Thời đại nghi kỵ

CFO của hãng HUAWEI bị Mỹ tố cáo là trong việc kinh tài và làm ăn đã phạm tới luật an ninh của Mỹ

Chu nguyễn

Khi xảy ra ra các cuộc chiến tranh giữa độc tài-dân chủ, nóng hay lạnh… giữa các quốc gia hay giữa các phe phái kình địch, hẳn không thiếu người có hoàn cảnh trung gian bị nghi là gián điệp nào là trộm tin, nào là bán tin mật của bên này cho bên kia. Tình trạng nghi kỵ lẫn nhau phát triển mãnh liệt hơn sau Thế chiến II, biến dạng dưới đủ hình thức. Ở bình diện rộng, quốc gia này nghi ngờ quốc gia khác mưu đồ bất lợi cho đất nước mình, tôn giáo chia rẽ, đảng phái mâu thuẫn… Trong phạm vi cá nhân với nhau, thì con người trở thành “kẻ mất búa” trong Cổ học Tinh hoa, nhìn đâu cũng thấy kẻ gian!

Thiếu gì bằng chứng!

Cuối năm 2018, một nữ tổng giám đốc tài chính (CFO) của một đại công ty kỹ thuật Trung quốc, công ty Huawei là bà Meng Wanzhou (Mạnh vãn Chu) bị giới hữu trách Canada giữ ở Vancouver, theo yêu cầu của Mỹ, khi chuyển máy bay đi Nam Mỹ. Mỹ từng cáo buộc Huawei đánh cắp tài liệu kỹ thuật mật của Mỹ, và cho rằng bà Meng và công ty của bà đã lén lút làm ăn với Iran trái lệnh cấm vận của Mỹ. Thế là Mỹ bất ngờ đòi dẫn độ nghi phạm sang Mỹ để xét xử.Vụ án này mới dựa trên sự ngờ vực chưa hẳn có căn cứ pháp lý nhưng đã tạo ra sự căng thẳng bang giao giữa Canada và Trung quốc.

Mới nhất, cuối tháng 2, 2019, hai vị nguyên thủ của hai quốc gia lắm rắc rối là ông Trump của Mỹ và ông Un của Bắc Hàn rủ nhau tới Hà Nội để họp bàn kế hoạch giải giới vũ khí nguyên tử. Thế mà ngồi chưa nóng đít trên ghế hội nghị, ăn chưa xong món bún chả, họ đã bỏ ra về ngay trong ngày đầu gặp gỡ, không đưa thông cáo chung chỉ vì họ nghi kỵ đề nghị của nhau là hứa hão! Thực là hài kịch, khi tới thì hùng hùng hổ hổ, khi về thì không trống không kèn!
Trong lãnh vực văn chương, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật có nhiều tấn kịch bi hài xảy ra, suýt nữa kẻ ngay biến thành gian, nghệ sĩ biến thành tội phạm và không ít kẻ gian biến thành công thần. Câu chuyện dưới đây cho thấy bệnh ngờ vực là lưỡi gươm từng treo trên đầu một nữ nghệ sĩ tài danh trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật.

Khúc nhạc tình Đêm Trung Hoa và vụ án nữ ca sĩ Yoshiko Yamaguchi

Những người yêu nhạc tiền chiến ở Việt nam, không mấy ai quên giai điệu ru hồn người vào cuộc tình không biên giới, có tên là Shina no Yoru và giọng ca ngọt ngào của nữ ca sĩ Yoshiko Yamaguchi vang vọng từ giữa thập niên 40 thế kỷ trước. Thính giả Việt biết bài này với cái tên Đêm Trung hoa hay Tô châu dạ khúc và nữ ca sĩ với cái tên Lý Hương Lan. Lý Hương Lan thanh sắc vẹn toàn, duyên dáng, thanh thanh, ca tụng sự cảm thông, xây giấc mộng Hoa-Nhật một nhà, không những thành công trên ca đàn mà còn nổi tiếng trong lãnh vực điện ảnh thuở mới phôi thai ở TQ.

