Rú Chá (kỳ 1)

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Khi nghe Rú Chá, tôi biết ngay “rú” là rừng. Người Trung thường hay nói “đi rú, vô rú”. Rú gần như phương ngữ của miệt từ Huế ra Nghệ Tĩnh.

“Chim bay về rú, về non, Cá kia về vực, anh còn đợi em.”

(Cadao)

Rú như hàm nghĩa rừng rậm, nơi vắng vẻ cách biệt. “Rừng rú” còn ám chỉ đời sống lạc hậu, thô thiển… Người ta thường mắng nhau “đồ rừng rú”, ý nói người ngu dốt lạc hậu, không biết gì vì suốt đời ở trong rú. Rừng núi nghe nhẹ hơn rừng rú. Riêng từ Chá thì không sao hình dung được là loại cây gì.

Trong những tài liệu của các tổ chức du lịch thì mô tả nghe khá hấp dẫn, đại loại như:

“Rú Chá thu hút rất đông du khách quốc tế, do vẻ đẹp nguyên sơ của nó.

Ðến đây, thuê một chiếc thuyền nan nhỏ, chèo thuyền len lỏi trong rừng, tự mình khám phá khu rừng nguyên sinh ngập tràn tiếng hót của chim muông quý hiếm.”(1)

Ðã từng một thời chơi cây kiểng, nuôi chim, dựng non bộ mà nghe câu “tán” như thế, làm sao bỏ qua cho đành. Và tôi đã đi tìm Rú Chá vào mùa nước năm ngoái.

Từ thành phố Huế về Thuận An theo QL 49, trước khi qua cầu Diên Trường có ngã ba rẽ trái (đi cầu Tam Giang) chừng hơn cây số qua cầu đập Thảo Long một đoạn, rẽ phải theo đường đê bê tông, đường vào rú Chá. Ngay đây du khách đã nhìn thấy một khu rừng lúp thúp cây xanh trong xa chừng vài trăm mét. Rú Chá ẩn sau một cồn mồ, nhiều ngôi mộ xây khá lớn, nhưng không có kiểu lâu đài tráng lệ như “Thành phố nghĩa địa An Bằng (2). Rú Chá nằm trong cửa biển Thuận An, tại thôn Thuận Hòa (xã Hương Phong, huyện Hương Trà), rú toàn một loại cây dân địa phương gọi là cây Chá, cây của rừng ngập mặn như Bần – Ðước – Mắm – Tràm. Khu rừng rộng chừng 5ha nằm bên bờ phá Tam Giang, nhìn qua làng Thai Dương Hạ.

Con đường bê tông tương đối rộng băng qua cánh đồng ngập nước, thôn quê có được con đường “về làng” vầy là khá lắm. Một bà bơi chiếc thuyền nan, một chị đạp xe về xóm, cảnh thanh bình êm ả của một miền quê không xa thành thị bao nhiêu. Một vẻ đẹp mộc mạc của quê hương muôn thuở.

Vào đến mé rú, cảnh vắng hoe, không người qua lại, không sinh hoạt gì ngoài hai người đang chặt cây làm củi.

Nhìn vào rú Chá thì thấy cây tương đối cao, nhưng cây bên vệ đường thì thấp chừng 3m. Tôi hỏi người đàn ông:

– Rú Chá chỗ mô rứa anh?

Anh ta chỉ vào khu rừng ngập nước: “Trong nớ tề”.

– Sao kêu Rú Chá hả anh?

– Từ hồi mô chừ người ta kêu rứa tui biết mô.

Ngay chỗ đi vào rú Chá có nhiều bụi Chá to cao, mỗi bụi ba bốn thân lớn, dường như hạt rụng từng chùm nên Chá mọc thành bụi. Quan sát kỹ không phải một gốc nhiều thân mà nhiều gốc chen nhau tròng tréo lộn xộn. Tuy nhiên tôi cũng mường tượng được vẻ đẹp của gốc Chá trong dáng thế của Bonsai, nếu gia công cắt tỉa thì sẽ có những gốc kiểng đẹp hiếm thấy. Có lẽ do người dân chặt nhánh liên tục, chẳng khác gì người chơi kiểng cắt tỉa để tạo dáng. Vô tình đã tạo cây Chá thành những Bonsai thiên nhiên có bộ gốc lạ kỳ.

Cây rừng ngập mặn xưa nay được biết đến nhiều là Ðước – Mắm – Bần, miền Tây còn có Tràm. Nếu so sánh với các loại cây trên thì Chá khác hẳn về ngoại hình: lá như lá đa, hoa chùm màu trắng, quả chùm mỗi cuống có quả nhỏ 3 khía như 3 viên bi kết với nhau, nhìn xa giống như quả sung, rễ phình ra ăn sâu dưới nước trong khi cây đước rễ chùm từ trên cao phủ xuống như một đầu tóc, hoa bần màu hồng nhụy vàng, quả lớn. Quả Chá chim không ăn, quả bần xanh nấu canh chua, hay để ăn sống chắm kèm mắm cá sặc, mắm rô, mắm lóc, mắm tôm… Vị chua, chát của bần hòa với vị mặn nồng của các loại mắm cá đồng, tạo nên món đặc trưng của vùng quê miền Tây sông nước.

