyền hình về chuyện tự làm quà tặng, mẹ nghĩ đây là một thứ có thể… con biết đấy… thật sự có một ý nghĩa.”

“Nó rất ý nghĩa mà mẹ.” Mắt tôi rưng rưng. “Con thích lắm. Cảm ơn bố mẹ.” “Ông đã chọn một số tấm hình trong đó đấy,” mẹ nói.

“Rất đẹp bác ạ,” Will nói. 

“Con thích lắm,” tôi nói lại.

Ánh nhìn nhẹ nhõm như trút được mọi gánh nặng mà bố mẹ trao nhau là điều buồn bã nhất mà tôi từng thấy.

“Đến quà của anh nhé.” Patrick đẩy chiếc hộp nhỏ qua bàn. Tôi mở thật chậm, cảm thấy mơ hồ lo sợ khi mở ra nó sẽ là một chiếc nhẫn đính hôn. Tôi chưa sẵn sàng. Tôi chẳng mấy khi nghĩ được gì xa hơn việc có cho riêng mình một gian phòng ngủ. Tôi mở chiếc hộp nhỏ, và đây, nổi trên nền nhung xanh thẫm là một sợi dây chuyền vàng mỏng với mặt hình sao nhỏ xíu. Nó thật ngọt ngào, thanh nhã và chẳng có gì quen thuộc đối với tôi. Tôi không đeo loại trang sức đó, chưa bao giờ.

Tôi dừng đôi mắt lại trên món quà trong lúc cố nghĩ ra câu gì để nói. “Dễ thương quá,” tôi nói khi anh vươn người qua bàn và đeo vào cổ tôi.

“Thật vui vì em thích nó,” Patrick nói khi hôn vào môi tôi. Tôi thề trước đây anh chưa bao giờ hôn tôi như vậy trước mặt bố mẹ tôi.

Will nhìn tôi, gương mặt không cảm xúc.

“Rồi, bây giờ bố nghĩ chúng ta ăn kem sô-cô-la được rồi,” bố nói. “Trước khi nó bị nóng quá.” Bố cười to với câu đùa của chính mình. Rượu sâm-banh đã làm tinh thần bố phấn chấn lên không tả nổi.

“Tôi cũng có quà cho cô ở trong túi,” Will khẽ nói. “Túi treo sau xe tôi. Bọc giấy màu cam.”

Tôi lấy món quà ra khỏi túi Will.

Mẹ tôi ngưng lại, thìa kem nằm im trên tay bà.

“Cậu cũng mang quà cho Lou nữa hả Will? Cậu thật tốt quá. Cậu ấy thật tử tế đúng không Bernard?”

“Đúng như vậy.”

Tờ giấy gói quà có màu sắc rực rỡ như bộ váy truyền thống của người Trung Quốc. Tôi chẳng cần phải nhìn nó cũng biết rằng tôi sẽ giữ nó lại. Có thể thậm chí còn phải dùng nó để may cái gì đó mặc được nữa. Tôi tháo dây ruy băng, đặt sang một bên để sử dụng lần sau. Tôi mở giấy bọc rồi giấy lót trong đó, và đây, đập vào mắt tôi là hai đường sọc vàng đen quen thuộc một cách lạ lùng.

Tôi lôi miếng vải từ trong hộp ra và trong tay tôi là hai chiếc quần bó sọc vàng đen. Cỡ người lớn, óng ả, bằng chất len mềm đến nỗi chúng gần như trượt khỏi các ngón tay tôi.

“Không thể tin nổi,” tôi nói. Tôi bắt đầu cười lớn – một tiếng cười đầy vui sướng, món quà ngoài mong đợi. “Ôi Chúa ơi! Anh đã mua ở đâu ra vậy?”

“Tôi đã đặt làm đấy. Cô sẽ rất vui khi biết là tôi đã mô tả sản phẩm cho người ta qua nhu liệu nhận dạng giọng nói mới tinh của tôi.”

“Quần bó?” Bố và Patrick đồng thanh nói. “Những chiếc quần bó tuyệt vời nhất trên đời.”

Mẹ nhìn chúng chằm chằm. “Con biết không, Louisa, mẹ nhớ chắc chắn là con đã từng có một đôi đúng y như thế này hồi con còn bé tí.”

Will và tôi trao cho nhau một cái nhìn.

Tôi không thể thôi cảm thấy vui sướng. “Để tôi mặc thử nó luôn nhé,” tôi nói.

“Chúa Jesus ơi, nó sẽ trông giống Max Wall chui trong một cái tổ ong,” bố tôi nói, lắc lắc đầu.

“Này anh Bernard, đây là sinh nhật con. Chắc chắn nó có thể mặc thứ gì nó muốn.”

