NHỮNG NHÂN CHỨNG SAU CÙNG

Lời người dịch: Chào đời ở Ukraine, làm đặc phái viên cho tạp chí văn chương Nyoman ở Minsk. Trong thời gian hành nghề ký giả, bà thu thập chuyện kể về những biến cố lớn lao trong lịch sử Liên Xô: Thế Chiến II, chiến tranh Afghanistan, sự tan rã của Liên Bang Xô-Viết, tai họa Chernobyl… và đem vào tác phẩm qua một thể loại mà bà gọi là văn chương dữ liệu (documentary literature.)
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định trao giải Nobel Văn Chương cho bà vì bà đã sáng tạo ra một thể loại văn chương mới, và mô tả tác phẩm của bà như “lịch sử của những cảm xúc… lịch sử của linh hồn.”
Là nhà báo đầu tiên được trao giải Nobel Văn Chương (2015), bà phủ nhận ý nghĩ cho rằng bà là nhà báo, và, đúng như vậy, thể loại bà chọn (documentary literature) là một cách diễn tả những sự kiện có thật qua mắt nhìn nghệ thuật, và đầy hơi hướm thi ca.
Tác phẩm Những Nhân Chứng Cuối Cùng: Những câu chuyện về Thế Chiến II qua mắt nhìn trẻ em ghi lại lời kể của những người đã đối mặt chiến tranh, đã cận kề cái chết khi họ còn là những đứa bé. Nguyên tác: Last witnesses: an oral history of the children of World War II. Random House (New York) xuất bản năm 2019. ISBN: 9780399588754
Trong số báo này, chúng tôi gửi đến độc giả Thời Báo bản tiếng Việt hai chương đầu tiên: He was afraid to look back… và My first and last cigarette.

“Ông không dám quay lại nhìn…”
Zhenya Belkevich
Sáu tuổi. Hiện giờ là công nhân
Tháng sáu 1941.
Tôi vẫn còn nhớ. Lúc ấy tôi còn nhỏ lắm, nhưng tôi nhớ tất cả mọi chuyện.
Điều cuối cùng tôi nhớ về một cuộc sống yên ổn là một chuyện cổ tích mẹ vẫn đọc cho tôi nghe mỗi tối. Tôi thích nhất chuyện Con Cá Vàng. Muốn xin gì thì tôi lại hỏi Cá Vàng: “Cá Vàng ơi… Cá Vàng thân mến ơi…” Em gái tôi cũng xin. Nhưng hỏi cách khác: “Theo lệnh của cá măng, điều tôi thích là…” Chúng tôi muốn nghỉ hè ở nhà bà ngoại và muốn bố đi cùng. Đi với bố vui lắm.
Buổi sáng tôi thức dậy trong sợ hãi. Có những tiếng động lạ…
Bố mẹ tưởng chúng tôi vẫn còn ngủ, nhưng nằm bên em gái, tôi chỉ giả vờ ngủ. Tôi thấy bố hôn mẹ một lúc lâu, hôn mặt rồi hôn tay mẹ, và tôi thắc mắc trước đây bố không bao giờ hôn mẹ như thế. Hai người đi ra ngoài, tay trong tay. Tôi chạy ra cửa sổ – mẹ níu lấy người bố không cho bố đi. Bố gỡ tay mẹ ra và tuông chạy, mẹ chạy theo kịp, níu bố lại và hét lên câu gì đó.
Trong này tôi cũng hét lên: “Bố ơi! Bố ơi!”
Em gái và em trai Vasya của tôi thức dậy, em gái tôi thấy tôi khóc, nó cũng khóc theo, và gào lên: “Bố ơi!”
Chúng tôi chạy ra hàng ba, đua nhau gào: “Bố ơi!”
Bố nhìn thấy chúng tôi, và tôi nhớ hệt như mới hôm qua, ông ôm lấy đầu và bước đi, vội vã như đang chạy. Ông không dám nhìn lại.

Nắng chiếu vào mặt tôi. Tia nắng ấm áp. Và ngay cả bây giờ tôi vẫn không tin là buổi sáng hôm ấy bố tôi đi vào cuộc chiến. Tôi còn nhỏ lắm, nhưng tôi cũng nhận ra là tôi nhìn bố tôi lần cuối. Rằng tôi sẽ không bao giờ gặp bố tôi nữa.
Tôi còn nhỏ, rất nhỏ.