Theo đồng bào miền Tây Nam Bộ, quả bần chín mềm và nhiều nước, đem dầm nấu canh chua với cá bông lau thêm ngò thơm, rau diếp là có ngay nồi canh bần hấp dẫn. Hoặc có thể dùng bần chín kho chung với cá. Khi kho cá gần chín tới cho nguyên trái bần vào, đến lúc ăn mới dầm ra. Nếu ăn hai món này vào mùa hè sẽ có tác dụng giải nhiệt rất tốt. Trái bần chín cũng được dầm với nước mắm, thêm ớt, đường, bột ngọt… dùng chấm rau muống luộc hay đọt rau lang. Người ta còn dùng lá non cây bần làm rau sống ăn hằng ngày.

Không vào được Rú Chá tôi quan sát vòng ngoài, chụp vài ảnh cận cảnh rồi chạy xe vào xóm trong, “thăm dân cho biết sự tình”.

Một xóm nghèo lưa thưa vài ba nhà, không vườn tược, nhà ở là những túp lều tranh, tôn xiêu vẹo. Tuy cảnh nghèo nhưng nhà nào cũng có hai cây rơm to đùng, lệ thường phải là địa chủ thời trước mới có cây rơm như vậy. Có một bà đang cho gà ăn, trước sân hai con trâu nằm nhai cỏ, tôi hỏi:

– Xóm mình hình như ít nhà bác hả?

– Có 7 nhà thôi chú ơi. Trước tê cả xóm đông nhưng họ dọn đi nơi khác hết vì sợ nghi nuôi việt cộng.

– Ðường ni ra tới mô bác?

– Ra cầu Ca Cút đi lên Dừa (Thai Dương Hạ).

– Ðường ni là đập ngăn nước mặn phá Tam Giang?

– Phải.

– Chỗ ni không thấy ruộâng răng nhà mô cũng hai cây rơm bự rứa bác?

– Ngoài đường cái ruộng biết mấy, rơm ni mua về dành cho trâu ăn.

– Xóm tên chi bác hè?

– Xóm Bà Ham.

– Rú Chá ngập nước mần răng vô được bác?

– Mùa khô đi bộ vô được, trong nớ có chi mà vô?

– Răng nghe nói trong Rú Chá đẹp, du khách tới thăm nhiều?

– Có mô.

– Ở đây mùa lụt nước lên cao không bác?

– Lên ngang đường thôi.

Tôi chỉ vào cái am nhỏ bên đường hỏi thờ ai, người đàn bà bảo “am mấy ông thợ xây làm lâu rồi, không biết nữa”.

Ðúng là miếu lâu ngày, cây bồ đề rễ bám gần trùm ngôi miếu, một bé chăn đang ngồi nhìn đàn trâu xuống sông tắm trước khi về chuồng, ngoài xa có chiếc thuyền hai người đang thả câu (?). Kế bên nhà nuôi gà là nhà nuôi vịt, vẻ nghèo khổ còn rõ hơn, nhà ở mà trống trơn xiêu vẹo chẳng khác gì chòi chăn vịt. Chạy hết con đê ngăn mặn gặp lại QL2, tôi quay về, hẹn qua mùa khô sẽ trở lại vào Rú Chá.

Trời chiều cảnh vắng, tôi chợt nghĩ đến đời sống hiu quạnh nơi xóm Bà Ham, đêm khuya có chuyện bất trắc kêu ai, lại nằm bên bờ phá Tam Giang, mùa gió bão sẽ thế nào. Người xưa đã từng sợ, “Sợ truông nha Hồ, sợ phá Tam Giang”. Ngày nay (thế kỷ 21), VN đã “vươn lên tầm cao, đã bơi ra biển lớn”, đã có những “công trình hàng đầu thế kỷ”, tượng “Mẹ anh hùng”, rồi tháp truyền hình 636m kỷ lục thế giới, nay mai lại thêm tượng 1400 tỷ ở Lào Cai, dân Việt rất nên “tự hào”.

Khổ nổi bọn “tư bản phản động” của cư dân mạng cứ rêu rao “người Việt xấu xí” khắp nơi. Ngay như đài BBC, trưởng ban Việt ngữ là người “ruột” của nhà nước xhcn VN mà cũng báo động vấn đề này thì thế giới còn ai không biết.

Nghĩ cho cùng thì các “cơ quan chức năng” đều biết, nhưng chữa trị cách nào? Một vị tướng đã “bức xúc” về vấn đề mất dần biển đảo, đã to tiếng “Ai giỏi thì vào mà giành lại”. Ðộc quyền cai trị mà lúc kẻ cướp vô nhà lại thách đố dân! Sợ một ngày kia, “bệnh nặng thêm”, người Việt không những “xấu xí” mà còn “hèn mạt, gian manh, đê tiện, mọi rợ…” thì cho dù theo lời ông tướng S bảo con cháu lo lấy, chắc con cháu lúc ấy chỉ còn nước khóc cho “gia tài của mẹ” mà thôi…

Trần Công Nhung

552-h6 552-h2 552-h3 552-h4 552-h5

__________________________________

(1) Tôi đã nhiều lần thất vọng nghe theo các “nhà văn”, thực tế khi đến nơi chẳng hề thấy những điều “nhà văn” mô tả.

 

Tin tức khác...