Tôi chạy ra ngoài sảnh và mặc một chiếc quần bó vào. Tôi nhón chân, thích thú trước sự ngộ nghĩnh của chiếc quần. Tôi chưa bao giờ nghĩ một món quà có thể làm tôi hạnh phúc đến mức như vậy trong suốt cuộc đời mình.

Tôi quay trở lại phòng khách. Will reo lên một tiếng hoan hô khe khẽ. Ông ngoại đập mạnh hai tay xuống bàn. Bố mẹ tôi cười vang lên. Patrick chỉ nhìn chằm chằm.

“Tôi thậm chí không biết làm sao để nói với anh tôi thích những chiếc quần này đến mức nào,” tôi nói, “Cảm ơn. Cảm ơn anh.” Tôi đưa tay ra và chạm vào vai anh. “Rất thật lòng.”

“Có một tấm thiệp trong đó nữa,” anh nói. “Lúc khác hãy mở.” Bố mẹ tôi săn sóc Will rất ân cần khi anh ra về.

Bố trong lúc đã say, cứ cảm ơn anh mãi vì đã tuyển tôi và bắt anh phải hứa sẽ quay lại nhà chơi. “Nếu tôi mà mất việc, có thể một ngày nào đó tôi sẽ đến xem bóng đá với cậu,” bố nói.

“Cháu mong như vậy,” Will trả lời, mặc dù tôi chưa bao giờ thấy anh xem bóng đá.

Mẹ tôi cố ép anh lấy một ít kem sô-cô-la còn dư lại để trong một chiếc hộp nhựa, “Tôi thấy cậu rất thích món này.”

Thật là một người đàn ông lịch thiệp, bố mẹ tôi vẫn nói mãi suốt một giờ đồng hồ sau khi anh đã ra về. Một quý ông thực thụ.

Patrick đi ra sảnh, hai tay thọc sâu vào túi quần, như thể để ngăn ý muốn bắt tay Will. Đó là suy luận sâu xa của tôi.

“Thật vui được gặp anh, Patrick,” Will nói. “Và cảm ơn anh vì… lời khuyên.”

“Ồ, đó chỉ là giúp đỡ bạn gái của tôi hoàn thành tốt nhất công việc của cô ấy thôi,” anh nói. “Chỉ vậy thôi.” Có một sự nhấn mạnh rất rõ ràng trong từ của tôi.

“Anh là một người đàn ông may mắn đấy,” Will nói trong lúc Nathan bắt đầu đẩy xe lăn ra ngoài. “Cô ấy thật sự biết tắm tại giường cho bệnh nhân giỏi lắm.” Anh nói nhanh đến mức cánh cổng đã đóng sầm lại trước khi Patrick kịp nhận ra anh đã nói gì.

“Em chưa bao giờ nói với anh là em có tắm cho anh ta.”

Chúng tôi cùng đi về nhà của Patrick, một căn hộ mới nằm ở ngoại vi thị trấn. Kiểu căn hộ này được quảng cáo là “phong cách loft”, mặc dù nó nhìn ra bãi đỗ xe và không cao quá ba tầng.

“Như vậy có nghĩa là sao – em rửa hạ bộ cho anh ta à?”

“Em không rửa hạ bộ cho anh ấy.” Tôi cầm lọ sữa rửa mặt vốn là một trong số rất ít đồ đạc mà tôi được phép để ở nhà Patrick lên rồi bắt đầu rửa mặt để loại bỏ lớp trang điểm.

“Anh ta vừa nói em làm đó thôi.”

“Anh ấy chọc tức anh đấy. Nhưng mà sau khi anh cứ liên tục, liên tục nói về việc anh ấy đã từng là một chàng trai hành động em cũng chẳng trách gì anh ấy.”

“Thế em làm gì cho anh ta? Rõ ràng là em không kể đầy đủ cho anh nghe.”

“Thật sự thì em có rửa cho anh ấy, đôi khi thôi, nhưng chỉ từ trên xuống đến ngang thắt lưng thôi.”

Cái nhìn chòng chọc của Patrick đã nói lên tất cả suy nghĩ của anh. Cuối cùng, anh quay mặt đi, lột đôi tất chân ném vào giỏ đồ giặt. “Công việc của em lẽ ra đâu có phải làm những việc đó. Nó đã ghi rõ không có vấn đề y tế. Không giúp việc cá nhân. Trong mô tả công việc không hề có thứ đó.” Một suy nghĩ bất ngờ đã đến trong đầu anh. “Em có thể phản đối. Từ chối khéo, anh nghĩ 1à như vậy, khi họ thay đổi các điều khoản trong công việc của em.”

“Đừng có buồn cười thế chứ. Em làm việc ấy bởi vì Nathan không thể luôn luôn có mặt ở đó và thật khổ sở cho Will khi có ai đó hoàn toàn xa lạ từ trung tâm dịch vụ đến để giúp cho anh ấy. Hơn nữa, bây giờ em cũng quen với việc đó rồi. Thật sự em không thấy phiền.”

