Trăm Đắng Nghìn Cay

Anh đi!
Thao trường nung cháy màu học trò, hun đúc tuổi trẻ.Tuổi trẻ đã trưởng thành, thành người lính đứng thẳng nhận lãnh Trách Nhiệm. Để rồi, người lính biết xót đau tận cùng khi mất cả quê hương, biết tủi nhục trong ngục tù, biết… trăm đắng nghìn cay!
Xưa nay chinh chiến, mình chọn ngày đi, mấy ai chọn được lúc về.
Đàn anh ra đi!
Đàn em không quên lời xưa đã ước thề!

. . .

Mặt trời đã lên khá cao.Không khí nóng hầm hầm.Cán bộ và bộ đội chui rúc vàobóng mát bên dưới các tàn cây lớn để tránh nắng tự hồi nào rồi. Họ ngồi phì phà hút thuốc lá, miệngchuyện trò vàmắt thì canh chừng tù.Trong căn trại gần đócòn có một đơn vị bộ đội,và thêm mộttrạmgác ngay phía sau bìa rừng. Đứng trước khurừng đen thẫm mênh mông bạt ngàn, toán tù nhânlàm công tác phá rừng trôngthật nhỏ bé chơ vơ…
Dụng cụ phá rừng gồmcó cưa và dao.Một lưỡi cưa dài,loại do hai người kéo; dùng để cắt những thân cây to lớn.Khoảng 20 cây dao, tùy theo số người còn sức đi vào rừng. Dao do đội tù“Lò Rèn” biến chế từ cọc sắt hàng rào của quân đội, nên thép không đủ độ cứng và bền. Cây dao cùn mới được rèn và mài lại, chỉ chặt được chừng vài chục nhát thì lưỡi dao đã bị cuốn mép, hết bén; cũng nhờ vậy mà đội “Lò Rèn” có việc làm hoài.Dao cùn thì cần nhiều sức hơn để mà chặt cây.Dao bén thì đốn được nhiều cây hơn.Nhưng, nhiều hay ít, chúng tôiđềuphải chặt cho đến hết giờ mới được cho về trại. Có điều, khi lưỡi dao hết bén, nó chỉ cắt vào thân cây một phần, năm mười phầnkháctrở thành lực dội ngược vàobàn tay và cánh tay. Da tay phồng lên lúc nào không hay, lúc bọng nước dập đi gây đau rát thì mình mới biết…
Gió đùa mùi thuốc lá thơmthoang thoảng trong không khí. Mấy năm sau này, những người vào chiếm miền Nam không còn phải vấn thứ thuốc rê, thuốc giồngmà bập bập lấy khói, hay hút các thứ thuốc lá nặng mùi khét lèn lẹt của Hà Nội làm. Bây giờ họ hút các thứ thuốc lá có mùi vị thơm ngon hơn,sản xuất từ các hãng thuốc lá MIC hay Bastos mà họ chiếm được ở miền Nam mình. Cái “đài”, chữcủa quânmiền Bắc dùng để gọi máy phát thanh, ngày nào cũng thế, nóra rả suốttừ sáng cho đến giờ ăn trưa. Hết các bài hát nheo nhéo, lại đến giọng đọc chanh chát chói tai; các thứ chữ nghĩa mới nó kỳ dị, cắt ghép lạ lùng. Như khắp phường khóm trong nước bây giờ, loa phát thanh của trạicũng ong óngcác thứ ấy từ sáng sớm,cho đến giờ đi ngủ. Ra ngoài rừng, chúng tôi lạiphải nghe các thứ âm điệu khó nghe ấy.Không muốn nghe, cũng phải nghe!
Nghe năm này sang năm khác, nghe mãi mà tai cũng vẫn chưa sao quen được. Cái mệt vì phải chặt đốn cây rừng và ánh nắng nóng bức, vẫn dễ chịu hơn tiếngphát ra từmáy phát thanh…
Vặn tiếng cái “đài” cho nhỏ bớt, cán bộ hất mặt bảo bộ đội ngồi gần đó:
– Cho ăn trưa đi!
Nói xong, anh ta uể oải đứng dậy, vói tay lấy cái túi vải máng trên nhánh cây, đeo chéo qua người cùng cái “đài” của mình,rồi đủng đỉnh đi qua căn trại củađơn vị canh gác khu rừng này. Ngày nào cũng thế, anh ta sẽ ởlại trong ấy cho đến giờ về trại.
Tiếng cái “đài” đi xa dần.
Khi im vắng thứ tiếng chóitainhức óc của đài phát thanh, thì không gian quanh chúng tôi lắng đọng, trở về với an bình,dễ chịu hơn …

. . .

