Trong âm thầm còn ai nhớ ai!

Cuộc chiến nào cũng có lắm tang thương!
Và rồi… khi quốc gia bị tan rã, thì người phụ nữ là những nạn nhân đáng thương nhất!
Câu chuyện “Trong âm thầm còn ai nhớ ai!” cùng lòng biết ơn chân thànhxin được gởi đến những nạn nhân đáng thương trong những quốc gia bất hạnh, như nước Việt mình.
* * *

“Mờ trong bóng chiều
Một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây rừng
Lắng tiếng nghe hình dáng
Của người anh hùng
Lạnh lùng theo trống dồn
Trên khu đồi hoang
Yên trong chiều buông…”

Chiều buông!
Trời tắt nắng làm rừng cây âm u, buồn thảm hơn!
Rừng chiều xôn xao mang vềlời nhạc ngày nào;tôi lẩm bẩm hát. Bài hát “Chiến Sĩ Vô Danh” của nhạc sĩ Phạm Duy soạn theo nhịp đi, cũng là khúc quân hành quen thuộc, từ thờituổi trẻ còn bước đi theo chân đàn anhtrong quân trường. Bây giờ, lời hátchỉ là những tiếng âm thầm,rời rạc,lạc lõng,…không ra hồn. Chiều đang buông trên khu rừng hoang, núi cây rừng cũng lắng tiếng nghe; nhưng không … nghe hình dáng của người anh hùng, không nghe tiếng trống dồn.Những anh hùng đã lạnh lùngnằm xuốngcũng không thểan giấc nghìn thu, khi mộ bia bị nhà cầm quyền bắn phá, hủy hoại;để xóa bỏ dấu vết các nghĩa trang quốc gia ở miền Nam, để trả thù. Chiều nay, quanh đây không có anh hùng, chỉ cóđoàn người tù lặng yên đi về trại giam.Bàn chân trần khấp khểnhbước, làm thân cây trên vaichao đảo, nặng nề hơn…
Ra khỏi khu rừng, mặtđường mònướt át bùn cũng trơn trợt như các mảng lá mục nát trong rừng.Cuối con đường mòn, quanh trái một lúc là thấy hàng rào và các vòng kẽm gai của trại giam. Khoảnh đất trống bên cạnh hàng rào có cái chòi nhỏ, đó là lò rèn.Có cái gì đó âm thầm nhắc nhớ; mỗi lần đi ngang đây, một năng lực vô hình làm chúng tôi quay nhìn vào khu lò rèn, và rồi yên lặng. Cái yên lặngngậm ngùi cho người chết và người còn sống với thân phận tù đày!
Công việc chính củalò rèn là chế biếncác cọc sắt hàng rào thành daovàlàm các vật dụng linh tinh khác bằng kim loại. Dao làm từ cọc sắt hàng rào màđem đi chặt cây, phá rừng thì chỉ chừng vài ngày là cuốn mép hết và lò rèn phải gò mài lại.Cũng nhờ vậy mà lò rèn có việc làm hoài.

Sau một thời gian bị tù đày thì trại giam có người chết.Mỗi khi có người chết, gian nhà lò rèntrở thành nhà xác.Xác người tù nằm trong cái thùng gỗ dài,ghép đóng thô sơ, vội vàng;đũchứa đựng hình hài bất hạnh và gọi là cái hòm.Những hòm gỗ không cài hoa, không một nén nhang hay nến trắng.Người chết nằm cô độc bên ngọn đèn dầu, không câu kinh, không tiếng nguyện cầu cho anh linh được sớm siêu thoát, không ai được phép đếnthăm viếngtiễn biệt.
Cũng từ đó, mỗi khi chiều về,thấy ánh đèn dầu nơi lò rèn chúng tôi biết: đã thêm một bạn tù rời trại trong chiếc hòm gỗ, nằm chờ người thân hôm sau đem xác về chôn… Chúng tôi ngậm ngùi với mất mát, nhưng mừng cho anh đã tìm thấy an bình; mừng cho người tù đã thoát khỏi những hành hạ của đói khát, bệnh tật, nhục hình…
Mất một chiến hữutrong chốn tù đày là niềm đau khó quên!
Nỗi đau xót ấy thật tột cùng, khi phải chứng kiến cảnh người thân đến trại, để nhận xác trong vội vàng, lạnh nhạt, bị khinh miệt,xua đuổi…. Để được phép nhận xác, thân quyến còn phải tuân theođiều kiện của trại tù:cố mà ngăn dòng nước mắt, không được khóc thương người bất hạnh!Không ai được phép bày tỏ tình cảm thương tiếc đối với tù binh, lúchọ còn sống hay khi đã chết; đấy là một trong các “chân lý không bao giờ thay đổi” của nhà cầm quyền. Chân lý ấy giảng dạy rằng: Trong trại giam này, người tù là kẻphạm tội chết, được Nhà Nước khoan hồng cho sống mà cải tạo, thì không còn gì để mà thương hay tiếc.Khóc thương cho người tù tức là có ý chống lại Nhà Nước.
. . .