Và nó in đặm trong trí nhớ tôi, rằng chiến tranh là khi bố tôi không còn…

Rồi tôi nhớ: bầu trời đen và những chiếc máy bay màu đen. Mẹ tôi nằm bên đường hai cánh tay buông xuôi. Chúng tôi kêu mẹ đứng dậy, nhưng mẹ không đứng dậy. Mẹ không dậy nữa. Những người lính phủ tấm vải bạt lên người mẹ và chôn mẹ dưới cát, ngay chỗ đó.
Chúng tôi gào thét, năn nỉ: “Đừng vùi mẹ chúng cháu dưới đất. Mẹ sẽ thức dậy để tiếp tục đi với chúng cháu.”
Những con bọ hung to bò trên cát. Tôi không thể tưởng tượng làm cách nào mẹ tôi có thể sống với chúng nó ở dưới đất. Làm sao chúng tôi có thể tìm được mẹ, làm sao để gặp mẹ? Rồi ai sẽ viết thư cho bố đây ?

Một trong những người lính hỏi tôi: “Cháu gái, tên cháu là gì?” Nhưng tôi quên mất rồi. “Thế họ của mẹ cháu là gì hở cháu gái? Tên của mẹ cháu là gì?” Tôi không nhớ. Chúng tôi ngồi bên mô đất của mẹ cho tới khi đêm xuống, cho tới khi người ta kéo chúng tôi lên một chiếc xe bò. Chiếc xe đầy trẻ con. Một ông già đánh xe, ông ta gom tất cả mọi người trên đường. Chúng tôi đến một ngôi làng lạ lẫm và những người lạ đón chúng tôi đến những căn nhà khác nhau.
Biết bao lâu tôi không nói năng gì hết. Tôi chỉ nhìn.
Rồi tôi nhớ. Mùa hè. Mùa hè rực rỡ. Người đàn bà lạ xoa đầu tôi. Tôi bắt đầu khóc. Và tôi bắt đầu nói…
Bắt đầu kể về mẹ, về bố. Về bố chạy trốn chúng tôi như thế nào và bố không dám quay đầu lại nhìn. Mẹ nằm như thế nào. Những con bọ hung bò trên cát ra sao…
Người đàn bà xoa đầu tôi. Trong giây phút ấy tôi nhận ra: trông bà giống mẹ tôi…

“Điếu thuốc đầu tiên và cuối cùng của tôi…”
Gene Yushkevich
12 tuổi. Hiện giờ là ký giả.
Buổi sáng ngày đầu tiên của cuộc chiến.
Chỉ có nắng. Và sự im lặng khác thường.
Sự im lặng không thể nào hiểu nổi.
Láng giềng của chúng tôi, bà vợ một sĩ quan, bước ra ngoài sân, đầm đìa nước mắt. Bà thì thầm gì đó với mẹ tôi, nhưng bà ra dấu là phải im lặng. Mọi người đều sợ nói lớn tiếng về những gì đang xảy ra, ngay cả khi họ đã biết rồi, bởi có người nào đó đã nhận được tin. Nhưng họ sợ là sẽ bị kết tội xách động. Tội gây hoang mang. Điều đó còn đáng sợ hơn chiến tranh. Họ sợ: đó là điều bây giờ tôi nghĩ. Và dĩ nhiên là chẳng ai tin. Cái gì? Quân mình đang ở biên giới, các lãnh tụ của chúng ta đang ở Điện Kremlin! Tổ Quốc của chúng ta được bảo vệ, không kẻ thù nào có thể xâm lấn được!
Lúc ấy tôi nghĩ như thế. Tôi là Thiếu Niên Tiền Phong mà.