Lý Hương Lan nổi danh với nhiều ca khúc khác như Dạ lai hương, Hải yến và đệ nhị mộng… Nhưng bài hát quen thuộc nhất của Lý Hương Lan, có tên nhất là Shina No yoru (支那の夜 nghĩa là: “Đêm Trung Hoa”) . Bài này còn có cái tên “Tô Châu dạ khúc” (蘇州夜曲) xuất hiện năm 1938, nhạc của Takeoka Nobuyuki và lời của Saijō Yaso. Đây là ca khúc chủ đề của cuốn phim Nhật Bản cùng tên công chiếu năm 1940.
Đĩa nhạc này xuất hiện vào tháng 12 năm 1938 song ban đầu không bán được, sau đó nửa năm bỗng bán rất chạy; một năm sau các chiến binh ở tiền tuyến đều săn lùng nhạc phẩm này, trong đó Đô đốc, Yamamoto Isoroku cũng là người yêu thích bài hát. Tại một số lãnh thổ Đông Nam Á, do sự can thiệp quân sự của Nhật Bản đồng thời sự tiếp xúc với phim ảnh nước này mang đến nên “Shina no yoru” cũng được yêu chuộng.
Ca sĩ Diêu Lị (姚莉), một trong thất tinh thời ấy, ca lại bài này bằng tiếng Quan thoại dưới nhan đề “Xuân đích mộng” (春的夢).

Lý Hương Lan thành công trong cuốn phim Shina No Yoru nên được người Nhật lợi dụng cho chiêu bài tuyên truyền, tặng danh hiệu Nữ đại sứ thiện chí Nhật- Mãn (Japan-Manchuria Goodwill Ambassadress -日満親善大使).

Tại sao cuốn phim Shina No yoru và bài hát nổi tiếng từ đó lại bị coi là công cụ tuyên truyền của Nhật? Nguyên nhân đầu tiên là do nội dung phim, mô tả một phụ nữ Trung hoa, ban đầu có ác cảm với người Nhật song cuối củng lại có niềm thông cảm và cảm thông với những lữ khách từ Phù tang tới. Cuốn phim cũng như bài hát lại như một thiên tình ca, ca tụng mối tình Hoa- Nhật. Phải chăng đó là ý đồ của công ty sản xuất có tên là Manchuria Film Production (khi ấy Mãn châu quốc được Nhật lập ra vào 1932 với Phổ Nghi, vị vua cuối cùng của Thanh triều, trong kế hoạch Đại đông Á, được coi như bàn đạp để xâm chiếm Trung hoa).

Dân Hoa khi đó làm sao thông cảm được với một ca khúc trữ tình ca tụng Hoa Nhật, ru ngủ lòng yêu nước của người Hoa, với một mỹ nhân ai cũng tưởng là người Hoa, có giọng mê đắm của kẻ phản chiến. Rõ ràng là rơi vào luận điệu tuyên truyền của Nhật!

Vẻ đẹp thiên phú, cách nói Hán ngữ lưu loát, trôi chảy và giọng hát ngọt ngào của Lý Hương Lan nhanh chóng giúp cô trở thành tâm điểm chú ý trong giới nữ sinh thời bấy giờ. Với sự hỗ trợ đắc lực của quân đội Nhật, tên tuổi Lý Hương Lan nổi như cồn khi hát những ca khúc “Ngư gia nữ”, “Mạnh Khương nữ”, “Dạ lai hương”. Sau đó, nữ ca sĩ xinh đẹp tiếp tục biểu diễn những bài hát có nội dung tuyên truyền cho quân đội Nhật Bản và tham gia các vai diễn nặng ký trong một số phim ủng hộ Nhật. Những hoạt động này sẽ đem lại nhiều bất hạnh cho cuộc đời cô về sau.

Xem ra, Lý Hương Lan là một nghệ sĩ bị Nhật quân lợi dụng. Khi chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt, Lý Hương Lan lại càng dùng tiếng ca ngọt ngào, mê đắm của mình làm mềm lòng binh lính Trung Quốc. Mức độ ảnh hưởng và tiếng tăm của cô ngày càng vang xa. Cô được ví von là ngọc nữ Hollywood của châu Á, được người thời đó ca tụng là một trong “thất đại ca tinh”. Nhưng đằng sau ánh hào quang trải khắp sân khấu đại lục, Hong Kong, Nhật Bản, Lý Hương Lan vô tình trở thành một “viên đạn bọc đường” đầy lợi hại của quân đội Quan Đông.

Từ đó, khi chiến tranh kết thúc, Lý Hương lan bị buộc tội Hán gian và có nguy cơ bị đưa ra pháp trường xử bắn. Cái chết là cơn ác mộng của họ Lý. Vì ai cũng bảo Lý là người Hoa vì từ khuôn mặt, ngôn ngữ, cái tên, rõ ràng là một cô gái Trung quốc một trăm phần trăm. Chỉ trừ trường hợp cô chứng mình được mình không phải người Hoa, mới không phạm tội Hán gian.