Mấy hôm nay, giờ về đến trại nhằm lúc dòng thủy triều xuống thấp.Nguồn nước duy nhất cho người tù tắm giặc là cái ao ở gần bên khu nhà bếp.Nước nấu ăn, nước uống cũng lấy lên từ đây.Aonằm cách xa sông rạch.Cái khe dẫn nước vàoao thì nhỏ hơn thân người, còn bị rào chận nhiều chặng để ngăn ngừa trốn trại;cho nên nước ra vào rất chậm, không thểnhìn thấy dòng nước chảy.Nước ao cũng bị tù, lanh quanh trong ao! Nước ngoài sông ròng cạn thìnước ao có thấp xuống chút ít và màu nước đậm đục hơn. Mấy chỗ có ngườichen chúc nhau tắm giặt thìvũng nướcđen có quầngđục ngầu bùn sình. Màu nước, mùi ao…lâu năm nên ai cũng quen mắt, quen mùi rồi… Có còn hơn không! Cái chất nước trong ao coi vậy vẫn làm cho da thịt thấy sạch, mát và dễ chịu hơn.Áo quần giặt qua nước ao trông cũng có vẻ sạch sẽ hơn.Để rồi… các dề lác, ghẻ lở,cùng xác rệp, cho mùi tù thêm nồng nặc hơn, trong phòng giam chật chội!
Đứng cùng mọi người quanh bờ ao, chờ đến phiên mình xuống ao tắm giặc; tôi thả hồn vàokhông gian bên ngoài hàng rào kẽm gai.Phía sau rặng cây dày đặc, có con sông hay cái rạchnào đó đang rót nước vào trong ao này.Không biết ngoài ấy nước đang dâng cao hay còn bãi lầy lội trơ bùn?!…Thời gian lững lờ trôi qua, đã lâu lắm rồi, tôi chưa được thấy lại màu phù sa trên sông nước miền Nam. Tôi luyến nhớ màu phèn nhuộm vàng hai ống quần trận, nhớ những chuyến hành quân qua các dòng sông quê hương; nơi cóchiếc áo bà batươi thắm, như những cánh hoa mộc mạc trên sóng nước hiền hòa…
Trị đứng phía trước tôi, quay lại vui mừng nói nhỏ:
– Mẹ tao kìa!