Và rồi ngày sắp tàn, ánh sáng trong rừng vàng vọt u tối.
Có tiếng máy phát thanh léo nhéo văng vẳng, càng lúc nghe càng lớn. Không cần nhìn tìm, ai cũng biết là cán bộcai tù đangđi tới với cái “đài” đeo trên vai. Anh ta trở qua, là lúc tù được về trại, sắp hết một ngày dài. Rời trại từ 5 giờ sáng, lội hơn 4 cây số để vô rừng. Chặt cây, phá rừng đến năm hay sáu giờ chiều, tùy theoánh sáng cuối ngày.Chiều xuống, trong rừng rậm và bắt đầu đổ mưa như thế nàythì trời tối sớm lắm.
Khi có lệnh đi về, tù nhân trả lại dao, rồi đi lấy thân cây mà mình đã chuẩn bị sẵn;vácnó ra đứng sắp hàng cho họkiểm người và cây.Cuối ngày, mỗi người phải có một thân cây với đường kính 2 tấc trở lên, dài phải hơn 1 sải tay, và là loại gỗ tốt, đểdễ bán và được giá cao; nhưng gỗ tốt thì thân cây nặng.
– Khẩn trương lên, mưa lớn đó!
Anh ta thích ra oai thế thôi. Bữa nào không mưa thì nhăn nhó là “chiều tối rồi đó!”, có hôm chỉ cộc lốc mà la “Khẩn trương coi!”
Có tiếng cai tùcằn nhằn làm mấy chú nhỏ bộ đội lăng xăng, lốc xốc, súng đạn khua lốc cốc,miệng rối rít hốichúng tôi vào hàng…
Đủ người, đủ cây; đoàn ngườitù lầm lũi bước,mắt ngó chừng đểtránh vô số các gốc cây lớn nhỏ, bị đốn chặt còn ló lấp xấp trên đất.Các gốc cây nhỏ bị chặt xéo, đầu chĩa lố nhố như cây chông.Ngón chân khi bấu xuống đất ướt, lúc bám vào đám lá mục, giữ cho đừng trợt té.Thân cây nặng và cồng kềnh, lắc lư trên vai; vỏ cây sần sùi cạo rát da cánh tay và cổ.
Cái đói triền miên, mỏi mệt, vác nặng,…làm con đường về trại dài hẳn ra!
Hình bóng người tù và thân cây dài vác trên vai in trên nền trời chiều, trông thật ảm đạm.Tôi ngẫm nghĩ, nếu đóng thêm thanh ngang lên các thân cây ấythì giống thập tự giá của tù nhân thờiĐế quốc La Mã, họphải tự vácthập tự giá đi đến nơi thi hành án; loại hình phạt dành chotử tội không phải là công dân La Mã.
Dấu hiệu của ô nhục, của… cái chết kéo dài trong đau đớn!

Thân cây bị đốn ngã, nằm ngang dọc la liệt khắp nơi trên lối về; cảnh tượng thật thê lương buồn thảm.Thế nhưng, nhiều loại cây rừng có sức sống mãnh liệt lắm.Các gốc cây bị chặt đứt, hầu như ít nhiều đều thấy đâm chồi nảy lộc.Bên thân cây nằm bất động, gốc cây đãbị chặt cụt giờmọc ranhánh nhỏ mới, lú nhú các nụ bụ bẫm và lá non. Mầm xanh tươi của sự sống vươn lên trong hủy diệt chết chóc, cho chúng tôi niềm tin và ước mơ.
Niềm tin sẽ có tuổi trẻ đứng lên, nối bước cha ông đã nằm xuống vì tự do của dân tộc!
Ước mơ… một ngày mai, khi thức dậy, chợt thấy mình không còn ở đây, không còn bị giam cầm!
Mơ thấy chiều Suối Máu, chiều Sơn La,chiều trên Cổng Trời,…mưa đã không còn nhạt nhòa nước mắt thương đau!
Chiều Việt Nam mưa sẽ vẫn rơi và mưa rơi cho mầm non tươi xanh.Hạt mưa cho cây rừng sống lại.Tuổi trẻ sẽ là mầm sống mới, đã thoát khỏi một thời xưa tối ám, sẽ làm sáng ngời đời dân Việt Nam…
Hết một ngày vào rừng, khi quay trở ra, thì ráng chiều mờ khuất trong màn mưa âm u. Càng đi, phía trước mình càng lúc càng u tối. Cái âm u, đen tối như cứ quanh quẩn bám theo đời tù binh “cải tạo”.
“Chiều ơi ! Lúc chiều về là lúc yên vui
Qua đường mòn ngửi lúa thơm ngơi, ới chiều!”
Chiều về trong ca khúc Nương Chiều của nhạc sĩ Phạm Duy thật êm đềm, bây giờ sao xa vời, yên vui không về trong giấc mơ; biết bao giờ mình được thấy lại… lúc yên vui, như trong… Nương Chiều!