Chúng tôi lắng nghe radio. Chờ diễn văn của Stalin. Chúng tôi cần giọng nói của ông. Nhưng Stalin im lặng. Rồi Molotov đọc diễn văn. Mọi người lắng nghe. Molotov nói, “Chiến tranh đã khởi sự.”
Vẫn không có ai tin. Stalin đâu rồi?
Máy bay bay trên bầu trời thành phố. Hàng tá những chiếc máy bay xa lạ. Với hình chữ thập trên cánh, che kín cả mặt trời.
Khủng khiếp! Bom rơi xuống như mưa. Những tiếng nổ liên tục không ngừng. Rầm rộ. Mọi thứ xảy ra như trong giấc mơ. Chứ không phải trong đời thường.
Tôi không còn bé nữa. Tôi nhớ cảm giác của mình. Nỗi sợ hãi của tôi, tràn ngập khắp thân thể tôi. Thấm vào tất cả những lời tôi nói. Chúng tôi chạy ra khỏi nhà, chạy đi đâu đó ở ngoài đường. Có vẻ như thành phố không còn ở đó nữa, chỉ còn sự đổ vỡ tan hoang.
Khói. Lửa. Ai đó bảo mình phải chạy ra nghĩa trang, bởi vì chúng nó không ném bom nghĩa trang. Ai lại đi ném bom người chết? Trong xóm chúng tôi có một nghĩa trang Do Thái thật lớn với đầy những cây cổ thụ. Và mọi người chạy tới đó, hàng ngàn người tụ lại ở đó. Họ ôm lấy những đài tưởng niệm, họ trốn sau những bia mộ.
Mẹ tôi và tôi ngồi đó đến tối mịt. Chung quanh, không có ai mở miệng nhắc tới chiến tranh. Tôi nghe một chữ khác: khiêu khích. Mọi người nhắc đi nhắc lại chữ ấy. Địch quân khiêu khích. Mọi người nói chẳng bao lâu nữa quân mình sẽ phản công. Stalin đã ra lệnh rồi. Mọi người tin điều đó.
Nhưng còi báo động trên những ống khói ở ven biên thành phố Minsk hú suốt đêm.
Cái chết đầu tiên…
Kẻ chết đầu tiên tôi thấy là một con ngựa. Rồi một người đàn bà chết. Điều đó làm tôi ngạc nhiên. Bởi tôi tưởng chiến tranh thì chỉ có đàn ông mới bị giết.
Tôi thức dậy vào buổi sáng. Tôi muốn nhảy ra khỏi giường, rồi tôi sực nhớ đang có chiến tranh, và tôi nhắm mắt. Tôi cũng không muốn tin điều đó.
Không còn tiếng súng trên đường phố. Đột nhiên mọi sự đều yên lặng. Trong vòng vài ngày tất cả đều yên lặng. Rồi bỗng dưng lại lao xao…
Đây rồi, một người trắng, trắng cả người, trắng từ đầu tới chân. Bột phủ kín người. Ông ta khiêng cái bọc trắng. Một người khác chạy vùn vụt. Những ống lon từ trong túi văng ra, ông ta ôm những cái lon trong tay. Kẹo. Gói thuốc hút. Một người nào đó ôm cái mũ đựng đầy đường cát. Một lọ đường. Không thể nào diễn tả được! Một người ôm cuộn vải, một người khác quấn quanh người vải trúc bâu xanh dương. Vải trúc bâu đỏ. Nhìn buồn cười, nhưng không ai cười. Kho lương thực đã bị trúng bom. Một cửa tiệm lớn không xa nhà chúng tôi bao nhiêu.
Mọi người ùa tới vơ vét những gì còn sót lại. Ở nhà máy đường vài người đàn ông chết đuối trong những vạc si-rô. Thật khủng khiếp! Cả thành phố rắc đầy hạt hoa hướng dương. Người ta tìm thấy nhà kho hạt giống hoa hướng dương ở đâu đó. Trước mắt tôi một người đàn bà chạy tới một cửa tiệm. Bà ta không mang gì theo: không có túi cũng không có bọc. Thành ra bà ta cởi quần lót, cởi vớ. Bà dồn đầy bột lúa kiều mạch trong đó. Khiêng đi. Tất cả xảy ra trong yên lặng vì lý do nào đó. Không ai nói một lời.
Khi tôi gọi mẹ tôi, thì chỉ còn một ít mù tạt, những hũ mù tạt màu vàng. “Đừng lấy gì hết,” mẹ tôi năn nỉ. Sau đó mẹ nói với tôi là mẹ thấy xấu hổ, bởi vì suốt đời mẹ, mẹ dạy tôi khác hẳn. Ngay cả khi chúng tôi sắp chết đói và nhớ lại những ngày đó, chúng tôi vẫn không hối tiếc điều gì. Mẹ tôi vẫn thế.
Trong khu phố, lính Đức thoải mái đi dạo trên đường phố của chúng tôi. Họ quay phim mọi thứ. Cười đùa. Trước chiến tranh chúng tôi có một trò chơi thích thú. Chúng tôi vẽ hình người Đức. Chúng tôi vẽ họ có những cái răng thật to. Răng nanh. Và bây giờ họ ở khắp chung quanh. Trẻ trung, đẹp trai. Với những trái lựu đạn đẹp mắt gài vào phía trên đôi giầy bốt vững chãi của họ. Họ chơi khẩu cầm. Ngay cả chọc ghẹo những cô gái đẹp của chúng tôi.
Một người Đức lớn tuổi kéo lê một cái thùng. Cái thùng nặng trĩu. Ông ta ngoắc tay và ra dấu cho tôi: giúp tôi. Cái thùng có hai tay cầm, chúng tôi mỗi người khiêng một bên. Khi chúng tôi khiêng cái thùng tới cái nơi mà người ta muốn, người lính Đức vỗ vai tôi và lấy một gói thuốc lá từ túi ông ta. Nghĩa là trả công cho bạn đây.
Tôi về nhà. Tôi không thể chờ, tôi ngồi trong bếp và mồi một điếu thuốc. Tôi không nghe tiếng cửa mở và mẹ tôi bước vào.
“Hút thuốc đấy à?”
“Ơ…”
“Thuốc lá gì vậy?”
“Đức.”
“A! Mày hút thuốc, mà lại là thuốc của kẻ thù. Như vậy là phản bội Tổ Quốc đấy con ạ.”
Đó là điếu thuốc lá đầu tiên và cũng là điếu thuốc lá cuối cùng của tôi.

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính

Tin tức khác...