Nghe anh nói, tôi ngó sang cái đình gần như bỏ hoang, ít khi thấy bóng người ra vào; chiều nay có nhóm người đứng lố nhố,vẫy tay với chúng tôi. Tôi nhớ ra, ngày mai trại có cho gặp gia đình. Đây cũng là lý do mà chiều nayhàng người chờ xuống ao đông hơn, và người trên cầu tắm cũng nán lại bên vũng nước ao lâu hơn; để có dịp tìm kiếm, hay nhìn người thân lâu hơn cho thõa lòng nhớ thương. Thấy tôi ngó mà có vẻ chưa nhận ra mẹ anh, Trị nói thêm:
– Mẹ tao mặc áo màu đen đó!
Cái đình ở cách xa quá, khó mà nhìn thấy rõ mặt người, chỉ có chính mình mới nhận ra hình bóng người thân yêu.Giống như lòng người, bây giờ hiếm thấy áo quần với màu sắc tươi vui; hầu như chỉ có các màu:nâu, sậm đen hay xám buồn…Tôi thấy có nhiều người mặc áo màu đen và ai cũng vẫy tayrối rít về hướng chúng tôi. Chắc hẳn là có mẹ của Trị trong đó như anh đã nói, tôi vui mừng cùng bạn mình. Trị vẫn ngó theo mẹ, hỏi thăm tôi:
– Mày thấy gia đình chưa?
Chuyến đi thăm lần trước, mẹ tôi đi một mình. Mẹ có nói với tôi là:
– Ba con khai bệnh hoài, rồi xin nghỉ dạy học luôn rồi!… Ba mẹ phải về làm ruộng, nên mẹ đi một mình cho… ít hao tốn!
Vậy là ba tôi đã quyết định, không chịu tiếp tục làm thầy giáo;để tiếp tay với chế độ giảng dạy các bài học lịch sử đã bị thay trắng đổi đen, để ca tụng đảng. Ba tôi không muốn phục vụ cho chánh sách trăm năm trồng người, đầu độc tuổi trẻ với các bài toán;dạy trẻ con học cộng trừ với xác người…
Đã gặp một lần, gia đình biết tôi còn sống,tôi nghĩ như vậy là quá đũ rồi.Tôi không muốn gia đình vì tôi mà thêm khốn khổ; gặp rồi chia tay, cho mẹ tôi thêm lắm nước mắt. Thăm nuôi vừa là cơ hội tuyên truyền lòng nhân đạo của đảng, vừabuộc gia đình vì tình thương phải ráng nhịn nhục đi nuôi người tù tiếp cho nhà cầm quyền. Thăm nuôi hay có nơi còn bày thêm trò: cho gặp riêngngười thân qua đêm; như là miếng mồi ngon béo dùng làm hình phạt hay phần thưởng, để khuyến dụ lòng khao khát của người tù, để họ yếu lòng màdễ quên đi mình là ai!
Tôi mỉm cười, nói gọn cho Trị biết:
– Kỳ này không có ai đi thăm…
– Vậy à!
Trị quay lại, nhìn tôi thoáng ngạc nhiên, nhưng không hỏi chi thêm; chỉ vắn tắc đáp lời tôi, rồi quay ngó sang nhóm thân nhân bên đình. Anh đang bận tâm với người thân của mình.Ai cũng vậy;tù trong trại giamcùng ngườibên ngoài nhà tù lớn, ai cũng ưu tư lo lắng cho nhau.Hình bóng người thân,đang ở xa bên ngoài vòng rào kẽm gai,gợi dậy thêm nhớ thươngnhững vòng tay, tiếng nói, nụ cười…
Luật của trại giam cấm tù binh vẫy tay với thân nhân, hay bất cứ người dân nào ở bên ngoài vòng rào trại giam; họ sợ chúng tôi ra ám hiệu bí mật nào đó. Cho nên Trị và những người tù quanh tôi chỉ được nhìn và nói bằng ánh mắt.Ánh mắt của Trị rộn rã niềm vui, môi anh mấp máy như gọi nói với mẹ mình.Có những tâm tìnhlúc này,chắc hẳn sẽ không thể nói thành lời vào ngày mai!

Ngày mai, ngày thăm viếng, giữa đám cán bộ và bộ đội với thép súng lách cách, đi quanh quẩn canh chừng, xoi mói, lắng nghe…; sẽ không có vòng tay ôm ấp, tiếng nói bị ngập ngừng dè dặt theo khuôn mẫu, nụ cười gượng gạo chỉ để che giấu buồn đau, và lời từ biệt dặn dò nghe giống như nhau: “học tập tốt!…lao động tốt!…sớm được về!”
Thật là cay nghiệt, những điều luật và chữ nghĩa bây giờ bị gom tụ vào mỗi một chữ “tốt’! Cái gì cũng là “tốt” được! Nghe thật ngọt ngào, làđường mật trên môi mép. Nhưng, ngẫm nghĩ lại, chỉ là những thứ mơ hồ, trừu tượng; cho cái ước mơ “sớm được về!” ngày càng xa vời, vô vọng!
Hầu hết các trại giam, đều ở chốn xa xôi và cách biệt; nên không có nhiều phương tiện ra vào.Người đi thăm tù phải đến khu vực có trại giam từ chiều hôm trước, để sáng vào thăm cho xong và về cho kịp chuyến xechạy ra tỉnh thành trong ngày;để không phải vất vả ngủ bến, ngủ bờ thêm một ngày nữa…
Hôm 14 tháng 8 vừa qua, trong bài viết có tựa đề là Nguyễn Đình Toàn: ‘Yêu người đã bỏ đời vui’, Kalynh Ngô có kể về gian khổ của người phụ nữ phải chịu đựng, khi đi thăm chồng là nhà văn và là nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, như sau:
“Ngày tháng ông bị tù đày, bà đón hai, ba chuyến xe đò, xe lam để vào thăm ông. Thời đó, vì “người đi càng đêm càng đông dần” rất nhiều người cần phải đi thăm thân nhân. Mà để vào trại Bố Lá, nơi ông bị giam tù, chỉ có một chuyến xe duy nhất trong một ngày. Một tay bà giữ chặt cái giỏ đựng thức ăn bà chuẩn bị cho ông, một tay bám chặt thành xe vì chiếc xe lam đã chật kín người, bà thậm chí có lúc chỉcó thể trụ tạm một chân ở phía đuôi xe.. Cứ thế mà gồng mình cho hết đoạn đường…”