Tôi làm sao có thể giải thích cho anh – cơ thể một con người có thể trở nên thân thuộc với mình như thế nào. Tôi có thể thay ống thông tiểu cho Will với sự khéo léo thành thạo, tắm bằng bọt khắp nửa thân trên của anh mà không làm gián đoạn cuộc trò chyện của chúng tôi. Giờ đây tôi thậm chí cũng không e sợ trước những vết sẹo của Will. Trong một khoảng thời gian, tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là một vụ tự tử tiềm ẩn. Bây giờ anh chỉ là Will – Will hay chọc tức, lanh lợi, thông minh và vui tính – người luôn luôn tỏ vẻ kẻ cả với tôi và thích làm giáo sư dạy cho tôi. Cơ thể của anh chỉ là một phần của toàn bộ con người anh, một thứ để lau chùi trong những lúc tạm ngừng nghỉ, trước khi chúng tôi quay lại tiếp tục tán gẫu. Tôi nghĩ, thân thể chính là phần ít hấp dẫn nhất của con người anh.

“Anh chỉ không thể tin nổi… sau tất cả những gì chúng ta đã trải qua… một thời gian dài biết bao nhiêu em đã để anh ở cạnh em bất cứ nơi nào… thế mà giờ có một người lạ khiến em rất thích thú được ở gần và thân mật…”

“Chúng ta có thể không nói về chuyện này đêm nay được không, Patrick? Hôm nay là sinh nhật em.”

“Anh đâu phải là người khơi mào, với mấy cái chuyện tắm rửa gì gì đó.” “Đó là bởi vì anh ấy trông bảnh trai phải không?” tôi hỏi. “Có phải vậy không? Chắc sẽ dễ hơn rất nhiều cho anh nếu anh ấy trông giống như – anh biết đấy – giống như một củ khoai?”

“Thế là em thực sự nghĩ anh ta bảnh trai đấy.”

Tôi kéo chiếc váy qua đầu, rồi bắt đầu cởi chiếc quần bó thật cẩn thận ra khỏi đôi chân, chút niềm vui còn sót lại trong tôi cuối cùng cũng bốc hơi bay đi mất. “Em không thể tin nổi anh lại như thế đấy. Em không tin anh lại ghen với anh ấy.”

“Anh không ghen với anh ta.” Giọng anh lãnh đạm. “Làm sao anh có thể ghen với một người tàn phế được cơ chứ?”

Đêm đó Patrick làm tình với tôi. Có thể “làm tình” là nói hơi quá lên một chút. Chúng tôi ân ái với nhau, một cuộc giao hợp kiểu marathon, trong đó anh dường như quyết định phải phô trương hết năng lượng dồi dào, sức mạnh và sự cường tráng của bản thân. Nó kéo dài hàng giờ đồng hồ. Nếu có thể treo ngược tôi lên chiếc đèn chùm thì có lẽ anh cũng đã làm như vậy. Thật vui khi cảm nhận được niềm khao khát ấy, khi thấy mình trở thành trung tâm chú ý của Patrick sau nhiều tháng nửa như chia tay. Nhưng một phần nhỏ trong tôi vẫn ở đâu đó thật xa tất cả cuộc làm tình này. Tôi ngờ rằng rốt cuộc nó không phải là vì tôi. Tôi đã hiểu ra điều đó rất nhanh. Màn trình diễn nhỏ này là vì Will.

“Em thấy thế nào, hả?” Sau đó anh vòng người quanh người tôi, da thịt chúng tôi chạm nhẹ vào nhau nhớp nháp, rồi anh hôn lên trán tôi.

“Tuyệt,” tôi nói. 

“Anh yêu em, cưng.”

Thế rồi lòng đầy mãn nguyện, anh cuộn người lại, đặt một cánh tay lên đầu rồi ngủ say trong vòng ít phút.

Khi giấc ngủ mãi không tới, tôi bật dậy khỏi giường và đi xuống lầu lấy chiếc túi của tôi. Tôi thọc tay vào túi, tìm tập truyện ngắn của Flannery OConnor. Đúng lúc tôi kéo nó ra khỏi túi, chiếc phong bì rớt theo.

Tôi nhìn nó chằm chằm. Tấm thiệp của Will. Tôi đã không mở lúc ở bàn ăn. Bây giờ tôi mới mở, cảm thấy một cái gì mềm xốp khó đoán ở bên trong… Tôi cẩn thận kéo tấm thiệp ra khỏi phong bì rồi mở ra. Bên trong là mười tờ 50 bảng mới cứng. Tôi đếm đi đếm lại hai lần, không thể nào tin vào những gì mình đang nhìn thấy. Trên tấm thiệp viết:

Thưởng cho ngày sinh nhật. Đừng nghĩ ngợi gì. Đây là mệnh lệnh. 

Tin tức khác...