Một quảng cáo bài Shina No Yoru

Mặc dù thực sự cô có bố mẹ người Nhật nhưng hồ sơ nào chứng mình vì mọi người đều biết cô có tên là Lý Hương Lan (con của Lý Tế Xuân) hoặc một cái tên khác là Phan Thục Hoa cũng là tên gái Hoa..
Thực ra ông họ Lý, và một người khác họ Phan, chỉ là cha đỡ đầu, và nữ ca sĩ Yoshiko Yamaguchi ra đời ngày 12 tháng 2, 1920 ở Liêu Ninh có cha mẹ ruột là người Nhật, Ai Yamaguchi và Fumio Yamaguchi. Nhờ được giáo dục trong môi trường Trung hoa, kể cả theo học ở Bắc Kinh, nên Yoshiko Yamaguchi mới trở thành một cô gái Trung Hoa, như ý đồ của bộ tuyên truyền của Nhật hoàng ngày ấy. Nhờ một nhân chứng còn giữ được bản gốc khai sinh của Lý Hương Lan nên cô mới ra khỏi nhà tù và bị tống về Nhật.
Sau khi Thế chiến thứ hai, bài hát vẫn tiếp tục được hát lại tại các quốc gia và vùng lãnh thổ đông người Trung Quốc sinh sống như Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia dưới nhiều tựa đề như “Xuân đích mộng”, “Xuân chi mộng” (春之夢), “Trung Quốc chi dạ” (中国之夜).

Trong chiến tranh Thái Bình Dương, lính Mỹ cũng nghe được bài hát này trên sóng phát thanh, đến khi chiến tranh kết thúc thì đĩa hát càng bán chạy.

Giấc mơ thành lập “Đại Đông á “của Nhật quân đã tan. Lý Hương Lan trở thành một nghệ sĩ tự do. Từ bỏ nghệ danh quen thuộc bao năm, Lý Hương Lan lấy lại tên gọi Yoshiko Yamaguchi và trở về Nhật Bản. Hậu chiến, Yamaguchi nằm trong số các nhà tài trợ cho một quỹ hối lỗi tư nhân dành cho các “an úy phụ” Châu Á, tức là các phụ nữ bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật trong thời chiến.

Tiểu truyện Lý Hương Lan của tác giả John Shubert

Yoshiko Yamaguchi có lúc nuôi ý định sang Hollywood phát triển sự nghiệp, nhưng về sau đành từ bỏ vì biến cố cá nhân. Năm 1958, Yoshiko Yamaguchi thực hiện giấc mơ tình ái với một quan chức ngoại giao và đổi tên thành Yoshiko Ōtaka. Năm 1969, người đàn bà tài sắc này xuất hiện rực rỡ trong vai trò MC trên Fuji TV. Sau đó, bà trở thành một thành viên Quốc hội và phục vụ cho chính phủ Nhật Bản trong suốt 18 năm. Năm 1978, nữ ca sĩ một thời trở lại Trung Quốc, thăm Bắc Kinh, Thượng Hải, Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, những nơi ghi dấu tuổi thanh xuân và thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp ca hát của mình. Những năm về sau, người phụ nữ ấy thầm lặng theo dõi từng bước tiến tốt đẹp trong mối quan hệ ngoại giao Trung – Nhật. Năm 1992, sau khi người chồng qua đời, bà sống một mình và vẫn giữ vai trò Phó Chủ tịch Quỹ phụ nữ châu Á với hy vọng đóng góp một phần cho những số phận bất hạnh, nhất là nạn nhân nữ giới khi quân đội Nhật khởi đầu cuộc binh biến ở Thái bình dương.

Cuộc đời chìm nổi của bà đã trở thành những câu chuyện truyền kỳ với người dân Nhật Bản và Trung Quốc. Giới hâm mộ ngày nay vẫn luôn nhớ tới bà như một minh tinh, một ca sĩ hết mình trên sân khấu nghệ thuật. Bản thân bà có thực sự làm gián điệp cho Nhật hay không, khó mà biết được!
Thời gian trôi nhanh, vào năm 2014, Ca sĩ kiêm diễn viên điện ảnh Yoshiko Yamaguchi, mà dân Nhật quen gọi à Rikoran, qua đời sau cơn đau tim tại tư gia ở Tokyo, thọ 94 tuổi.

Văn phòng của bà Yamaguchi cho biết bà đã vĩnh viễn nhắm mắt hôm 7 tháng 9 từ bỏ cõi đời đầy nghi kỵ.
Chu Nguyễn

Tin tức khác...