Đi thăm và gặp được người tù là hai chặng đường cùng gập ghềnh và nhiều gian truân, mà chặng cuối lắm khi lại là…“đường đi không đến”!
Cho đến ngày nay, hãy cònbiết bao gia đình vẫn không biết thân xác người tù đã bị vùi dập nơi đâu! Như ở trại giam Ba Sao, Nam Hà, miền Bắc Việt Nam; nơi đã giam giữ nhữngngười từ miền Nam chở ra, vàrất nhiều người đã chết trong những ngày tháng đày đọa nơi đây. Câu chuyện bi thương về số phận những người tù, mà chế độ mới gọi là “tù cải tạo”, bây giờ chỉ còn cô đọng trong tấm bia đen khắc rằng: “Bia thờ 626 linh hồn tử vong tại trại Ba Sao, 1975-1988”.
Ngườibị tù đày, người bên ngoài trại giam;thật là…những vòng đời oan khiên với trăm đắng nghìn cay!
Từ sau ngày30 tháng Tư, vòng tay của người phụ nữ miền Nam quá yếu đuối, và không đũ dài để vói tới ôm ấp chồng con!… Hàng rào trại giam đầykẽm gai sắc nhọn và cao ngất!… Đại dương mênh mông, nghìn trùng xa cách!…
Thi sĩ Trần Trung Đạo có nói về bài thơ Bà Mẹ Điên, được nhạc sĩ Vĩnh Điện soạn thành nhạc và hát, như sau:
– Khác với phần lớn loài người trên trái đất, sau 1975 tại Việt Nam, bán máu là một nguồn sinh kế tự nhiên bên cạnh mồ hôi và nước mắt. Bao nhiêu chuyện thương tâm đã xảy ra trên đất nước. Rời Việt Nam, tôi mang theo câu chuyện về một bà mẹ bỏ vùng Kinh Tế Mới về Sài Gòn tìm chỗ sống. Mẹ giăng tấm vải dầu trên góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ đói khổ. Mẹ bán tất cả những gì mẹ có thể bán kể cả máu của mình để mua sữa cho con và khi con chết bà trở thành người điên.”