. . .

Trên đất nước Việt Nam mình…
Sau khimiền Nam đã bị cưỡng chiếm.Những người lính, những công chức, văn nghệ sĩ, nhà báo và cả những thường dân ở miền Nam; tất cả những aibị nhà cầm quyền cộng sản kết tội có liên hệ với chế độ Tự do của miền Nam, đều bị tống giam vào các trại tù, dưới tên gọi là “trại cải tạo”. Ngay cả thương binh cũng không thoát khỏi chính sách trả thù hèn hạ, hiểm độc.Họ bị tống đuổi ra khỏi bệnh viện, bất kể tình trạng thương tích trên người như thế nào.
Ai sống, ai chết… mặc tình!
Không tình nhân loại!
Không nghĩa đồng bào!

Năm 1975, nhạc sĩ Thục Vũ, bị cộng sảngiam giữ tại Long Giao, rồi chuyển đến trại tù Tân Hiệp (Biên Hòa). Ở đây, nhạc sĩ Thục Vũ cóviết bài “Suối Máu” với 8 câu thơ cảm đề của mình:
Em ở Sài Gòn anh ở đây
Đồi pha cát trắng kẽm gai đầy
Ngẩn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược
Để nhớ nhung về che khuất mây
Tôi vẫn thường đêm thương nhớ con
Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn
Thương mình ray rứt từng đêm trắng
Thương bạn anh trong chuyện mất còn”

Chỉ vì lời bày tỏ tình cảm nhớ vợ con, thương bạnmình, người viết nhạcđã bị quân cộng sảnđày đọa lên trại tù Sơn La, ở chốn rừng thiêng nước độc. Tại trại tù Sơn La,vào ngày 15 tháng 11 năm 1976, chỉ sau một thời gian ngắn bị giam giữ, nhạc sĩ Thục Vũ gục chếttại nơi đây.
Người tù Sơn La Nguyễn Quang Tuyến,cũng là nhà văn Văn Quang.
Sau năm 1975 ông bị bắt giam hơn 12 năm tù.
Trong bài Mừng Cho Người Chết Trong Nhà Tù “Cải Tạo”, nhà văn Văn Quang có viết về cái chết của bạn tù Vũ Văn Sâm, tức nhạc sĩ Thục Vũ:
“Anh Tô Kiều Ngân không ở cùng trại tù với tôi, anh đi “lao động” bị ngã gãy tay, phải đưa về trạm xá gần trại giam tôi ở từ năm 1976 khi được đưa ra Sơn La “học tập”. Dịp đó, nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, ở cùng đội với tôi, anh bị đau gan đến vàng mắt. Khi bệnh tình quá nặng, Thục Vũ được đưa sang bệnh xá. Nói là bệnh xá, chứ ở đây cũng chẳng có thuốc men gì chữa chạy cho bệnh nhân. Thậm chí mỗi lần lên khám bệnh xong, anh y tá bôi cho tí dầu “cù là” vào tay rồi bảo về uống đi hoặc nằm ngửa cổ ra để “cán bộ y tế” nhỏ cho vài giọt nước củ tỏi vào mũi. Thế là xong.Bệnh nhân nặng chỉ còn việc nằm chờ chết.Thục Vũ cũng ở trong trường hợp ấy.
Một buổi sáng sớm, …