Người phụ nữ miền Nam đã phải gánh nặng đôi vai, nuôi chồng trong tù “cải tạo” và nuôi đàn con thơ, mà quên thân mình. Mua và bán máu là một nghề trong cái xã hội gọi là “cách mạng”hiện nay. Mỗi lần chắt mót được 250 ml máu để bán thì kiếmđược khoảng 140 ngànđồng ; những mảnh tiền vụn vặt qua ngày,để nuôi sống cho chính mình hay cho người thân.Một bát phở ở số 10 Lý Quốc Sư, Hoàn Kiếm, Hà Nội có giá từ 50 đến 70 ngàn đồng.
Những vòng đời khắc nghiệt,cứ thế trói chặt lấy con người trong chế độ gọi là “cách mạng” ấy!
Bài thơ Bà Mẹ Điên của thi sĩ Trần Trung Đạo là cả một câu chuyện thật và thật thương tâm; trong muôn vàn chuyện thương tâm, từ khi miền Nam mất tự do. Chuyện kể rằng:
“Có lần tôi đi ngang qua vỉa hè Đồng Khởi, một bà ôm chiếc gối đứng hát như người say:
– Khoan chết đã con trai, mẹ còn chờ mua sữa… Mai Ba về có hỏi, Mẹ biết nói sao đây!
Người biết chuyện cho hay:
– Chồng bà đưa ra Bắc… Từ khi con trai mất, bà trở thành người điên…
Nhà bà là mái hiên, tấm vải dầu che nắng, sớm chiều khoai với sắn, heo hút với bầy con.Bà ngày một héo hon. Bỏ vùng kinh tế mới, về Sài Gòn chen lấn giữa cuộc đời đắng cay. Đứa con út ốm đau, vẫn hằng đêm đòi sữa. Chẳng còn gì bán nữa, ngoài giọt máu mẹ cha!
Khi trời vừa sáng ra, bà lại lên Chợ Rẫy. Lần nầy lần thứ mấy, bà bán máu nuôi con.Trên đường về đi ngang, ghé cửa hàng mua sữa.Bà gục người trước cửa, suốt đêm mà không hay.Đứa con út đang đau, chờ mẹ về chưa tới, qua đời trong cơn đói, thiếu cả một vòng tay!
Khi bà về tới nơi, thì con mình đã chết.Bà ôm con lạnh ngắc, đứng hát như người say:
– Khoan chết đã con trai, mẹ còn chờ mua sữa… Mai Ba về có hỏi, Mẹ biết nói sao đây!
Đêm qua tôi nằm mơ, thấy mình ôm chiếc gối đứng trên đường Đồng Khởi và hát như người điên!”
Và rồi, tháng 8 vừa qua lại là Tháng Tám Đen cho nướcAfghanistan, còn được gọi là nước A Phú Hãn. Người mẹ lại mất những đứa con của mình. Những đứa con đã bị hành hình man rợ hay kinh hoàng chạy trốn bạo quyền. Có những đứa con bất hạnh đã rơi từ trời cao và phơi xác trên phi đạo,hay đã bị ép chết vì nằm trong khung chứa bánh xe của phi cơ…Những cánh tay yếu đuối tuyệt vọng, dâng đưa con mình cho người xa lạ mang đến thế giới tự do…
Tự do ơi, tự do!

Trong bài “Những Viên Đạn Biết Khóc”, nhà thơ Trần Mộng Tú có viết:
“… Những người phụ nữ A Phú Hãn
Đang ôm những đứa con bằng hai cánh tay của người phụ nữ Việt Nam của tháng Tư năm đó
Hai cánh tay quá nhỏ không ôm được hết đàn con nên đã đánh rơi
một đứa con nào đó trên đường
không sao nhặt lại được nữa
Đứa bé chìm khuất trong biển người

Những người phụ nữ A Phú Hãn
Đang chạy bằng đôi chân của người phụ nữ Việt Nam
của tháng Tư năm đó
Đôi chân ngắn và yếu
Nên thất lạc con mình

Khi một quốc gia tan rã
Những người phụ nữ là những nạn nhân đáng thương nhất
Họ mất chồng không biết rõ ngày giờ
Họ mất con không biết ở quãng đường nào
trong thành phố nào…”

. . .

Thật vậy!
Tháng Tám năm 2021…

Những người phụ nữ A Phú Hãn hôm nay đang khóc bằng đôi mắt của người phụ nữ Việt Nam,từ 46 năm trước.Những người phụ nữ đã không cần bông hồng; họ cần tình người!Dòng nước mắt của họ giống nhau; dòng nước mắtchảy xuôi, không màu và cùng mặnsóng uất hờn của Biển Đông.
Tháng Tám A Phú Hãn và Tháng Tư Việt Nam!
Tháng Tư hay là tháng Tám?
Ngày 30 hay ngày 15?
Ngày tháng nào thì… cũng thế thôi!

Tháng Tám năm nay, thêm một lần, lịch sử sang trang đã không chọn tháng ngày.
Xưa nay chinh chiến, mình chọn ngày đi, mấy ai chọn được lúc về.
Thứ Năm, ngày 26 tháng Tám, vì những ai, đất mẹ phải đón thêm 13 đứa con trở về sớm hơn đồng đội của mình, và về trong quan tài phủ màu cờ!
Mờ trong bóng chiều… ai nghe chăng tiếng đời xa vắng?
Và rồi đây, trong âm thầm… còn ai nhớ ai!

Bùi Đức Tính

Tin tức khác...