Tôi nhận ra ông Phan Lạc Phúc, khoác chiếc áo trây di cũng tả tơi “đồng bộ” với cái quần rách. Nước mắt ông Phúc chảy rất chậm trên mặt, ông nghẹn ngào cất tiếng:
– Thằng Sâm chết ở bệnh xá đêm qua rồi.
Tôi lặng người, bởi mới hôm qua, tôi lẻn sang bệnh xá thăm, Thục Vũ đưa cho tôi hai gói thuốc lào nhỏ, anh nói: “Tôi mệt không hút thuốc được nữa”. Ngồi nói chuyện vài phút, anh Tô Kiều Ngân ở trạm xá này cũng đến ngồi chơi.Tôi thấy Thục Vũ vẫn còn khỏe, vậy mà đêm qua đã ra đi.
Sau đó, anh Tô Kiều Ngân nói với tôi lời an ủi đúng nhất, ngắn nhất và cũng bi thảm nhất: “Mừng cho nó, từ nay nó không còn biết đói rét và không ai hành hạ được nó nữa”.
Đám tang Thục Vũ, hình ảnh bi thảm nhất trong cuộc đời chúng tôi.
Vào buổi chiều năm 1977, khi đồi núi Sơn La bắt đầu chạng vạng, bất chợt nhìn sang lối ra từ bệnh xá một khung cảnh hết sức đau lòng. Trên con đường đá cũ nhỏ, vòng theo sườn núi cao vút chập chùng, cách vườn rau là cái ao, đám tang bắt đầu di chuyển chậm chạp. Hai cai tù vác súng AK đi đầu, theo sau là một anh tù cầm vài nén nhang, đến 4 anh tù khiêng cỗ quan tài mộc, sau cùng lại là 2 cai tù vác súng AK. Suốt con đường dài âm u đó, chỉ có đám người ấy lặng lẽ chuyển động như những bóng ma.
Ở vùng đồi núi bóng tối đổ xuống rất nhanh, mang theo sương mù mỏng, dăng ngang triền dốc dựng đứng như những bức tường đá của nhà giam thiên nhiên, chẳng cách nào thoát ra được. Chúng tôi biết chắc đó là đám ma Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ. Tất cả hơn ba chục tù nhân trong đội đứng ngẩn ra, dán mắt nhìn theo cái đám ma thê thảm ấy. Ông Phan Lạc Phúc, đến bên tôi, không nói lời nào, quay mặt đi giấu nước mắt. Nhìn sang phía bên trạm xá, Tô Kiều Ngân và mấy anh bác sĩ trẻ cũng là tù, đứng sau hàng rào kẽm gai cũng ngẩn ngơ. Ngân vẫy tay cho tôi và anh Phan Lạc Phúc chẳng biết để làm gì. Là một sự cảm thông tận cùng hay nói lời từ biệt.
Tất cả đứng như tượng gỗ dõi theo đám tang đi trong buổi hoàng hôn lạnh ngắt, dần khuất vào cuối con đường cong phía chân núi. Sương mù bắt đầu tỏa xuống…
Hình ảnh cái đám ma Thục Vũ còn in đậm trong tâm khảm chúng tôi cho đến bây giờ.Tôi chắc anh Tô Kiều Ngân, đến cuối đời cũng chưa quên được hình ảnh này. Nó trở thành những kỷ niệm rất riêng nhưng cũng lại rất chung của những ai đã từng sống dở chết dở qua những cái được gọi là “trại cải tạo”.

. . .

“Ôi đời ta, ngờ đâu trăm đắng nghìn cay
Khúc sắn bát ngô vơi đầy
Sầu nuôi thân xác hao gầy
Bao ngày qua đợi chờ tin vui chẳng thấy
Hận thù yêu thương còn đấy
Vui đành như cánh chim bay” *

Thảm cảnh đày đọa vàchết chóc trong trại tùcộng sản, đã được biết bao nhân chứng may mắn còn sống sót kể lại. Nhưng… chữ nghĩa không thể nào diễn tả trọn vẹn được nỗi đau đớn của họ cùng thân quyến. Nỗi đau của những vết thương nhục hình này không bao giờ lành được theo thời gian, sẽ còn đó mãi mãi cùng xương cốt của những người tù, vẫn còn nằm lại trong các nấm mộ hoang…

Anh ở đây!
Anh vẫn còn ở đây!
Chiều Suối Máu, chiều Sơn La,….
Chiều Việt Nam mưa vẫn rơi, mưa rơi nhòa nước mắt!

… để nhớ về Ngày Quân Lực 19/6
Bùi Đức Tính
………………………………………………………………..…………….
* “Anh Ở Đây” nhạc: Thục Vũ & Vũ Đức Nghiêm.

Tin tức khác...